Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810
Hỏi đáp của tailieu123
Số câu hỏi : 72 Chưa có người trả lời : 0
Số câu đang bình : 72 Số câu hỏi bị cộng đồng ném đá : 0
Số câu trả lời : 0 Trả lời bị cộng đồng ném đá : 0
Số câu trả lời hay nhất : 0  
Tổng điểm : 5105 P Đang ở cấp bậc: Đá (Stone)
Theo S.Mishkin (2004): “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên

Theo S.Mishkin (2004): … “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”
Hãy dùng lý thuyết
thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên và nêu ra các giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh?

Thời gian còn lại : 10 ngày 15 giờ

theo s.mishkin (2004): … “co phieu khong phai la hinh thuc tai tro von quan trong hon cac trung gian tai chinh doi voi cac doanh nghiep”… hay dung ly thuyet thong tin bat can xung de binh luan nhan dinh tren va neu ra cac giai phap de giup he thon



Ngày 11/03/2017   -  Còn 16 ngày để đánh giá   -  Những câu trả lời hay nhất

Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng)

Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984) dự đoán không có cơ cấu nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng.

Giả thuyết rằng ban quản trị biết về hoạt động tương lai của doanh nghiệp nhiều hơn các nhà đầu tư bên ngoài (thông tin không cân xứng) và việc quyết định tài chính có lẽ cho biết mức độ kiến thức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lưu lượng tiền mặt tương lai.

Khi ban quản trị tin tưởng cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, họ có thể phát hành chứng khoán (nguồn tài chính bên ngoài). Vì thế, khi doanh nghiệp đi theo thị trường vốn bên ngoài, những thị trường này chấp nhận cổ phiếu được đánh giá cao hơn là đánh giá thấp, và vì vậy, hoạt động này sẽ chuyển tải thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư. Kết quả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi theo các thị trường vốn (nguồn tài chính bên ngoài). Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ phát sinh nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao.

Vì vậy, sự phát hành vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ chuyển tải nhiều thông tin không thuận lợi hơn là sự phát hành tiền cho vay. Điều này khiến các nhà quản trị quan tâm đến tiền cho vay hơn là vốn cổ phần từ việc bán cổ phiếu.

Những quyết định về kết cấu vốn không dựa trên tỷ lệ Nợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng thị trường. Trước hết, các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn tài chính nội bộ, tiếp đến có thể phát hành tiền cho vay, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần.

Tiêu điểm của thuyết này không tập trung vào kết cấu vốn tối ưu nhưng tập trung vào sự quyết định tài chính hiện hành sắp tới.

Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}

Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu với các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, tài trợ bằng nợ rẻ hơn vốn cổ phần. Trong trường hợp này, “chi phí” được đề cập ở đây chính là chi phí có thể đo lường được cho việc huy động vốn tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp. Với nợ, đó chính là chi phí lãi vay mà doanh nghiệp phải trả cho khoản vay của mình. Với vốn cổ phần, chi phí sử dụng vốn được hiểu như là quyền đối với thu nhập phải đủ thỏa mãn được các cổ đông khi họ quyết định góp vốn vào công ty.

Ví dụ, nếu bạn điều hành một doanh nghiệp nhỏ và cần tài trợ khoảng $40,000, bạn có thể hoặc là đi vay ở ngân hàng số tiền $40,000 với lãi suất 10% hoặc bạn có thể bán 25% cổ phần doanh nghiệp cho người hàng xóm với giá $40,000.

Giả sử trong năm sau đó, doanh nghiệp của bạn có thể tạo ra được lợi nhuận hoạt động là $20,000. Nếu ban đầu bạn quyết định đi vay ở ngân hàng với chi phí lãi vay (hay còn gọi là chi phí tài trợ của nợ) sẽ là $4,000, bạn còn lại lợi nhuận $16,000. Ngược lại, nếu bạn đã sử dụng tài trợ vốn cổ phần, nghĩa là bạn không hề có nợ và dĩ nhiên là không có chi phí lãi vay nhưng bạn chỉ được nắm giữ 75% lợi nhuận của doanh nghiệp thôi (25% khác thuộc sở hữu của người hàng xóm nhà bạn). Do đó, lợi nhuận của bạn bây giờ chỉ có $15,000 (tức 75%*$20,000)


Do đó, cũng dễ hiểu khi các cổ đông sáng lập của công ty quyết định lựa chọn phát hành nợ chứ không phải vốn cổ phần. Thuế cũng là một yếu tố giúp cho tình huống phát hành nợ trở nên tốt hơn. Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ, bởi vì chi phí lãi vay được khấu trừ ra khỏi thu nhập hoạt động trước khi thu nhập bị đánh thuế, do đó chính hành động đã đem đến cho doanh nghiệp lợi ích tấm chắn thuế từ nợ.

Dĩ nhiên, lợi ích của tài trợ nợ với lãi suất cố định đôi khi lại có thể là điểm bất lợi. Bởi vì nợ được xem là chi phí tài chính cố định, dù doanh nghiệp của bạn có hoạt động ra sao, thu nhập nhiều hay thậm chí đang thua lỗ thì doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo việc trả lãi vay đúng kỳ hạn và trả nợ gốc khi đáo hạn, do vậy một sự gia tăng nợ của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với việc gia tăng thêm rủi ro tài chính.

Quay trở lại ví dụ trên, giả sử trong năm sau, công ty của bạn chỉ tạo ra được có $5,000. Với tài trợ nợ, bạn có thể vẫn có cùng $4,000 lãi vay phải trả và vì vậy lợi nhuận của bạn chỉ còn lại $1,000 ($5,000 -$4,000). Trong trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng vốn cổ phần, tức là bạn không hề phải trả một đồng lãi vay nào hết, thì bạn vẫn có 75% lợi nhuân tương đương với $3,750 (75% x $5,000).

Do vậy, đối với một công ty được kỳ vọng làm ăn tốt thì tài trợ nợ có thể được sử dụng thường xuyên với mức chi phí thấp hơn so với tài trợ bằng vốn cổ phần. Tuy nhiên, nếu giai đoạn nào công ty không thể vận hành tốt để tạo ra lượng tiền mặt đủ lớn, thì chi phí lãi vay lúc này có thể là một gánh nặng. Đây chính là mặt trái của việc tài trợ hoạt động doanh nghiệp bằng nợ. Từ đây có thể thấy, dù nợ có chi phí rẻ hơn vốn cổ phần, doanh nghiệp nào cũng có thể hiểu được điều này, nhưng thời điểm nào thì sử dụng nợ là hợp lý? Hợp lý ở đây có nghĩa là tận dụng được tối đa lợi ích của nợ, tận dụng tối đa lợi ích từ đòn bẩy tài chính từ nợ. Khi nào thì doanh nghiệp nên vay nợ và vay nợ bao nhiêu là thích hợp?

Dễ thấy, các doanh nghiệp không bao giờ có thể chắc chắn 100% về lượng thu nhập trong tương lai (mặc dù họ có thể có những dự đoán hợp lý) và khi thu nhập tương lai của các doanh nghiệp càng không ổn định thì rủi ro càng tăng lên. Do đó, các doanh nghiệp trong ngành có rủi ro kinh doanh thấp, có dòng tiền ổn định thường sử dụng nợ nhiều hơn là các doanh nghiệp trong các ngành nhiều rủi ro hơn. Các doanh nghiệp nhỏ hoặc mới bắt đầu hoạt động, đang trong giai đoạn khởi nghiệp cũng sử dụng nợ rất ít, nếu không muốn nói là không có sử dụng nợ. Các doanh nghiệp mới với sự không chắc chắn cao có thể phải trải qua một thời gian đầy khó khăn để tìm được tài trợ bằng nợ vay, nên thường thì các hoạt động của chúng hầu hết được tài trợ bằng vốn cổ phần.

Ở Việt Nam, nhắc đến nợ, người ta thường có tâm lý e dè, nhất là đối với các doanh nghiệp đang trong thời kỳ “sung mãn”, lượng tiền mặt vô cùng dư thừa thì dường như họ lại càng không quan tâm đến nợ. Sau 7 năm TTCKVN ra đời, đi vào hoạt động và đạt được sự phát triển như hôm nay thì để giải quyết bài toán thiếu vốn, doanh nghiệp niêm yết thường chọn giải pháp vốn cổ phần chứ không mấy mặn mà với việc sử dụng tài trợ bằng nợ. Các doanh nghiệp dường như đã quên đi lợi ích từ việc sử dụng đòn bẩy tài chính. Hi vọng trong tương lai không xa, vấn đề tài trợ bằng nợ sẽ được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thỏa đáng và đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc sử dụng nợ. Phát hành trái phiếu doanh nghiệp cũng là một hình thức vay nợ của doanh nghiệp.

Giải pháp để giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh

 

 Doanh nghiệp và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến “sức khỏe” của các ngân hàng. Sau đây là một số giải pháp giúp hệ thống các ngân hàng thương mại phát triển bền vững và lành mạnh trong việc cho vay đối các doanh nghiệp:

 

- Thẩm định tốt các doanh nghiệp vay vốn bao gồm thẩm định năng lực tài chính thông qua báo cáo tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp tự đánh giá năng lực tài chính của công ty từ đó tính toán hạn mức nhu cầu vốn vay thật sự của doanh nghiệp tránh tình trạng doanh nghiệp vay số tiền vượt nhu cầu thật sự của mình dẫn đến áp lực trả nợ cao. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng cẩn phải thẩm định tính pháp ly doanh nghiệp, người đại diện công ty trước pháp luật, trụ sở, chi nhánh nhà xưởng máy móc thiết bị để biết được quy mô hoạt động của doanh nghiệp, quy trình sản xuất cũng như hoạt động tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Ngoài ra, thẩm định tài sản (đối với trường hợp vay thế chấp) cũng là một việc quan trọng vì đây là “chốt chặn cuối cùng” phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng. Việc thẩm định phải đảm bảo nguyên tắc “an toàn” và không chịu áp tăng trưởng dư nợ cũng như áp lực từ phía khách hàng.

 

- Theo sát dòng tiền của doanh nghiệp sau khi cho vay để có những xữ lý kịp thời cũng nhu cung cấp các sản phẩm dịch vụ phù hợp cho doanh nghiệp. Ví dụ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại có uy tín thì ngân hàng có thể hỗ trợ vốn vay bằng cách cung cấp sản phẩm chiết khấu hoặc bao thanh toán nhằm hỗ trợ khả năng thanh toán cho doanh nghiệp. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp được phép vay tín chấp thì viêc theo sát dòng tiền là điều kiện tiên quyết bắt buộc đối với ngân hàng để phòng ngừa rủi ro.

 

- Bảo mật thông tinbáo cáo tài chính của doanh nghiệp đang vay vốn tại ngân hàng. Tránh những tiết lộ gây ảnh hưởng đền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

 

- Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau cho vay.

 

 

- Đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ để thực hiện tốt công tác thẩm định và chăm sóc khách hàng.

 

 

- Thiết kế các sản phẩm dịch vụ phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp và nhu cầu của họ.

 

- Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập và có tiềm năng phát triển.

 

 

- Cân đối lãi suất huy động và cho vay hợp lý để đảm bảo tính thanh khoản và tăng trưởng dư nợ bền vững.

 

 

 

Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định . Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của kho trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao.

 

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin hơn. Đây chính là vấn đề bất cân xứng về thông tin trong các hoạt động của nền kinh tế.

 

Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard). Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn.

0 Người đánh giá câu trả lời này hay nhất

Theo S.Mishkin (2004): “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên

tailieu123

| sách | lịch sử 6 | tìm ước chung của n 3 và 2n 5 | tôi muốn hỏi 1 bài tập | Cho hình thoi ABCD có AB=8cm, góc ADC=120 độ, kẻ BE và BF vuông góc với AD và DC ở E và F.a) Tính BD, AE, DF; b) Chứng minh rằng tam giác BEF đều |


Khu vực quy định Quy Định về hỏi đáp- Guide about asking_answering

Tìm bài thi Hỏi đáp Liên Hệ Tài liệu trên internet Tin giáo dục Quy định Luật Pháp

Theo S.Mishkin (2004): “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên , tailieu123

Theo S.Mishkin (2004): “Cổ phiếu không phải là hình thức tài trợ vốn quan trọng hơn các trung gian tài chính đối với các doanh nghiêp”… Hãy dùng lý thuyết thông tin bất cân xứng để bình luận nhận định trên , tailieu123

Quy Định về hỏi đáp- Guide about asking_answering

theo s.mishkin (2004): … “co phieu khong phai la hinh thuc tai tro von quan trong hon cac trung gian tai chinh doi voi cac doanh nghiep”… hay dung ly thuyet thong tin bat can xung de binh luan nhan dinh tren va neu ra cac giai phap de giup he thon

Đăng nhập tài khoản
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 507
Hôm nay:38706
Hôm qua: 76502
Trong tháng 1760497
Tháng trước2104207
Số lượt truy cập: 88910017