Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII chiều ngày 11/06/2014 lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII chiều ngày 11/06/2014

Lượt xem: 748 Tin đăng ngày: 11/06/2014 Bởi:

Nội dung: Quốc hội nghe Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu; Thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm; Thảo luận ở hội trường về dự án Luật tiếp công dân. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì điều khiển nội dung, Buổi sáng ngày 11/06/2013

 BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG

  (Ghi theo băng ghi âm)

 Buổi sáng ngày 11/06/2013

 

 

Nội dung:

Quốc hội nghe Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu;
Thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm;
Thảo luận ở hội trường về dự án Luật tiếp công dân.

Chủ tịch Quốc hội  Nguyễn Sinh Hùng chủ trì

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì điều khiển nội dung

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Thưa Quốc hội,

Đến giờ này kết quả kiểm phiếu đã được hoàn chỉnh. Tôi xin mời đồng chí Trưởng ban kiểm phiếu thay mặt Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu về việc lấy phiếu tín nhiệm.

 

Đỗ Văn Chiến - Trưởng ban kiểm phiếu

Kính thưa Quốc hội,

Thay mặt Ban kiểm phiếu, tôi xin báo cáo Quốc hội kết quả kiểm phiếu.

Biên bản kiểm phiếu đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Ngày 10 tháng 6 năm 2013, Ban kiểm phiếu chúng tôi gồm 29 thành viên, do ông Đỗ Văn Chiến, đại biểu đoàn Yên Bái làm Trưởng ban, đã tiến hành kiểm phiếu và lập biên bản xác định kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Cụ thể như sau:

Tổng số đại biểu Quốc hội 498 người, do vậy tất cả các số liệu so sánh sau đây là so với tổng số đại biểu Quốc hội. Kết quả cụ thể như sau:

1. Ông Trương Tấn Sang - Chủ tịch nước

Số phiếu hợp lệ: 491

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 330, chiếm 66,27%

Số phiếu tín nhiệm: 133, chiếm 26,71%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 28, chiếm 5,62%.

2. Bà Nguyễn Thị Doan - Phó Chủ tịch nước

Số phiếu hợp lệ: 491

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 263, chiếm 52,81%

Số phiếu tín nhiệm: 215, chiếm 43,17%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 13, chiếm  2,61%

3. Ông Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 328 chiếm 65, 86%.

Số phiếu tín nhiệm: 139 phiếu, chiếm 27,91%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 25 phiếu, chiếm 5,02%.

4. Ông Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 323 phiếu, chiếm 64, 86%.

Số phiếu tín nhiệm: 155 phiếu, chiếm 31,12%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 13 phiếu, chiếm 2,61%.

5. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Phó Chủ tịch Quốc hội.

Số phiếu hợp lệ: 490 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 2 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 372 phiếu, chiếm 74, 7%.

Số phiếu tín nhiệm: 104 phiếu, chiếm 20,88%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 14 phiếu, chiếm 2,81%.

6. Bà Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Quốc hội.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 322 phiếu, chiếm 64, 66%.

Số phiếu tín nhiệm: 145 phiếu, chiếm 29,12%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 24 phiếu, chiếm 4,82%.

7. Ông Huỳnh Ngọc Sơn - Phó Chủ tịch Quốc hội.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 252 phiếu, chiếm 50, 6%.

Số phiếu tín nhiệm: 217 phiếu, chiếm 43,57%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 22 phiếu, chiếm 4,42%.

8. Ông Phan Xuân Dũng - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 234 phiếu, chiếm 46, 99%.

Số phiếu tín nhiệm: 235 phiếu, chiếm 47,19%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 22 phiếu, chiếm 4,42%.

9. Ông Nguyễn Văn Giàu - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 273 phiếu, chiếm 54, 82%.

Số phiếu tín nhiệm: 204 phiếu, chiếm 40,96%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 15 phiếu, chiếm 3,01%.

10. Ông Trần Văn Hằng - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 253 phiếu, chiếm 50, 8%.

Số phiếu tín nhiệm: 229 phiếu, chiếm 45,98%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 9 phiếu, chiếm 1,81%.

11. Ông Phùng Quốc Hiển - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, ngân sách.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 291 phiếu, chiếm 58, 43%.

Số phiếu tín nhiệm: 189 phiếu, chiếm 37,95%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 11 phiếu, chiếm 2,21%.

12. Ông Nguyễn Văn Hiện - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 210 phiếu, chiếm 42, 17%.

Số phiếu tín nhiệm: 253 phiếu, chiếm 50,8%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 28 phiếu, chiếm 5,62%.

13. Ông Nguyễn Kim Khoa - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 267 phiếu, chiếm 53, 61%.

Số phiếu tín nhiệm: 215 phiếu, chiếm 43,17%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 9 phiếu, chiếm 1,81%.

14. Ông Phan Trung Lý - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 294 phiếu, chiếm 59, 04%.

Số phiếu tín nhiệm: 180 phiếu, chiếm 36,14%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 18 phiếu, chiếm 3,61%.

15. Bà Trương Thị Mai - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 335, chiếm 67,27%

Số phiếu tín nhiệm: 151, chiếm 30,32%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 6, chiếm 1,2%.

16. Bà Nguyễn Thị Nương - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Trưởng Ban công tác đại biểu

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 292, chiếm 58,63%

Số phiếu tín nhiệm: 183, chiếm 36,75%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 17, chiếm 3,41%.

17. Ông Nguyễn Hạnh Phúc - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Trưởng đoàn thư ký kỳ họp.

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 286, chiếm 57,43%

Số phiếu tín nhiệm: 194, chiếm 38,96%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 12, chiếm 2,41%

18. Ông Ksor Phước - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ tịch Hội đồng Dân tộc

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 260, chiếm 52,21%

Số phiếu tín nhiệm: 204, chiếm 40,96%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 28, chiếm 5,62%

19. Ông Đào Trọng Thi - Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 241, chiếm 48,39%

Số phiếu tín nhiệm: 232, chiếm 46,59%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 19, chiếm 3,82%.

20. Ông Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 210, chiếm 42,17%

Số phiếu tín nhiệm: 122, chiếm 24,5%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 160, chiếm 32,13%.

21. Ông Hoàng Trung Hải - Phó Thủ tướng Chính phủ

Số phiếu hợp lệ: 491

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 186, chiếm 37,35%

Số phiếu tín nhiệm: 261, chiếm 52,41%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 44, chiếm 8,84%

22. Ông Nguyễn Thiện Nhân - Phó Thủ tướng Chính phủ

Số phiếu hợp lệ: 491

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 196, chiếm 39,36%

Số phiếu tín nhiệm: 230, chiếm 46,18%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 65, chiếm 13,05%

23. Ông Vũ Văn Ninh - Phó Thủ tướng Chính phủ

Số phiếu hợp lệ: 490

Số phiếu không hợp lệ: 1

Số phiếu tín nhiệm cao: 167, chiếm 33,53%

Số phiếu tín nhiệm: 264, chiếm 53,01%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 59, chiếm 11,85%

24. Ông Nguyễn Xuân Phúc - Phó Thủ tướng Chính phủ

Số phiếu hợp lệ: 490

Số phiếu không hợp lệ: 1

Số phiếu tín nhiệm cao: 248, chiếm 49,8%

Số phiếu tín nhiệm: 207, chiếm 41,57%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 35, chiếm 7,03%

25. Ông Hoàng Tuấn Anh - Bộ trưởng Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 90, chiếm 18,07%

Số phiếu tín nhiệm: 286, chiếm 57,43%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 116, chiếm 23,29%

26. Ông Nguyễn Thái Bình - Bộ trưởng Bộ Nội vụ

Số phiếu hợp lệ: 492

Số phiếu không hợp lệ: 0

Số phiếu tín nhiệm cao: 126, chiếm 25,3%

Số phiếu tín nhiệm: 274, chiếm 55,02%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 92, chiếm 18,47%

27. Ông Nguyễn Văn Bình - Thống đốc Ngân hàng nhà nước

Số phiếu hợp lệ: 491

Số phiếu không hợp lệ: 1

Số phiếu tín nhiệm cao: 88, chiếm 17,67%

Số phiếu tín nhiệm: 194 phiếu, chiếm 38, 96%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 209 phiếu, chiếm 41,97%.

28. Bà Nguyễn Thị Hải Chuyền - Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 105 phiếu, chiếm 21,08%.

Số phiếu tín nhiệm: 276 phiếu, chiếm 55, 42%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 111 phiếu, chiếm 22,29%.

29. Ông Hà Hùng Cường - Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 176 phiếu, chiếm 35,34%.

Số phiếu tín nhiệm: 280 phiếu, chiếm 56, 22%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 36 phiếu, chiếm 7,23%.

30. Ông Trịnh Đình Dũng - Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 131 phiếu, chiếm 26,31%.

Số phiếu tín nhiệm: 261 phiếu, chiếm 52, 41%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 100 phiếu, chiếm 20,08%.

31. Ông Vũ Đức Đam - Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Số phiếu hợp lệ: 489 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 3 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 215 phiếu, chiếm 43,17%.

Số phiếu tín nhiệm: 245 phiếu, chiếm 49,2%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 29 phiếu, chiếm 5,82%.

32. Ông Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Bộ Công thương.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 112 phiếu, chiếm 22,49%.

Số phiếu tín nhiệm: 251 phiếu, chiếm 50,4%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 128 phiếu, chiếm 25,7%.

33. Ông Phạm Vũ Luận - Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 86 phiếu, chiếm 17,27%.

Số phiếu tín nhiệm: 229 phiếu, chiếm 45,98%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 177 phiếu, chiếm 35,54%.

34. Ông Phạm Bình Minh - Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 238 phiếu, chiếm 47,79%.

Số phiếu tín nhiệm: 233 phiếu, chiếm 46,79%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 21 phiếu, chiếm 4,22%.

35. Ông Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 184 phiếu, chiếm 36,95%.

Số phiếu tín nhiệm: 249 phiếu, chiếm 50%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 58 phiếu, chiếm 11,65%.

36. Ông Giàng Seo Phử - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.

Số phiếu hợp lệ: 491 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 1 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 158 phiếu, chiếm 31,73%.

Số phiếu tín nhiệm: 270 phiếu, chiếm 54,22%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 63 phiếu, chiếm 12,65%.

37. Ông Nguyễn Quân - Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Số phiếu hợp lệ: 480 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 12 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 133 phiếu, chiếm 26,69%.

Số phiếu tín nhiệm: 304 phiếu, chiếm 61,04%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 43 phiếu, chiếm 8,63%.

38. Ông Trần Đại Quang - Bộ trưởng Bộ Công an.

Số phiếu hợp lệ: 481 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 11 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 273 phiếu, chiếm 54,82%.

Số phiếu tín nhiệm: 183 phiếu, chiếm 36,75%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 24 phiếu, chiếm 4,82%.

39. Ông Nguyễn Minh Quang - Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Số phiếu hợp lệ: 479 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 13 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 83 phiếu, chiếm 17,18%.

Số phiếu tín nhiệm: 294 phiếu, chiếm 60,86%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 104 phiếu, chiếm 20,88%.

40. Ông Nguyễn Bắc Son - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.

Số phiếu hợp lệ: 479 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 13 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 271 phiếu, chiếm 24,3%.

Số phiếu tín nhiệm: 281 phiếu, chiếm 56,43%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 77 phiếu, chiếm 15,46%.

41. Ông Phùng Quang Thanh - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Số phiếu hợp lệ: 480 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 12 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 323 phiếu, chiếm 64,86%.

Số phiếu tín nhiệm: 144 phiếu, chiếm 28,92%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 13 phiếu, chiếm 2,61%.

42. Ông Đinh La Thăng - Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

Số phiếu hợp lệ: 483 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 9 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 186 phiếu, chiếm 37,35%.

Số phiếu tín nhiệm: 198 phiếu, chiếm 39,76%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 99 phiếu, chiếm 19,88%.

43. Bà Nguyễn Thị Kim Tiến - Bộ trưởng Bộ Y tế.

Số phiếu hợp lệ: 482 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 10 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 108 phiếu, chiếm 21,69%.

Số phiếu tín nhiệm: 228 phiếu, chiếm 45,78%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 146 phiếu, chiếm 29,32%.

44. Ông Huỳnh Phong Tranh - Tổng thanh tra Chính phủ.

Số phiếu hợp lệ: 492 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 0.

Số phiếu tín nhiệm cao: 164 phiếu, chiếm 32,93%.

Số phiếu tín nhiệm: 241 phiếu, chiếm 48,39%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 87 phiếu, chiếm 17,47%.

45. Ông Bùi Quang Vinh - Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Số phiếu hợp lệ: 482 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 10 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 231 phiếu, chiếm 46,39%.

Số phiếu tín nhiệm: 205 phiếu, chiếm 41,16%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 46 phiếu, chiếm 9,24%.

46. Ông Trương Hòa Bình - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Số phiếu hợp lệ: 489 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 3 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 195 phiếu, chiếm 39,16%.

Số phiếu tín nhiệm: 260 phiếu, chiếm 52,21%.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 34, chiếm 6,83%

47. Ông Nguyễn Hòa Bình - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Số phiếu hợp lệ: 490

Số phiếu không hợp lệ: 2

Số phiếu tín nhiệm cao: 198, chiếm 39,76%

Số phiếu tín nhiệm: 269, chiếm 54,02%

Số phiếu tín nhiệm thấp: 23, chiếm 4,62%

Biên bản này đã được lập thành 3 bản vào hồi 21 giờ 30 phút cùng ngày và đã thông qua các thành viên trong Ban kiểm phiếu.

Thay mặt Ban kiểm phiếu, xin trân trọng báo cáo với Quốc hội.

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Tiếp theo chương trình xin kính mời Quốc hội thông qua Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm. Tôi xin trân trọng kính mời đồng chí Nguyễn Hạnh Phúc, Trưởng đoàn thư ký kỳ họp đọc dự thảo nghị quyết.

 

Nguyễn Hạnh Phúc - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội

Trình bày Dự thảo Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. (Có văn bản)

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin các vị đại biểu có ai có ý kiến về dự thảo nghị quyết không?

 

Nguyễn Đình Quyền - TP Hà Nội

(không bật míc)

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin Quốc hội cho tiếp thu phát hiện của đồng chí Nguyễn Đình Quyền và sẽ chỉnh sửa lại cho khớp với kết quả kiểm phiếu.

 

Trương Minh Hoàng - Cà Mau

................. cũng thấy sai với Biên bản kiểm phiếu, đề nghị cho kiểm tra lại chỗ ông Nguyễn Bắc Son, lúc đọc biên bản thấy tới 271, nhưng ở đây tín nhiệm cao kết quả có 121, các số liệu khác cũng tương tự đề nghị kiểm tra lại. Xin hết.

 

Đại biểu....

Chỗ của ông Nguyễn Quân cũng sai số so với Ban kiểm phiếu đọc. Xin hết

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Xin phép Quốc hội cho phép tiếp thu những ý kiến phát hiện của 3 đại biểu về 3 đồng chí được lấy phiếu tín nhiệm là đồng chí Nguyễn Minh Quang, đồng chí Nguyễn Bắc Son, đồng chí Nguyễn Quân để Ban kiểm phiếu rà lại cho chính xác. Trong buổi sáng nay sự đối chiếu giữa kết quả kiểm phiếu với dự thảo nghị quyết có thể có trục trặc kỹ thuật, cho phép chúng tôi cùng Ban kiểm phiếu và Đoàn thư ký đối chiếu lại cho chính xác kết quả bỏ phiếu của Quốc hội.

Quốc hội nghỉ giải lao sau đó vào nghe công bố chính thức lại 3 trường hợp này và Quốc hội sẽ biểu quyết.

(Quốc hội nghỉ giải lao)

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Thưa Quốc hội,

Xin phép Quốc hội cho tiếp tục làm việc.

Tôi xin kính mời đồng chí Trưởng ban kiểm phiếu sẽ báo cáo với Quốc hội những vấn đề mà các vị đại biểu Quốc hội đặt ra sáng nay.

 

Đỗ Văn Chiến - Trưởng ban kiểm phiếu

Kính thưa chủ tọa phiên họp,

Kính thưa Quốc hội,

Tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội và được Đoàn Chủ tịch giao nhiệm vụ, Ban kiểm phiếu đã phối hợp với Đoàn thư ký rà soát lại tất cả các tài liệu và số liệuu gốc, chúng tôi thấy rằng trong phát hiện của các đại biểu có những chi tiết rất đúng, xin được báo cáo lại như sau.

Đối với ông Nguyễn Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Số phiếu tín nhiệm cao lúc tôi đọc là 123, kiểm tra lại toàn bộ số liệu và nghị quyết, số chính xác là 133 và xin được đọc lại hoàn chỉnh của đồng chí Nguyễn Quân như sau.

Số phiếu hợp lệ: 480 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 12 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 133 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm: 304 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 43 phiếu.

Đối với đồng chí Nguyễn Minh Quang, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, kiểm tra lại từ biên bản gốc, kiểm tra lại trên máy, kiểm tra lại dự thảo nghị quyết và kiểm tra lại biên bản. Chúng tôi xin đọc lại số chính xác của đồng chí Nguyễn Minh Quang, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường như sau.

Số phiếu hợp lệ: 479 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 11 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 83 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm: 294 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 104 phiếu.

Đối với đồng chí Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, đại biểu có ý kiến phản ảnh nhưng chúng tôi kiểm tra lại từ số liệu gốc, từ biên bản và dự thảo nghị quyết cùng với số liệu tôi đã đọc, chúng tôi thấy số liệu của đồng chí Nguyễn Bắc Son là số liệu chính xác. Xin đọc lại số của đồng chí Nguyễn Bắc Son như sau.

Số phiếu hợp lệ: 479 phiếu.

Số phiếu không hợp lệ: 13 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm cao: 121 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm: 281 phiếu.

Số phiếu tín nhiệm thấp: 77 phiếu.

Xin báo cáo với Quốc hội, trong quá trình làm việc Ban kiểm phiếu đã làm việc rất nghiêm túc, tuy rất cố gắng nhưng cũng không tránh khỏi sai sót. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự phát hiện của các vị đại biểu Quốc hội, thành thật nhận lỗi và xin đại biểu Quốc hội tha thứ.

 

Nguyễn Sinh Hùng - Chủ tịch Quốc hội

Như vậy, chúng ta sẽ căn cứ vào kết quả đọc lại chính thức của đồng chí Trưởng Ban kiểm phiếu đối với đồng chí Nguyễn Quân, đồng chí Nguyễn Minh Quang và đồng chí Nguyễn Bắc Son để điều chỉnh số liệu trong dự thảo nghị quyết.

Xin mời Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm đối với những người được Quốc hội bầu và phê chuẩn như đã trình bày. Mời đại biểu Quốc hội biểu quyết.

Thưa Quốc hội.

Tổng số người tham gia biểu quyết: 477 bằng 95,78% tổng số đại biểu Quốc hội.

Số phiếu tán thành: 471 bằng 94,58% tổng số đại biểu Quốc hội.

Không tán thành: 4.

Không biểu quyết: 2.

Như vậy, Quốc hội đã quyết định thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Xin cảm ơn Quốc hội.

Kính thưa Quốc hội.

Sau hơn một ngày làm việc, Quốc hội đã hoàn thành trách nhiệm trước nhân dân, thay mặt nhân dân, thay mặt đồng bào cử tri cả nước để đánh giá tín nhiệm đối với 47 chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Đây là việc làm đầu tiên của Quốc hội, mặc dù kinh nghiệm chưa có nhiều, cũng còn những thiếu sót trong quá trình chuẩn bị cho tới việc bỏ phiếu nhưng kết quả chung có thể nói đã phản ảnh được tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tư pháp của đất nước chúng ta. Chúng ta đều đã nghe kết quả kiểm phiếu, có loại phiếu tín nhiệm cao, có loại phiếu tín nhiệm và cũng có loại phiếu tín nhiệm thấp. Như vậy, có thể nói nhìn chung cách đánh giá của các vị đại biểu Quốc hội khá khách quan, phản ảnh được tình hình kinh tế, quốc phòng, an ninh, xã hội, tư pháp, tức là tình hình đất nước của chúng ta. Những quý vị được lấy phiếu tín nhiệm có trọng trách liên quan tới những vấn đề lớn, đứng mũi chịu sào trước quá trình điều hành đất nước.

Đối với những lĩnh vực nóng như ngân hàng , giáo dục, y tế, xây dựng v.v... Có thể nói Quốc hội đòi hỏi trách nhiệm cao hơn. Chúng ta thấy phiếu tín nhiệm cao của Quốc hội là sự động viên, khích lệ, đồng thời cũng là sự đánh giá về những kết quả chúng ta đạt được, đất nước chúng ta đạt được trong thời gian qua. Những phiếu tín nhiệm thấp đòi hỏi một cách nghiêm túc đối với các vị được lấy phiếu tín nhiệm để chúng ta tiếp tục phấn đấu, để hoàn thành tốt hơn tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại của đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn. Quốc hội đặt niềm tin để chúng ta phấn đấu tốt hơn trong thời gian tới.

Như vậy, Quốc hội chúng ta đã hoàn thành trọng trách nhân dân cả nước giao cho chúng ta về việc đánh giá tín nhiệm bước đầu. Chúng ta tin tưởng rằng qua lần này chúng ta sẽ rút kinh nghiệm, không chỉ làm tốt ở Quốc hội vào những năm sau mà chúng ta rút kinh nghiệm, đây là bài rút kinh nghiệm để Hội đồng nhân dân cả nước, Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm một cách nghiêm túc, thận trọng, khách quan và chính xác. Không thể nói có một việc nào được 10 điểm cả, chúng ta cũng còn có việc này, việc kia chưa tốt. Từ công tác chuẩn bị cho tới quá trình tiến hành quy trình, cho tới việc quản lý thông tin cũng còn có những thông tin này, thông tin khác. Cho nên không thể 10 điểm được. Nhưng chúng ta tin tưởng chúng ta đã thông qua nghị quyết với một tỷ lệ phiếu rất cao, tức là chúng ta khẳng định kết quả trong lần lấy phiếu tín nhiệm này ở Quốc hội. Xin thay mặt Quốc hội chúng ta xin cảm ơn các đồng chí trong Ban kiểm phiếu không chuyên nghiệp nhưng kết quả cuối cùng thì cũng rất là tốt. Cảm ơn các đồng chí làm công tác chuẩn bị, cảm ơn các vị được lấy phiếu tín nhiệm lần này cũng đã chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu của Quốc hội để việc bỏ phiếu, lấy phiếu tín nhiệm của chúng ta thành công.

Xin cám ơn Quốc hội.

 

Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội

Xin cám ơn Chủ tịch Quốc hội, Kính thưa Quốc hội, thưa các vị khách quý

Xin phép Quốc hội chuyển sang nội dung thứ hai của phiên làm việc sáng nay, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Tiếp công dân. Ngày 31/5/2013, Quốc hội đã thảo luận tại tổ về dự án Luật Tiếp công dân, Đoàn Thư ký kỳ họp đã gửi tới các vị đại biểu Quốc hội báo cáo tổng hợp ý kiến thảo luận tại tổ của các vị đại biểu Quốc hội. Sáng nay, xin đề nghị các vị đại biểu Quốc hội tập trung thảo luận vào một số vấn đề chính sau đây:

Một, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của luật.

Hai, về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp công dân, quyền, nghĩa vụ của công dân và người tiếp công dân.

Ba, về trụ sở tiếp công dân và nơi tiếp công dân ở cấp Bộ, cấp Sở và cấp xã.

Bốn, về tiếp công dân của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội.

Năm, về điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân.

Bây giờ xin kính mời các vị đại biểu Quốc hội đăng ký và phát biểu.

 

Chu Sơn Hà - TP Hà Nội

Kính thưa chủ tọa phiên họp,

Kính thưa Quốc hội

Tham gia ý kiến vào dự thảo Luật Tiếp công dân, tôi xin có ý kiến như sau:

Năm 2012 và 4 tháng đầu năm 2013, các cơ quan nhà nước đã tiếp 498.540 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo. Với 5.378 đoàn đông người và tiếp nhận, xử lý 175.261 đơn thư khiếu nại tố cáo. Nhìn chung tình hình khiếu nại, tố cáo trong nhiều năm qua là những vấn đề đã rất đáng quan tâm của các cơ quan nhà nước. Để công tác tiếp dân đi vào có hiệu quả và có nề nếp, đồng thời tránh những phần tử kích động, gây mất trật tự công cộng, Quốc hội cho ý kiến vào Luật Tiếp công dân tại kỳ họp này. Tôi cho rằng thông qua hoạt động thực tiễn tiếp công dân trong nhiều năm, Cơ quan soạn thảo đã có cố gắng lớn xây dựng dự thảo Luật Tiếp công dân với 10 chương, 61 điều trình Quốc hội. Tuy nhiên, tôi tham gia một số vấn đề như sau:

Một là trong hồ sơ trình dự án Luật Tiếp công dân, báo cáo đánh giá tác động còn sơ sài chưa khẳng định được tác dụng trực tiếp khi ban hành Luật và khi Luật này có hiệu lực, khi Quốc hội thông qua,

Hai là về sự cần thiết của dự án Luật, Điều 74 Hiến pháp 1992 nêu công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái Pháp luật của Cơ quan Nhà nước, Tổ chức kinh tế, Tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được Cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn theo quy định của Pháp luật. Tôi cho rằng công dân có quyền khiếu nại, tố cáo với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hành vi của các Cơ quan Nhà nước, Tổ chức kinh tế, Tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào. Hiến pháp không quy định cụ thể việc kiến nghị, đề nghị của công dân liên quan đến các lĩnh vực khác trong Chương quyền công dân, nhưng rải rác trong các chương khác và đặc biệt tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa là tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân có trách nhiệm xây dựng Chính quyền và tham gia quản lý Nhà nước, đặc biệt là Điều 53 Hiến pháp 1992 có quy định: Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước, tham gia thảo luận các vấn đề chung của đất nước và địa phương kiến nghị với các cơ quan Nhà nước biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân.

Qua việc nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chúng tôi nhận thấy nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã có chế định liên quan đến công tác tiếp công dân, như Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Thanh tra, một số Luật chuyên ngành, quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội, đặc biệt là Luật Khiếu nại năm 2011 có 1 chương, 5 điều về khiếu nại. Tôi nhận thấy băn khoăn về sự cần thiết ban hành Luật này mặc dù đã có dự án Luật được Quốc hội thông qua trong chương trình xây dựng luật và pháp lệnh.

Thưa Quốc hội, lỗi trong thời gian qua không phải là thiếu chế định về công tác tiếp dân mà nguyên nhân chính là do tổ chức thực thi pháp luật về việc tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân chưa tốt, tồn tại của một số cơ chế chính sách còn chưa hợp với lòng dân, tôi lấy ví dụ như việc bồi thường giải phóng mặt bằng về đất đai, nghiêm chỉnh chấp hành thì nhận được ít, sau đó thì khiếu nại, tố cáo, chính sách thay đổi thì lại nhận được nhiều hơn. Đồng thời cũng là do nhận thức của một bộ phận nhân dân còn hạn chế, nếu xây dựng Luật Tiếp công dân tôi đề nghị lấy tên luật là Luật tiếp công dân, để phù hợp với các quy định trên của Hiến pháp như đã trích dẫn. Đề nghị thực hiện chủ trương, nguyên tắc không làm phát sinh thêm tổ chức mới, không tăng biên chế, không quy định lại những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành để thực hiện nghiêm Khoản 2 Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

Thứ hai, về đối tượng điều chỉnh. Tôi cho rằng, như quy định tại Điều 74 của Hiến pháp, tôi đề nghị luật chỉ điều chỉnh mối quan hệ của người dân với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đó là cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan dân cử, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, không quy định đối với các đoàn thể chính trị, chính trị xã hội hoặc các tổ chức khác được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, nhằm giúp đỡ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các thành viên. Do vậy, không thể một ai đến đề nghị với đoàn thể nhất định tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị phản ảnh của mình mà người đó không phải là hội viên, thành viên.

Thứ ba, về bố cục dự án luật. Trong thời gian qua tất cả các điểm tiếp dân của các cơ quan nhà nước chủ yếu thực hiện hai nhiệm vụ.

Nhiệm vụ thứ nhất là tiếp nhận, nghiên cứu các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân để chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Nhiệm vụ thứ hai là tiếp nhận các kiến nghị, đề nghị của công dân đối với nội dung xây dựng nhà nước.

Tôi đề nghị, để thực hiện các nhiệm vụ này chúng ta tổ chức tốt hơn việc thực hiện các chế định đã có về khiếu nại, tố cáo. Ngoài ra có thể ban hành một văn bản dưới luật để hướng dẫn quy trình tổ chức thực hiện, tiếp nhận những kiến nghị và đề nghị của cử tri liên quan đến xây dựng nhà nước pháp quyền.

Kính thưa Quốc hội,

Theo Báo cáo của Chính phủ, năm 2012 Thanh tra Chính phủ đã xử lý 13.860 đơn thư, trong đó chỉ có 750 đơn là kiến nghị, phản ảnh, còn chủ yếu là 3.736 đơn thư khiếu nại, tố cáo. Như vậy, số lượng chủ yếu người dân đến các trụ sở tiếp dân là để khiếu nại và tố cáo, còn đưa kiến nghị và phản ảnh tỷ lệ rất ít. Do đó, các văn bản liên quan đến khiếu nại, tố cáo đã có Luật giải quyết tố táo năm 2011, Luật khiếu nại năm 2011. Đồng thời với nó là một số văn bản quy định các chế định liên quan đến việc tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo. Do đó, tôi đề nghị chỉ cần ban hành một văn bản dưới luật quy định trình tự, thủ tục và trách nhiệm của người dân cũng như người tổ chức tiếp công dân thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận và xử lý các kiến nghị, đề nghị của công dân đối với nhà nước.

Vấn đề cuối cùng là về trụ sở tiếp công dân. Như trên tôi đã đề nghị, với nguyên tắc ban hành luật này không phát sinh về tổ chức, không tăng thêm biên chế, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần phân tích đầy đủ và có tính thuyết phục về việc quy định chức năng, thẩm quyền, địa vị pháp lý của trụ sở tiếp công dân như một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ảnh của công dân. Nên chăng chỉ nên quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, cơ sở vật chất của trụ sở nơi tiếp công dân, cách thức phối hợp các hoạt động trong các trụ sở tiếp công dân. Trách nhiệm quản lý trụ sở tiếp công dân cũng như một số nguyên tắc để xây dựng nội quy của các trụ sở tiếp dân, chứ không hình thành ra một tổ chức mang tính chất pháp nhân và phát sinh thêm tổ chức và thêm biên chế. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.

 

Ma Thị Thúy - Tuyên Quang

Kính thưa Quốc hội.

Trước hết tôi tán thành với Tờ tình của Chính phủ về sự cần thiết phải ban hành Luật tiếp công dân. Dự thảo luật lần này cơ bản cũng đã cụ thể hóa nhiều nội dung liên quan đến hoạt động tiếp công dân, bổ sung các quy định về tiếp công dân của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan của từng cấp. Tuy nhiên qua nghiên cứu cho thấy dự thảo luật còn có nhiều điều, khoản quy định chưa chặt chẽ, chưa giải quyết được những vướng mắc đang đặt ra trong thực tiễn hiện nay. Tôi xin nêu một số nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, dự án luật mới chủ yếu tập trung vào giải quyết vấn đề đón tiếp, lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, chưa chú ý đúng mức đến việc gắn hoạt động tiếp công dân với giải quyết, kiến nghị khiếu nại, tố cáo của công dân, trong khi đây là một trong những mục đích chính của việc tiếp công dân và cũng là mục đích của công dân khi đến trụ sở tiếp công dân nơi tiếp công dân.

Trên thực tế nếu người có thẩm quyền khi tiếp công dân sẽ trực tiếp giải quyết luôn một số khiếu nại, tố cáo của người dân thì sẽ giảm bớt được rất nhiều đơn thư vượt cấp.

Do đó về phạm vi điều chỉnh của luật cần bổ sung nội dung có liên quan đến quy trình giải quyết khiếu nại tố cáo gắn với trách nhiệm tiếp công dân của người đứng đầu cũng như những cá nhân có thẩm quyền.

Thứ hai, về đối tượng áp dụng. Dự thảo luật quy định tiếp công dân của các cơ quan Nhà nước, của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công và doanh nghiệp có sử dụng ngân sách Nhà nước, tài sản Nhà nước. Quy định như vậy theo tôi quá rộng và chưa đúng với bản chất của việc tiếp công dân là giải quyết mối quan hệ về quyền, lợi ích, nghĩa vụ, trách nhiệm giữa công dân với Đảng, Nhà nước, các cơ quan của Đảng, Nhà nước và ngược lại.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật, các quy định của từng tổ chức trong hệ thống chính trị. Vì vậy Điều 2, Điều 3, Chương I, cần được nghiên cứu, chỉnh sửa để giới hạn đối tượng áp dụng là các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, các đơn vị sự nghiệp công lập. Không áp dụng đối với các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp.

Thứ ba, tại Điều 7 quy định về trụ sở tiếp công dân và nơi tiếp công dân chưa rõ về khái niệm giữa trụ sở là nơi làm việc với tổ chức hoạt động tiếp công dân ở từng cấp. Đề nghị Ban soạn thảo cần xác định rõ trụ sở tiếp công dân chỉ là địa điểm để đón tiếp công dân trực tiếp đến kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, là nơi nhận đơn, yêu cầu của người dân để phân loại chuyển đến các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền như hiện nay.

Trường hợp xác định trụ sở tiếp công dân là một cơ quan độc lập, có tư cách pháp nhân như trong dự thảo luật, không dùng khái niệm trụ sở tiếp công dân mà nên dùng khái niệm khác để thể hiện đây là một cơ quan có thẩm quyền, có tổ chức, bộ máy và trụ sở riêng. Khi đó cần chế định rõ người thuộc biên chế của cơ quan này là ai và ai là người được các cơ quan khác cử đến cùng tham gia thực hiện việc tiếp công dân. Chứ không nên giao như dự thảo hiện nay, người phụ trách trụ sở tiếp công dân của trung ương Đảng và nhà nước do Tổng thanh tra Chính phủ phân công. Trụ sở tiếp công dân thuộc văn phòng Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, cấp Huyện. Do phó Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân cấp Tỉnh, cấp Huyện phụ trách.

Thứ Tư, về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp công dân. Quyền và nghĩa vụ của công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về quyền và nghĩa vụ của người tiếp công dân. Đây là những nội dung rất quan trọng được quy định tại Chương II và III của dự thảo luật. Tôi thấy cần nghiên cứu thêm chế định về người tiếp công dân. Về bản chất người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đơn vị cũng là người tiếp công dân và có trách nhiệm tiếp công dân, cán bộ được các cơ quan, tổ chức tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân cũng là người tiếp công dân. Trong trường hợp quy định có cơ quan tiếp công dân riêng, cán bộ của cơ quan này cũng là người tiếp công dân. Nhưng thẩm quyền, trách nhiệm của những đối tượng này khác nhau. Do vậy để làm rõ vấn đề này, theo tôi nên bổ sung sắp xếp lại nội dung Chương II và III theo hướng dẫn.

Theo hướng đưa các chế định về người tiếp công dân ở Chương III về Chương II và sửa tiêu đề của Chương II thành: Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và của người tiếp công dân trong việc tiếp công dân. Đồng thời bổ sung, bố trí lại các điều ở chương này cho phù hợp và làm rõ hơn người tiếp công dân là những ai, thẩm quyền, trách nhiệm của từng người như thế nào.

Chương III sẽ có tiêu đề: Quyền và nghĩa vụ của công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh và chỉ đề cập đến nội dung này. Ngoài 4 vấn đề lớn nêu trên, tôi thấy một số chế định cũng cần nghiên cứu chỉnh sửa để phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi như chưa định lượng được trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp công dân. Dự thảo luật quy định "Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bộ trưởng, giám đốc sở tiếp công dân ít nhất 1 ngày trong 1 tháng, quận, huyện ít nhất 2 ngày trong 1 tháng, các xã ít nhất 1 ngày trong 1 tuần" là chưa phù hợp, thiếu tính linh hoạt. Vì thực tế cho thấy đối với các cơ quan thường xuyên phải tiếp nhận đơn, thư khiếu nại, tố cáo thì 1 ngày trong 1 tháng là quá ít, nhưng cũng có cơ quan hàng tháng hoặc nhiều tháng không có người đến khiếu nại, tố cáo.

Tại Khoản 2 Điều 36 dự thảo luật quy định "đại biểu Quốc hội tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân do đoàn đại biểu Quốc hội bố trí và theo sự phân công của trưởng đoàn đại biểu Quốc hội" cũng chưa thực sự hợp lý. Vì hiện nay chúng ta đang thực hiện việc tiếp công dân theo Quyết định số 858 của Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp tiếp công dân, mô hình này đang thực hiện rất có hiệu quả ở các địa phương trong việc phối hợp tiếp công dân giữa đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh. Đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc, xem xét quy định phối hợp này để thực hiện có hiệu quả hơn. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Hồ Thị Thủy - Vĩnh Phúc

Kính thưa Quốc hội,

Trước hết, tôi tán thành cao với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật về dự án Luật tiếp công dân. Tôi xin tham gia một số ý kiến như sau:

Tiếp công dân là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị của nước ta. Nhưng trong thời gian qua, hoạt động tiếp công dân còn mang tính hình thức, thể hiện ở việc tiếp công dân chủ yếu còn là tiếp theo định kỳ. Tiếp công dân chưa gắn với việc xem xét, kết luận, giải quyết kịp thời những khiếu nại, tố cáo của công dân, quá trình hoạt động tiếp công dân chưa được đảm bảo tính pháp lý, thiếu sự phối hợp, kế thừa, thông tin trong việc tiếp công dân, dẫn đến việc hướng dẫn, trả lời công dân thiếu sự thống nhất, gây khó khăn cho các cơ quan tiếp dân và người dân phải chạy lòng vòng, gây bức xúc. Cán bộ làm công tác tiếp dân ở một số nơi còn yếu về năng lực, trình độ, còn biểu hiện quan liêu, hách dịch, thiếu trách nhiệm, thậm chí còn thờ ơ, vô cảm với những bức xúc của người dân.

Việc tiếp công dân của một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa thường xuyên, chưa nghiêm túc, thiếu đôn đốc, kiểm tra, còn xảy ra hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, né tránh tiếp công dân. Bên cạnh đó còn có nhiều trường hợp công dân đã lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để lôi kéo, tụ tập đông người đến trụ sở hoặc nơi tiếp dân để gây áp lực với cơ quan nhà nước nhằm mưu đồ lợi ích cá nhân. Với quan điểm xây dựng dự án Luật Tiếp công dân nhằm quán triệt và cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng, để đổi mới một cách toàn diện về tổ chức và hoạt động tiếp công dân. Đồng thời, khắc phục những bất cập trong hoạt động tiếp công dân thời gian qua. Dự án Luật Tiếp công dân cần phải quy định cụ thể về quy trình, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu các cơ quan nhà nước trong việc tiếp công dân.

Tiếp công dân phải gắn với quy trình xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân. Đồng thời quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của công dân khi đến khiếu nại, tố cáo, phản ánh tại trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân của cơ quan nhà nước và các điều kiện đảm bảo cho công tác tiếp công dân có hiệu quả.

Tuy nhiên, những nội dung trên đây trong dự án luật chưa được làm rõ, chưa giải quyết được những vướng mắc trong thực tiễn biểu hiện ở ngay Khoản 1 Điều 3 về giải thích từ ngữ. Nếu tiếp công dân chỉ là việc đón tiếp, lắng nghe, tiếp nhận thì ai thực hiện cũng được. Có cần thiết phải quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị như tại Khoản 2, Khoản 3 của Điều 9 hay không?

Theo đó, nếu tiếp công dân chỉ lắng nghe, phản ánh, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo thì không nhất thiết phải quy định cứng là mấy buổi, mấy ngày trong tháng như tại Điều 10 của dự án luật. Mà khi công dân có yêu cầu phản ánh, khiếu nại thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thể ủy quyền hoặc cử người tiếp công dân. Chính  vì vậy, mục đích của việc tiếp công dân là gì cần được xác định rõ hơn trong Luật Tiếp công dân.

Về đối tượng áp dụng, theo tôi không nên quy định trách nhiệm tiếp công dân của tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp, các doanh nghiệp có sử dụng ngân sách, tài sản của nhà nước vì các tổ chức này không trực tiếp tham gia quản lý nhà nước. Nếu nội dung khiếu nại, tố cáo của người dân có liên quan đến các tổ chức, đơn vị này thì trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết thuộc về cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý.

Về trụ sở tiếp công dân, việc tiếp công dân ở cấp Bộ, cấp cơ sở, cấp xã được quy định tại Chương IV là chưa phù hợp với nội dung của luật. Trụ sở tiếp công dân hay nơi tiếp công dân chỉ là một trong những điều kiện đảm bảo để tiếp công dân. Là địa điểm để đón tiếp công dân trực tiếp đến phản ánh, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị chứ không phải là một tổ chức bộ máy độc lập có tư cách pháp nhân.

Theo tôi, chỉ nên quy định về tiêu chuẩn, điều kiện, cơ sở vật chất của trụ sở nơi tiếp công dân, cách thức, quy trình tiếp công dân. Nhất là việc cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương. Có như vậy, mới đảm bảo được nguyên tắc, mục tiêu và sự cần thiết để ban hành Luật Tiếp công dân. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.

 

Chu Đức Quang - Lạng Sơn

Kính thưa Chủ tọa,

Kính thưa Quốc hội,

Tôi cơ bản nhất trí với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội về Dự thảo Luật tiếp công dân. Qua nghiên cứu dự thảo tôi xin có một số ý kiến như sau.

Một là tán thành với sự cần thiết về việc ban hành Luật tiếp công dân, dự thảo luật xây dựng đã đạt được các mục tiêu sau.

Thứ nhất, bảo đảm quyền được khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, tạo cơ hội cho mọi người dân được tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nước, đóng góp ý kiến vào việc hoạch định chính sách cũng như công tác quản lý điều hành hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Thứ hai, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, tăng chất lượng và tính hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, tăng cường dân chủ, công bằng và sự hợp tác giữa người dân và nhà nước, cải thiện mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, tạo niềm tin cho công chúng với cơ quan nhà nước, do vậy ở Điều 1 phạm vi điều chỉnh như trong dự thảo là phù hợp.

Thứ ba, ở Điều 7 về trụ sở tiếp công dân và nơi tiếp công dân, tôi đề nghị bổ sung thêm một khoản cụ thể như sau: trụ sở hoặc nơi tiếp công dân được bố trí tùy theo đặc điểm tình hình của từng địa phương. Tại Khoản 4, tôi đề nghị bỏ cụm từ "và quy định khác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền".

Thứ tư, ở Điều 10, trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tại Khoản 4 quy định về thời gian tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu các bộ, sở, ngành như vậy là không thống nhất, không nhất thiết quy định thời gian tiếp công dân là một buổi, nên quy định chung thời gian tiếp công dân của bộ trưởng tất cả các bộ là 1 ngày cho phù hợp với Luật khiếu nại năm 2011.

Tại Khoản 6 có quy định cả về trách nhiệm khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang là không phù hợp vì đây là Luật tiếp công dân nên chỉ quy định về các vấn đề liên quan đến vấn đề tiếp công dân. Việc quy định về thời gian tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang cần quy định 1 ngày như các trường hợp khác, không nên quy định chung chung như trong dự thảo luật.

Về Điều 11 quyền và nghĩa vụ của công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh, tại Khoản 2, Điểm b quy định: nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế tiếp công dân và hướng dẫn của người tiếp công dân. Tôi đề nghị bổ sung sửa lại thành: nghiêm chỉnh chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định tại Khoản 2, Điều 8 của luật này và hướng dẫn của người tiếp công dân. Cần bổ sung quy định về việc ủy quyền của công dân cho các cá nhân đối tượng được ủy quyền nhất là các điều kiện được ủy quyền, vì trên thực tế đang xuất hiện các đối tượng, các cá nhân lợi dụng việc ủy quyền để vận động người dân ủy quyền cho các đối tượng, cá nhân đến trụ sở tiếp công dân để khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nhằm trục lợi, dẫn đến mất an ninh trật tự tại trụ sở tiếp công dân, thậm chí gây rối, lôi kéo, kích động người dân đi khiếu nại gây bất ổn cho xã hội.

Điều 12, quyền và nghĩa vụ của người tiếp công dân. Tại Điểm đ, Khoản 1 đề nghị bỏ 3 cụm từ, "đã được kiểm tra, xem xét, xác minh", "theo quy định của pháp luật", "nội quy, quy chế tiếp công dân" và bổ sung cụm từ "theo quy định của pháp luật" "những quy định tại Khoản 2 Điều 8 của luật này". Cụ thể viết lại như sau: "Từ chối tiếp đối với các trường hợp đã có quyết định hoặc kết luận giải quyết của cơ quan có thẩm quyền và đã trả lời đầy đủ cho công dân theo quy định của pháp luật, người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc người đang trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự, người vi phạm những quy định tại Khoản 2 Điều 8 của luật này và những trường hợp khác theo quy định của pháp luật".

Tại Điểm a Khoản 2 bổ sung cụm từ "giữ thái độ hài hòa, đúng mực trong mọi tình huống". Cụ thể viết lại như sau: "Tôn trọng, lắng nghe, ghi chép đầy đủ nội dung người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, trình bày giữ thái độ hài hòa, đúng mực trong mọi tình huống". Tại Khoản 2 đề nghị bổ sung thêm quy định từ chối tiếp như sau: "Người tiếp công dân có quyền từ chối tiếp công dân đối với các hành vi bị nghiêm cấm, quy định tại Khoản 2 Điều 8 của luật này".

Về Điều 25, tổ chức trụ sở tiếp công dân cấp huyện. Tại Khoản 1 quy định "trụ sở tiếp công dân cấp huyện được sử dụng con dấu của văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện trong hoạt động". Đề nghị sửa cho rõ hơn là "người phụ trách trụ sở tiếp công dân cấp huyện được sử dụng con dấu của văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện trong hoạt động". Tại Khoản 2 đề nghị bỏ cụm từ "văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện", vì theo quy định trong dự thảo trụ sở tiếp công dân cấp huyện thuộc văn phòng Ủy ban nhân dân cấp huyện. Cụ thể được sửa lại như sau: "trụ sở tiếp công dân cấp huyện có đại diện văn phòng huyện ủy, Ủy ban kiểm tra huyện ủy, Hội đồng nhân dân cấp huyện tham gia tiếp công dân".

Kính thưa Quốc hội, trên đây là một số ý kiến đóng góp của tôi đối với Dự thảo Luật tiếp công dân, xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Nguyễn Thị Khá (Tám Khá) - Trà Vinh

Kính thưa Quốc hội,

Qua Dự thảo dự án Luật tiếp công dân,

Tôi xin tham gia phát biểu một số ý kiến như sau:

Trước hết, tôi đồng tình với việc Ban soạn thảo trình dự án Luật tiếp công dân. Làm thế nào để dự án luật sớm đi vào cuộc sống, tránh tình trạng để người dân đến khắp nơi đến tập trung đông người như thời gian qua, mà họ cho rằng có quyền và có khả năng giải quyết được yêu cầu của họ, gây mất an ninh trật tự, tốn kém thời gian, tiền của mà không hiệu quả.

Một, tôi đề nghị Ban soạn thảo cần làm rõ mục đích tiếp công dân, khái niệm tiếp công dân, phạm vi điều chỉnh quyền và trách nhiệm tiếp công dân. Theo tôi mục đích chính của việc tiếp công dân để công dân hiểu pháp luật, chấp hành pháp luật để khi cần thiết, khi đi khiếu nại, khiếu kiện, đi đúng chỗ, đúng quy trình. Có trách nhiệm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân. Muốn tổ chức việc tiếp công dân cho tốt, trước hết phải có địa điểm tiếp công dân và phải được công khai rộng rãi, không nên bí mật. Phải có điều kiện đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, người tiếp công dân phải có trách nhiệm và thái độ chuẩn mực, có tâm và có tầm. Tôi đề nghị cần làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Khi công dân xét thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm, chưa rõ ràng, chưa đúng thủ tục quy trình thì người công dân có quyền đến cơ quan, trụ sở tiếp công dân trình bày ý nguyện. Dự án luật cần thiết kế như thế nào, quy định trách nhiệm nhà nước phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trách nhiệm công dân phải tôn trọng và chấp hành pháp luật của nhà nước.

Thứ hai, về trụ sở tiếp công dân và địa điểm tiếp công dân là cần thiết nhưng cũng nên nghiên cứu mô hình phù hợp trên tổng thể không làm tăng biên chế, không phải là một cơ quan quản lý nhà nước độc lập, có con dấu, có tài khoản riêng, tăng cơ sở vật chất gây tốn kém không cần thiết. Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, cũng như thực hiện tốt Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tránh lãng phí thời gian, tiết kiệm ngân sách nhà nước. Nhưng luật cũng phải quy đinh rõ ràng các khoản chi phí cần thiết để phục vụ cho công tác tiếp công dân đạt hiệu quả tốt.

Thứ ba, trách nhiệm cơ quan quản lý nhà nước, người đại diện nhà nước phải đáp ứng mọi yêu cầu, quyền lợi công dân theo luật định. Công dân có quyền đòi lại cũng như bảo vệ quyền lợi của mình cũng trên cơ sở pháp luật. Luật Tiếp công dân có mối quan hệ chặt chẽ với Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và các luật khác liên quan. Xét kỹ từ việc khiếu nại, việc tố cáo chưa được làm rõ, chưa giải quyết thỏa đáng người công dân mới đến trụ sở tiếp công dân để phản ánh hay trình bày yêu cầu của mình. Nhưng dự án Luật Tiếp công dân cần quy định về quy trình tiếp công dân và quy trình giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo là không chồng chéo, không trùng giẫm lẫn nhau. Rất có ít người đến trụ sở tiếp công dân để tìm hiểu chủ trương hay chính sách gì để cho biết. Về trách nhiệm người đứng đầu cần làm rõ với trách nhiệm cơ quan, tổ chức tiếp công dân.

Luật Tiếp công dân quy định người đứng đầu dành thời gian tiếp công dân theo định kỳ, rồi thấp nhất, đột xuất v.v... cơ bản tôi nhất trí. Đây là việc làm cần thiết, sẽ giải tỏa được một số việc không nên tránh né. Nhưng tôi đề nghị, cần làm rõ đối với người đứng đầu cơ quan có mối quan hệ trực tiếp hoặc liên quan trực tiếp đến việc tiếp công dân vào các thời điểm có nhiều sự kiện quan trọng của đất nước.

Như đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các ngày lễ lớn có sự kiện đột xuất hoặc liên quan đến quy hoạch, giải phóng mặt bằng, liên quan đến thu hồi đất, phải quy định chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn, định kỳ, thường xuyên và đột xuất.

Còn đối với các cơ quan, tổ chức ít có mối quan hệ trực tiếp đến công dân thì chỉ nên quy định có tính nguyên tắc. Giao cho Chính phủ quy định cụ thể, không làm phát sinh tốn kém, không cần thiết, nhưng vẫn đảm bảo có nơi, có chỗ khi người dân cần đến các cơ quan để tiếp kiến và phải có người có trách nhiệm, có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, tránh chồng chéo, qua loa và đại khái.

Thứ tư, về trách nhiệm tiếp, xử lý trường hợp nhiều người khiếu nại, tố cáo, phản ánh cùng một nội dung, tôi đồng ý Ủy ban Pháp luật, dự thảo luật vẫn đi theo hướng quy định cách thức giải quyết đối với các trường hợp nhiều người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị mà chưa tập trung vào trình tự, thủ tục tiếp nhận cụ thể.

Ví dụ như, khi đoàn nhiều người đến trụ sở tiếp công dân thì công chức tiếp công dân phải xử lý như thế nào. Hướng dẫn họ cử đại diện ra sao. Tính hợp lý của việc cử đại diện phải như thế nào. Đối với các trường hợp tập trung đông người nhưng nội dung khác nhau ở các địa phương khác nhau, người không có quyền và lợi ích liên quan lợi dụng gây phức tạp.

Nên dự thảo luật phải nghiên cứu, thiết kế cụ thể về phối hợp chặt chẽ giữa bộ, ngành với nhau và giữa bộ, ngành và địa phương trong giữ gìn an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, ngộ độc thực phẩm, dịch bệnh, kẻ xấu lợi dụng kích động v.v...

Cuối cùng tôi đề nghị Luật Tiếp công dân phải thiết kế chặt chẽ, cụ thể, rõ ràng, tránh chồng chéo, trùng giẫm các luật liên quan. Quy định rõ trách nhiệm của người đại diện nhà nước tiếp công dân và quyền lợi, nghĩa vụ công dân khi đến trụ sở tiếp công dân phải bảo đảm hài hòa các mối quan hệ lợi ích nhà nước và lợi ích công dân, quan hệ Nhà nước với công dân và ngược lại. Xin cám ơn Quốc hội.

 

Bạch Thị Hương Thủy - Hòa Bình

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp,

Kính thưa Quốc hội,

Qua nghiên cứu dự thảo Luật tiếp công dân và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật, tôi cơ bản đồng tình với những nội dung như trong dự thảo, theo gợi ý của Đoàn thư ký, tôi xin tham gia đóng góp ý kiến vào mấy nội dung cụ thể như sau.

Thứ nhất, về sự cần thiết ban hành luật, tôi hoàn toàn nhất trí với sự cần thiết phải ban hành Luật tiếp công dân, vì trong thực tiễn thời gian qua cho thấy công tác tiếp công dân đã được Đảng, Nhà nước rất quan tâm. Đây là một kênh tiếp nhận các thông tin kiến nghị, phản ánh, góp ý của người dân về những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và công tác quản lý của các cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, trong thời gian qua các quy định về tiếp công dân mới chỉ được quy định trong Luật khiếu nại, tố cáo năm 2011, các quy định cụ thể chi tiết một số điều của luật.

Về nội dung, cách thức tổ chức tiếp công dân thực hiện theo các văn bản quy phạm pháp luật trên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Luật tiếp công dân trong thời điểm hiện nay rất là cần thiết.

Thứ hai, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, dự thảo Luật tiếp công dân quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng như hiện nay bao gồm cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tiếp công dân, như vậy là quá rộng. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay việc tiếp công dân chỉ yêu cầu tập trung ở các cơ quan Nhà nước. Vì vậy, theo tôi đề nghị dự thảo luật nên thu hẹp về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng cho phù hợp với các quy định tại Khoản 2, Điều 3 đề nghị sửa lại như sau: Người tiếp công dân bao gồm cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có ở các cơ quan Nhà nước mới có các chức danh cán bộ, công chức, viên chức. Do đó, đề nghị dự thảo luật chỉ quy định về tiếp công dân của các cơ quan, Nhà nước nhằm trực tiếp điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân cho phù hợp hơn với các quy định cụ thể trong dự thảo luật.

Thứ ba, về tổ chức của trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, đề nghị dự thảo luật không xác định trụ sở tiếp công dân là một cơ quan độc lập, có con dấu riêng. Vì thực tế hiện nay các trụ sở tiếp công dân không tổ chức bộ máy riêng mà là đại diện các cơ quan như Văn phòng tỉnh ủy, Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh như vậy luật đã thừa nhận những người tham gia tiếp công dân không phải là chuyên nghiệp, không chịu sự quản lý chung về mặt tổ chức nhân sự mà họ thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm đại diện của các cơ quan khác nhau. Nếu coi đây là cơ quan độc lập thì vô hình chung sẽ tạo ra một cơ quan trung gian giữa người dân với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh như vậy không phù hợp với các quy định khác của dự thảo luật.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 21 dự thảo luật quy định: trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh có đại diện văn phòng tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân các tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham gia tiếp công dân. Tuy nhiên, tại Khoản 2, Điều 36 lại quy định như sau: Đại biểu Quốc hội tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí và theo sự phân công của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội. Với quy định như vậy được hiểu là các đại biểu Quốc hội sẽ tiếp công dân tại một địa điểm riêng, không được quy định vào trong thành phần của trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh.

Để thuận lợi và khả thi trong thực tế, tôi đề nghị dự thảo luật nên quy định: Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội có thể tham gia phối hợp tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh.

Thứ tư, về việc tiếp công dân của Tòa án, Viện kiểm sát các cấp được quy định tại Mục 2, Chương V của dự thảo luật. Tôi đề nghị bổ sung cụm từ "nhân dân" vào sau cụm từ "Tòa án, Viện kiểm sát" ở các tiêu đề cho phù hợp với tên gọi của hệ thống cơ quan Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân như hiện nay.

Việc tiếp công dân của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại dự thảo luật, theo tôi còn có nhiều điểm trùng lặp với các cơ quan tư pháp hoặc lẫn với công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động tư pháp, như tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về tư pháp, tin báo tố giác tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, giết người phạm tội đến tự thú, đầu thú. Tuy nhiên dự thảo mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê trách nhiệm tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức, mà chưa đề cập đến vấn đề cốt lõi của công tác tiếp công dân như quy trình tiếp công dân, cơ chế tiếp công dân của các cơ quan đơn vị này. Đề nghị dự thảo luật quy định cụ thể chi tiết về quy trình tiếp công dân của các cơ quan này, thay vì  liệt kê các trường hợp như trong dự thảo đã nêu. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.

 

Đặng Thuần Phong - Bến Tre

Kính thưa Quốc hội.

Kính thưa đoàn Chủ tịch.

Đối với dự án luật này tôi xin tham gia một số vấn đề như sau. Qua nghiên cứu Tờ tình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật có thể khẳng định đây là dự án luật hết sức cần thiết và hy vọng dự án luật này sẽ tạo điều kiện pháp lý để tổ chức hoạt động tiếp công dân được hoàn thiện, đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn, phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền tiếp nhận giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân.

Về phạm vi điều chỉnh, tôi cảm nhận rằng do quá cầu toàn cho nên chúng ta muốn ôm tất cả các tổ chức hoạt động tiếp công dân hiện có trong xã hội vào hết trong luật này, theo đó chúng ta quy định tổ chức hoạt động tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị rất rộng, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, quyền, nghĩa vụ của người dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh; quyền, nghĩa vụ của người tiếp công dân, địa vị pháp lý của trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân, quản lý công tác tiếp công dân, điều kiện đảm bảo  các hoạt động tiếp công dân. Những quy định này đúng là rất cần thiết, nhưng nó đã vượt xa và chưa gắn với những bức xúc thực tiễn trong công tác khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Số liệu minh chứng từ Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc tiếp công dân của năm 2012 và những tháng đầu năm 2013 cũng đã cho thấy vấn đề này. Trong 175.261 đơn thư khiếu nại, tố cáo, 5.378 đoàn khiếu kiện đông người, trong đó đất đai là 77,51%, còn lại lĩnh vực xã hội và tư pháp khoảng 22,49%, các lĩnh vực tố cáo về hành chính là 93,7%, các lĩnh vực khác chưa đến 7%. Các con số để minh chứng cho số liệu tiếp công dân từ phía tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị xã hội khác, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các đơn vị vũ trang, đơn vị sự nghiệp công, doanh nghiệp có sử dụng vốn và tài sản nhà nước chưa được cập nhật và chưa có số liệu minh chứng, cho nên chưa thể đánh giá và đề xuất những giải pháp đi kèm đối với những tổ chức này.

Từ thực tiễn trên tôi đề nghị nên thu gọn phạm vi điều chỉnh ở luật này là tiếp công dân của các cơ quan công quyền nhà nước, trong đó tập trung ở lĩnh vực hành pháp, lập pháp và tư pháp. Trong hành pháp chúng ta tập chung tiếp công dân của Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các cấp. Lĩnh vực lập pháp là tiếp công dân của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Lĩnh vực tư pháp là tiếp công dân của các cơ quan tiến hành tố tụng gồm điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang, đơn vị sự nghiệp công hoặc doanh nghiệp nhà nước sử dụng vốn ngân sách, sử dụng tài sản nhà nước sẽ tiếp công dân theo yêu cầu của nội bộ ngành mình, các đối tượng này không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự án luật này thì sẽ gọn gàng hơn và sẽ thực hiện đúng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra hiện nay.

Về đối tượng áp dụng ở Điều 2, mục đích công dân quy định ở Điều 5 tôi đề nghị nên bỏ ra khỏi dự thảo luật vì thiếu tính quy phạm, không đúng và cũng lặp lại một số nội hàm đã quy định ở những luật khác và những điều luật đã quy định trong dự án luật này.

Về những vấn đề cụ thể. Đối với nguyên tắc tiếp công dân ở Điều 6. Khoản 1, Điều 6 quy định "tiếp công dân được tiến hành tại trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị", quy định như vậy theo tôi quá cứng và thiếu tính linh động, nó chỉ đúng với cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ tiếp công dân tại trụ sở để thụ lý, ghi nhận hồ sơ, còn đối với những người có thẩm quyền, có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị và phản ánh lại không đúng. Nếu theo quy định này đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ không được tiếp và nhận các khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị tại các cuộc họp tiếp xúc cử tri hoặc lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị sẽ không được tiếp ở nhà riêng, ở những nơi khác như sinh hoạt tổ dân phổ, tổ gia đình tự quản hay những nơi khác mà pháp luật cho phép. Chúng tôi đề nghị nên cân nhắc lại nguyên tắc này.

Vấn đề thứ hai là trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân và địa vị pháp lý của cơ quan này, tại Điều 7, Điều 14, Điều 21 và 25. Ở Khoản 1, Điều 7 chúng ta căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh mà các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân, bố trí cán bộ, công chức, viên chức tiếp công dân, rà soát các điều luật liên quan như Điều 14 trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và nhà nước, Điều 21 tổ chức và trụ sở tiếp công dân của cấp tỉnh, Điều 25 trụ sở tiếp công dân của cấp huyện, còn có nhiều vấn đề chưa tương thích như sau:

Thứ nhất, cơ cấu các cơ quan gồm Văn phòng Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ, Ban dân nguyện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thanh tra Chính phủ, trong đó Thanh tra Chính phủ chủ trì phối hợp, làm thường trực, bố trí, phân công người tiếp công dân. Nhìn tổng thể trụ sở này rất hoành tráng, nhưng nếu dựa theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ thì cần cân nhắc. Ở đây Thanh tra Chính phủ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật. Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng giải quyết các vấn đề tố cáo của đảng viên, các tổ chức Đảng có sai phạm, Ban Dân nguyện theo dõi, đôn đốc, kiến nghị, giám sát các việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Văn phòng Chính phủ chủ yếu tạo điều kiện để thực hiện các nội dung này và chuyển tải các hoạt động cho suôn sẻ. Với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng lại ngồi chung với nhau một chỗ, mà chủ yếu là tiếp nhận và chuyển hồ sơ đến những cơ quan, tổ chức, người đứng đầu, người có thẩm quyền xử lý, giải quyết, như vậy chúng ta thấy có giải quyết được những bức xúc hiện nay không? Cho nên cái này to lớn như thế này mà chủ yếu để tiếp nhận hồ sơ, tôi thấy rất phí và chưa phù hợp. Còn đối với cấp tỉnh và huyện cũng như thế, nên cân nhắc.

Thứ hai, địa vị pháp lý chưa đồng bộ, trụ sở Trung ương có con dấu riêng, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng, trụ sở cấp tỉnh có con dấu riêng, nhưng không có tài khoản và không rõ địa vị pháp lý, trụ sở cấp huyện thì sử dụng con dấu với Văn phòng Ủy ban và cũng không rõ địa vị pháp lý. Tôi cho rằng trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân chỉ là địa điểm tiếp nhận hồ sơ, không phải là nơi có thẩm quyền giải quyết. do vậy, không nên có tư cách pháp nhân và tài khoản, mà chủ yếu nên có con dấu để chúng ta nhận hồ sơ, bàn giao hồ sơ, bên ghi, bên nhận cho công dân đến khiếu nại, tố cáo phản ánh kiến nghị gì đó v.v... mà mọi hoạt động và toàn bộ những điều kiện hoạt động này nên giao cho Văn phòng chịu trách nhiệm đảm bảo, đó là Văn phòng Ủy ban hoặc là Văn phòng Chính phủ.

Vấn đề thứ ba, nên nghiên cứu tiếp công dân để làm gì, cần phải xác định rõ và nếu theo việc này tiếp công dân gồm 4 vấn đề nhận kiến nghị và giải quyết kiến nghị, nhận tố cáo và giải quyết tố cáo, phản ánh và giải quyết phản ánh v.v... 4 nội hàm đó thì trụ sở nơi tiếp công dân chủ yếu là nhận chuyển đến người có thẩm quyền để giải quyết và trả lời, còn cấp giải quyết, trình tự giải quyết, thủ tục giải quyết, cơ chế giải quyết, phương thức giải quyết thì do tổ chức, đơn vị, cơ quan và người đứng đầu xử lý, mà những nội hàm này thì lại chưa có quy định trong dự án luật. Tôi thiết nghĩ phải nên bổ sung đầy đủ.

Vấn đề thứ tư, đề nghị bổ sung thêm các điều quy định về thẩm quyền tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị, thẩm quyền người đứng đầu và cụ thể hóa thêm tổ chức và hoạt động tiếp công dân của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, các cơ quan tư pháp thì những nội hàm này quy định trong dự án luật này còn mờ nhạt. Xin cám ơn Quốc hội.

 

Y Mửi - Kon Tum

Kính thưa Quốc hội,

Tôi thống nhất cao với sự cần thiết ban hành Luật tiếp công dân, tôi tham gia 3 ý kiến sau. Thứ nhất là về nguyên tắc tiếp công dân, tôi thống nhất với các nguyên tắc quy định tại Điều 6, tuy nhiên tôi đề nghị bổ sung làm rõ hơn các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tại Khoản 1, Điều 6 quy định việc tiếp công dân phải được tiến hành tại trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị, quy định này mới chỉ nhấn mạnh đến việc đón tiếp mang tính hành chính tại trụ sở. Trong khi Khoản 5, Điều 9 về trách nhiệm của người đứng đầu lại quy định: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm đi thực tế tiếp xúc với nhân dân để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, giải trình về những ý kiến thắc mắc của nhân dân thuộc thẩm quyền lãnh đạo quản lý của mình.

Như vậy, ngoài trụ sở và nơi tiếp công dân như đã quy định người đứng đầu của cơ quan, đơn vị, tổ chức có thể lựa chọn địa điểm khác, nơi tiếp công dân nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và cơ quan chức năng như tại hội trường thôn, nhà dân, tổ dân phố v.v... Vì vậy, tôi đề nghị tại Khoản 1, Điều 6, bên cạnh các địa điểm như đã quy định trên, đề nghị bổ sung thêm nơi tiếp công dân là địa điểm khác do cơ quan có thẩm quyền tiếp công dân lựa chọn phù hợp.

Thứ hai, tại Khoản 2 Điều 6 quy định: Việc tiếp công dân phải đảm bảo bình đẳng, không phân biệt về giới trong tiếp công dân. Quy định này thể hiện quan điểm lồng ghép giới vào trong Luật Tiếp công dân. Tuy nhiên, thực tế còn rất nhiều đối tượng yếu thế khác trong xã hội cũng cần đảm bảo để cấm hành vi phân biệt, đối xử trong tiếp công dân như công dân là người dân tộc thiểu số, đối tượng vốn chịu nhiều thiệt thòi cần hỗ trợ pháp lý, đối tượng người khuyết tật mà bản thân họ vẫn đảm bảo các hành vi dân sự. Vì thế tôi đề nghị mở rộng nguyên tắc trên bằng quy định, không kỳ thị, không phân biệt trong tiếp công dân.

Tương tự, về các hành vi cấm tại Điểm c Khoản 1 Điều 8 quy định: Cấm phân biệt về giới trong tiếp xúc công dân. Tôi đề nghị mở rộng hành vi cấm kỳ thị, phân biệt trong tiếp công dân như đã nêu trên.

Ý kiến thứ hai, về trụ sở tiếp xúc, trụ sở tiếp công dân và nơi tiếp công dân, tôi thống nhất với ý kiến thẩm tra của Ủy ban Pháp luật về việc không nên xác định trụ sở tiếp công dân như một cơ quan độc lập, với con dấu và tài khoản riêng như quy định tại Chương IV. Đồng thời về thành phần tham gia tiếp công dân tại chương này, tôi tham gia ý kiến về thành phần tham gia tiếp công dân quy định như Khoản 2 Điều 21. Tại khoản này tôi đề nghị bổ sung thêm đại diện của ban thường trực Ủy ban Mặt trật Tổ quốc Việt Nam vì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò rất to lớn trong công tác nắm bắt, theo dõi tình hình khiếu nại tố cáo, kiến nghị của nhân dân và việc giải quyết các vấn đề nêu trên.

Tương tự như vậy, Khoản 1 Điều 25 quy định cứng là Phó Chánh văn phòng phụ trách, theo tôi cần quy định theo hướng mở là do một lãnh đạo văn phòng phụ trách để địa phương thực hiện được thuận lợi.

Ý kiến thứ ba, về cấu trúc của điều luật, dự thảo luật vẫn còn nhiều điều khoản trùng lặp, cần tiếp tục biên tập cho khái quát, cô đọng hơn. Ví dụ tất cả các điều: Khoản 15 Mục I, Điều 19 ở Mục II, Điều 22 ở Mục III, Điều 26 ở Mục IV, Điều 30 ở Mục V và Điều 33 ở Mục VI, tại Chương IV đều quy định về trách nhiệm, nhưng nội dung chủ yếu là quy định mục đích của trụ sở nơi tiếp công dân đó. Nội dung của các điều khoản này giống với Điều 5 chỉ khác về cấp tiếp công dân. Vì vậy tôi đề nghị Ban soạn thảo biên tập gọn lại, những nội dung trùng lặp cho các đối tượng chuyển về một khoản, tập trung quy định rõ hơn phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của người đứng đầu và người được phân công tiếp công dân ở cấp tương ứng.

Trên đây là ý kiến tham gia của tôi đối với dự thảo Luật tiếp công dân. Tôi xin hết ý kiến. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Triệu Thị Thu Phương - Bắc Kạn

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp.

Kính thưa Quốc hội.

Trước hết tôi nhất trí với Tờ trình của Chính phủ về sự cần thiết ban hành Luật tiếp công dân và nhiều nội dung trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật của Quốc hội. Qua nghiên cứu dự án luật, tôi xin có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, về những vấn đề chung và tính khả thi của dự thảo luật. Dự thảo Luật tiếp công dân do Chính phủ trình lần này mặc dù đã cụ thể hóa nhiều nội dung liên quan đến hoạt động tiếp công dân, bổ sung quy định về tiếp công dân của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và một số cơ quan Nhà  nước khác. Song dự thảo Luật tiếp công dân chưa quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành trong công tác tiếp công dân, điều này có thể dẫn đến sự chồng chéo, lúng túng khi thực hiện công tác tiếp nhận và giải quyết kiến nghị, đơn thư của công dân. Vì vậy tôi đề nghị Ban soạn thảo xem xét, thiết kế nội dung này để đưa vào dự thảo luật.

Thứ hai, cần có quy định rõ ràng thống nhất về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức của trụ sở tiếp công dân, bổ sung quy định nhiệm vụ phân loại xử lý đơn thư đối với người phụ trách trụ sở tiếp công dân. Đây là những nội dung quan trọng liên quan trực tiếp đến hoạt động tiếp công dân mà chưa được quy định trong dự thảo luật.

Dự thảo luật đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp công dân, song lại chưa có quy định nào về chế tài xử lý đối với trường hợp cơ quan tiếp công dân hoặc người đứng đầu cơ quan khi không thực hiện các trách nhiệm của  mình để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của luật. Đồng thời tăng thêm ý thức trách nhiêm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp công dân. Tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung các chế tài xử lý đối với trường hợp cơ quan tiếp công dân hoặc người đứng đầu cơ quan khi không thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm của mình. Bên cạnh trách nhiệm của người đứng đầu cần bổ sung quy định về những trường hợp được ủy quyền tiếp công dân và trách nhiệm của người được ủy quyền.

Thứ hai, về các nội dung cụ thể, một là về nguyên tắc tiếp công dân được quy định tại cuối Khoản 2, Điều 6 tôi đề nghị bỏ cụm từ "về giới", vì thực tế cho thấy trong những năm qua giới không phải là vấn đề được coi là hạn chế hoặc có ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân. Hơn nữa trong hoạt động này còn rất nhiều nội dung không được phân biệt như về trình độ, dân tộc, tôn giáo, thành phần v.v... Do đó chỉ cần quy định không được phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân là đủ và có ý nghĩa bao hàm chung, hơn nữa tại Khoản c, Điều 8 các hành vi bị cấm cũng đã quy định cấm phân biệt về giới trong khi tiếp công dân.

Hai, về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tiếp công dân được quy định tại Chương II. Tôi thấy hiện nay trách nhiệm hay thẩm quyền tiếp công dân của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đang được quy định phân tán trong nhiều văn bản khác nhau. Ví dụ như trách nhiệm tiếp công dân của đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được quy định trong Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội. Trách nhiệm tiếp công dân của các thành viên Chính phủ được quy định trong quy chế làm việc của Chính phủ, trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp được quy định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.

Chương tổ chức tiếp công dân trong Luật Khiếu nại, tố cáo hiện nay vẫn chưa bị bãi bỏ. Quy định về thủ trưởng cơ quan nhà nước có trách nhiệm trực tiếp tiếp công dân và tổ chức tiếp công dân. Các quy đinh này chưa đầy đủ, chưa xác định rõ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có trách nhiệm tiếp công dân và chưa phân định cụ thể đây là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức hay của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức đó. Tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định cụ thể những ai có thẩm quyền, trách nhiệm tiếp công dân, phân biệt rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác tiếp công dân ngay trong dự án luật.

Thứ ba, về việc tiếp công dân của bộ được quy đinh tại Điều 18, quy định về bộ phận tiếp công dân còn rất chung chung. Quy định có thể thành lập bộ phận tiếp công dân thuộc thanh tra bộ để làm công tác tiếp công dân, mang tính tùy nghi dẫn đến việc có bộ thành lập, có bộ không sẽ tạo thành cơ cấu tổ chức không thống nhất. Việc này về lâu dài ảnh hưởng đến hoạt động tiếp công dân và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. Vì vậy, tôi đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định thống nhất bộ phận tiếp công dân của bộ, thuộc văn phòng bộ quản lý và giúp bộ trưởng trong việc tiếp công dân để đảm bảo hiệu quả của công tác tiếp công dân.

Bốn, cử người đại diện khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh về nội dung tại trụ sở tiếp công dân, nơi tiếp công dân được quy định tại Điều 51. Tại cuối đoạn 1 Điều 51 có ghi: người đại diện phải là người khiếu nại, tố cáo, người kiếu nghị, người phản ánh. Tôi đề nghị cân nhắc lại quy định này cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Như là Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo vì theo các quy định của pháp luật hiện hành có quy định cơ chế người khiếu nại ủy quyền cho luật sư, người đại diện theo pháp luật khiếu nại thì khi đó luật sư hay người đại diện theo pháp luật không phải là người khiếu nại vẫn có quyền khiếu nại theo nội dung ủy quyền.

Bốn, về điều kiện bảo đảm hoạt động tiếp công dân tại Chương IX, phạm vi áp dụng như quy định trong dự thảo luật này khá rộng. Bao gồm cả các hoạt động tiếp công dân của đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, doanh nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản của nhà nước. Do đó việc quy định kinh phí tronh hoạt động tiếp công dân do ngân sách nhà nước bảo đảm quy định tại Điều 58 của dự thảo luật rất khó khả thi. Hơn nữa quy định về chính sách đầu tư cho hoạt động tiếp công dân cũng chưa rõ về nội dung, cũng như đối tượng thụ  hưởng. Vì vậy tôi đề nghị Ban Soạn thảo xem xét cân nhắc thêm quy định này. Tôi xin hết ý kiến. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.

 

Nguyễn Sỹ Cương - Ninh Thuận

Kính thưa Quốc hội,

Theo gợi ý của Chủ toạ phiên họp, tôi xin đóng góp một số ý kiến cụ thể với Dự thảo Luật Tiếp công dân như sau:

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng. Tôi đồng ý với Báo cáo Thẩm tra của Uỷ ban Pháp luật cho rằng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng như trong dự thảo luật quá rộng. Trong khi tính chất của hoạt động tiếp công dân của từng loại cơ quan, tổ chức, đơn vị lại có những đặc thù nhất định. Mục đích của việc tiếp công dân là gắn với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, mà khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo luôn đi liền với việc xây dựng ban hành và thực thi chính sách pháp luật cũng như thực thi thẩm quyền quản lý hành chính, quản lý nhà nước. Do vậy, ngoài cơ quan Đảng Quốc hội, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước thì các cơ quan tổ chức được xác định là các tổ chức không ban hành chính sách pháp luật, không trực tiếp tham gia quản lý nhà nước và không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo. Nên việc tiếp dân hay hội viên, thành viên của tổ chức mình nên để các tổ chức này tự quy định trong điều lệ quy chế hoạt động của tổ chức mình.

Đối với doanh nghiệp nếu quy định việc tiếp dân của doanh nghiệp thì không chỉ doanh nghiệp có sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản của nhà nước mà cần quy định đối với cả loại doanh nghiệp khác kể cả doanh nghiệp tư nhân. Thực tế cho thấy trong thời gian vừa qua một số doanh nghiệp tư nhân thu mua sản phẩm, trồng trọt, chăn nuôi của dân và nợ tiền của dân để người dân phải biểu tình, phản đối để đòi nợ. Trong trường hợp đó doanh nghiệp phải tiếp dân và giải quyết những thắc mắc của dân. Với đối tượng này theo tôi chỉ cần nêu trong một điều luật theo đó quy định các đối tượng này, các cơ quan tổ chức là phải thực hiện việc tiếp dân mà không cần có thêm các quy định cụ thể về trình tự thủ tục như đối với các cơ quan nhà nước.

Tóm lại, tôi đồng tình với nhiều ý kiến chỉ nên giới hạn quy định trong luật này việc tiếp công dân của các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị nhằm trực tiếp điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước và công dân gắn với thẩm quyền và quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Thứ hai, về trách nhiệm tiếp công dân, vấn đề quan trọng nhất trong công tác tiếp công dân là làm thế nào để nâng cao được ý thức trách nhiệm của cơ quan nhà nước, ý thức trách nhiệm của người đứng đầu cũng như của cán bộ công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ này. Một khi ý thức trách nhiệm được nâng cao thì việc tiếp dân mới đạt được mục tiêu đích thực mà không pháp luật nào có thể điều chỉnh được. Nếu việc tiếp dân chỉ được dựa trên chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực công tác được giao quản lý và lấy chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và lĩnh vực công tác đó làm giới hạn để từ chối việc tiếp dân cũng như việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của người dân, đó là việc làm quá dễ. Nhưng nếu người tiếp dân đó khi tiếp dân mà đồng cảm với dân, gắn với ý thức trách nhiệm thì đó mới là điều người dân thực sự mong đợi.

Tôi xin nêu một ví dụ, người dân mong bộ trưởng tiếp không chỉ là bộ trưởng có quyền to và sẽ giải quyết được ngay khiếu nại của họ liên quan đến lĩnh vực của ngành, mà họ mong bộ trưởng sẽ tiếp nhận, xem xét, giải quyết không chỉ trên cương vị là một bộ trưởng mà là một thành viên của Chính phủ. Khi bộ trưởng ý thức được vai trò là một thành viên Chính phủ thì khiếu nại, tố cáo của họ mặc dù khiếu nại đó có thể không thuộc lĩnh vực công tác mà bộ trưởng được giao, đó hoàn toàn không phải là lý thuyết vì tôi đã cùng bộ trưởng tiếp dân nhiều năm và đã từng giải quyết nhiều khiếu nại mà hoàn toàn không thuộc lĩnh vực công tác của bộ mặc dù đó chỉ là ý kiến đề nghị của một bộ trưởng này đối với một bộ trưởng khác nhiều khi có trọng lượng hơn tiếng nói của người đi khiếu nại.

Mặt khác trong thực tế việc tiếp dân được thực hiện một cách hết sức linh hoạt, trong khi theo những quy định trong dự thảo thì lại cứng nhắc và không hiệu quả. Với tư cách là người đi khiếu nại, tố cáo người dân quan tâm nhiều đến kết quả giải quyết khiếu nại thế nào chứ người ta cũng không quá câu nệ đến người tiếp đó là ai. Tôi đồng tình với ý kiến của đại biểu Cao Đức Phát, đoàn Đắk Lăk quy định bộ trưởng phải tiếp công dân ít nhất 1 ngày trong 1 tháng tại Khoản 4, Điều 10 của dự thảo luật là quá cứng nhắc. Bởi chúng ta làm việc phải theo hệ thống, khi nhận được khiếu nại của công dân thì cơ quan chức năng của bộ sẽ tiếp nhận rồi mới trình lên bộ trưởng để xem xét. Nếu chỉ căn cứ vào một buổi tiếp công dân rồi giải quyết luôn là không ổn, bởi bộ trưởng không thể ngồi nghe rồi giải quyết luôn. Hầu hết các cơ quan thì việc giải quyết tiếp dân hiện nay đều thực hiện theo đề xuất của cơ quan chức năng được giao như thanh tra hay văn phòng.

Thêm vào đó việc giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật cần có thời gian nhất định và có tiếp dân cũng chỉ để lắng nghe những ý kiến của họ hoặc để trả lời kết quả xem xét mà thôi. Thực tế trong nhiều trường hợp người đứng đầu không tiếp mà người khiếu nại vẫn có thể được giải quyết do đó chỉ nên quy định trong Chương II của dự thảo là người đứng đầu có trách nhiệm tổ chức công tác tiếp dân và thực hiện việc tiếp dân khi thấy cần thiết hoặc theo đề xuất của cơ quan chức năng được giao có trách nhiệm tiếp dân của cơ quan mình là đủ.

Thứ ba, về mô hình tổ chức tiếp công dân ở các cơ quan, tổ chức được thể hiện trong dự thảo là sự duy trì mô hình tổ chức tiếp công dân hiện nay theo đề án đổi mới công tác tiếp công dân và Quyết định 858 ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ. Theo Báo cáo tiếp thu, giải trình số 1277 ngày 7 tháng 6 vừa rồi của thanh tra Chính phủ cho rằng mô hình này là phù hợp với thực tiễn và đang phát huy tốt vai trò của  mình. Tôi cho rằng đây là nhận định có phần chủ quan, vì thực tế theo như tôi biết thì đối với cấp tỉnh thì có nhiều tỉnh việc chủ trì và điều hành việc tiếp dân là giao cho Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, nhưng ở một số tỉnh thì lại giao cho thanh tra tỉnh. Theo tôi cần có khối thống kê chính xác và đánh giá một cách toàn diện, sau 3 năm thực hiện Quyết định 858 của Thủ tướng Chính phủ để từ đó đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi và trình Quốc hội về mô hình tổ chức tiếp công dân nhân dịp thông qua dự án luật này. Ý kiến của cá nhân tôi nên thống nhất một hệ thống là thanh tra hay văn phòng chủ trì và điều hành việc tiếp dân ở tất cả các cấp, các ngành mà quan điểm của tôi nên giao cho hệ thống các cơ quan thanh tra các cấp. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.

 

Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Thưa các vị khách quý,

Có 19 vị đại biểu Quốc hội đăng ký và đã có 10 đại biểu phát biểu và các vị khác thì xin gửi lại ý kiến cho Đoàn thư ký. Chúng tôi thấy rằng đây là một dự án luật rất quan trọng Quốc hội đã quyết định trong chương trình toàn khóa XIII và năm 2013. Nhưng qua thảo luận tại tổ và hôm nay ở hội trường thì thấy ý kiến còn khá khác nhau về những vấn đề như đối tượng, phạm vi điều chỉnh, trụ sở tiếp công dân, hệ thống nơi tiếp công dân, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì xin phép không nhắc lại những ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội. Tôi đề nghị thanh tra Chính phủ là cơ quan chủ trì soạn thảo, Ủy ban pháp luật là cơ quan chủ trì thẩm tra sẽ phối hợp chặt chẽ với nhau và làm việc với nhiều cơ quan, tổ chức khác nữa để hoàn chỉnh nâng cấp và có thể nói để trình Quốc hội vào kỳ họp cuối năm nay dự án luật này. Xin cám ơn Quốc hội, mời Quốc hội về nghỉ.

 

(Quốc hội nghỉ trưa)

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting Khu vực quy định Quy định về giá trị chuyển đổi tiền tệ hiện nay- exchange rate Khu vực quy định Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII chiều ngày 11/06/2014

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII chiều ngày 11/06/2014

Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 487
Hôm nay:3563
Hôm qua: 76502
Trong tháng 1725354
Tháng trước2104207
Số lượt truy cập: 88874874