Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII ngày 17/06/2013 lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII ngày 17/06/2013

Lượt xem: 764 Tin đăng ngày: 17/06/2014 Bởi:

Nội dung: Thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam. Việc gia nhập Công ước và nghị định thư Cape Town Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chủ trì điều khiển nội dung, Buổi chiều ngày 17/06/2014

BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG

(Ghi theo băng ghi âm)

 Buổi chiều ngày 17/06/2014

 

 

Nội dung:

Thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật quốc tịch Việt Nam. Việc gia nhập Công ước và nghị định thư Cape Town

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng chủ trì

Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu chủ trì điều khiển nội dung

 

Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Thưa các vị khách quý.

Được sự phân công của Chủ tịch Quốc hội, tôi điều hành phiên họp chiều nay của Quốc hội. Theo chương trình kỳ họp, chiều nay Quốc hội thảo luận tại hội trường về hai dự án luật, một là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam và hai là thảo luận nghị quyết về việc gia nhập Công ước và nghị định thư Cape Town. Theo chương trình có hai nội dung như vậy. Tôi đề nghị chúng ta cứ thảo luận về Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam trước, sau đó nếu không có đại biểu nào góp ý nữa thì chúng ta chuyển sang nội dung thứ hai. Đoàn thư ký kỳ họp cũng đã gửi đến các đại biểu Quốc hội bản tổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam và cũng đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội bản gợi ý thảo luận về dự án luật này. Xin mời các đại biểu Quốc hội đăng ký phát biểu.

Bùi Văn Xuyền - Thái Bình

Kính thưa Chủ tọa kỳ họp,

Kính thưa Quốc hội.

Qua nghiên cứu dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, tôi xin phép tham gia một số ý kiến sau:

Thứ nhất, tôi đồng tình với sự cần thiết cấp bách phải sửa Khoản 2, Điều 13 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật đã nêu để tránh hệ quả xấu đến ngày 1/7 này sẽ có hàng triệu kiều bào sẽ mất quốc tịch theo tinh thần của điều luật này. Tại các cuộc tiếp xúc cử tri trước kỳ họp, chúng tôi nhận được một số ý kiến cử tri băn khoăn, lo lắng về người thân, con em mình đang làm ăn ở nước ngoài sau 1/7 này có thể sẽ bị mất quốc tịch. Do vậy, họ đề nghị Quốc hội quan tâm sửa đổi Luật quốc tịch trong kỳ họp này.

Về nội dung sửa đổi của Khoản 2, Điều 13 Luật quốc tịch năm 2008, theo Tờ trình của Chính phủ sửa đổi theo hướng bãi bỏ thời hạn đăng ký quốc tịch là 5 năm, tính từ ngày Luật quốc tịch năm 2008 có hiệu lực nhưng vẫn giữ nguyên quy định đăng ký giữ quốc tịch đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trước ngày 1/7/2009. Theo quan niệm cá nhân tôi nên theo hướng bãi bỏ quy định đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam  tại Khoản 2 Điều 13 Luật Quốc tịch năm 2008 với các lí do sau :

Thứ nhất, quy định giữ quốc tịch Việt Nam chưa phù hợp với quy định của Luật quốc tịch, kể cả Luật Quốc tịch năm 1998 và Luật Quốc tịch năm 2008 tại Điều 6, Điều 7 về chính sách nhà nước đối với công dân Việt Nam và người Việt Nam đang sinh sống, định cư ở nước ngoài. Đặc biệt Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối ngoại đối với người Việt Nam ở nước ngoài và cũng chưa thật phù hợp với Hiến pháp năm 1992 sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua, đã quy định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời, là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần vào tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước trên thế giới. Nhà nước phải có trách nhiệm thoả thuận với các nước hữu quan để đồng bào ổn định cuộc sống, bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Lí do thứ hai là quy định về đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam là phát sinh thêm các thủ tục hành chính, gây khó khăn và phiền hà cho kiều bào. Trong một số trường hợp có thể tạo ra rào cản cho việc không ổn định làm ăn sinh sống của kiều bào, cụ thể là đối với những người đã được nhập quốc tịch nước ngoài mà nước sở tại đó áp dụng nguyên tắc một quốc tịch. Như vậy công dân của chúng ta không thể đến đăng kí giữ quốc tịch tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, vì họ phải giữ quốc tịch ở nước mà họ đang sinh sống làm ăn. Nếu đăng kí giữ quốc tịch Việt Nam thì có thể ảnh hưởng tới việc giữ quốc tịch của họ ở nước ngoài.

Lí do thứ ba là việc gắn đăng kí giữ quốc tịch với đăng kí công dân theo tinh thần của Luật cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để quản lí công dân Việt Nam ở nước ngoài là không đúng, vì hai luật có phạm vi và đối tượng điều chỉnh khác nhau. Theo tôi, chỉ nên thực hiện việc đăng kí công dân theo quy định của Luật cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với mục đích để nắm và quản lí tình hình công dân Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có nội dung về quản lí quốc tịch và công dân để thực hiện bảo hộ công dân, tạo cơ sở pháp lí cho việc cấp hộ chiếu cho công dân là phù hợp và có tính khả thi hơn.

Lí do thứ tư là trình tự thủ tục đăng kí về giữ quốc tịch theo quy định của Nghị định 78 năm 2009 của Chính phủ cụ thể hoá Luật Quốc tịch năm 2008. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, thực chất là đăng kí cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam theo Luật quốc tịch năm 1998. Tuy nhiên, theo luật năm 2008 đã bỏ quy định này. Theo quan điểm của tôi, kiến nghị Ban soạn thảo có thể nghiên cứu phục hồi quy định cấp giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam cho những người không còn giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam khi họ có yêu cầu cấp giấy xác nhận quốc tịch Việt Nam. Đối với những người mà còn giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam thì đương nhiên họ còn quốc tịch Việt Nam. Như vậy, họ không cần thiết phải đăng ký để có quốc tịch Việt Nam.

Vấn đề thứ ba, tôi đồng tình với việc bãi bỏ Khoản 3, Điều 26 của Luật quốc tịch năm 2008, vì cũng không còn ý nghĩa, nhưng đã sửa đổi Khoản 2, Điều 13 ở phần trên.
Vấn đề thứ tư, quy trình thông qua luật và hiệu lực của luật, tôi đồng tình với Tờ trình của Chính phủ đề nghị Quốc hội cho sửa luật tại kỳ họp này và quy định luật có hiệu lực kể từ ngày công bố theo Điều 78 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Áp dụng nguyên tắc tương tự như trong tình trạng khẩn cấp về phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, vì không còn thời gian từ nay đến 1/7/2014 không còn đủ 45 ngày theo quy định của Điều 78 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, cũng phải áp dụng tương tự như trong thiên tai, dịch bệnh để văn bản có hiệu lực ngay, tránh thời điểm 1/7 này có thể hàng triệu kiều bào ở nước ngoài không còn quốc tịch theo quy định của luật năm 2008. Tôi xin hết. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Nguyễn Thị Kim Thúy - TP Đà Nẵng

Kính thưa Quốc hội,

Tôi thống nhất cao với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch, tôi xin tham gia 2 vấn đề:

Thứ nhất, tôi đề nghị bỏ quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Thực tế cho thấy hàng triệu người Việt Nam với những lý do khác nhau đang sống ở khắp năm châu, bốn biển. Hiện nay đang mở ra khoảng không gian vô tận cho dân tộc ta và cũng đang làm cho chúng ta gắn kết nhiều hơn với thế giới bên ngoài. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một phần máu thịt của Việt Nam. Chúng ta biết cứ mỗi dịp Tết đến, xuân về, những người Việt Nam định cư ở mọi nơi trên thế giới đều tìm cách để trở về với quê cha, đất tổ. Đất nước luôn mở rộng vòng tay để chào đón những người con của mình.

Có thể nói không có gì ngăn cản được những người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước ngày càng gắn bó với nhau. Thực tế này đã được ghi nhận ở Hiến pháp, Điều 18 đó là "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam". Luật quốc tịch Việt Nam quy định "Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú sinh sống lâu dài ở nước ngoài". Như chúng ta biết công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, một trong các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, hộ chiếu Việt Nam, quyết định cho nhập, cho trở lại quốc tịch Việt Nam, quyết định công nhận về việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài, quyết định cho người nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự cũng có quy định quyền có quốc tịch là quyền nhân thân, quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân. Từ cơ sở thực tiễn và pháp lý nêu trên, tôi thiết nghĩ không nên nhìn nhận dự thảo luật này dưới góc độ quản lý nhà nước mà nên dưới góc độ quyền công dân. Phải chăng do không nắm được số liệu cụ thể về người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam nên dự thảo luật vẫn tiếp tục giữ quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Chính điều này gây khó khăn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thể hiện ở chỗ để giữ quyền có quốc tịch của mình bằng việc thực hiện nghĩa vụ bắt buộc là phải đăng ký. Tôi cho rằng một nền pháp luật công bằng phải tính đến sự tuân thủ của người dân.

Luật quốc tịch hiện hành còn coi việc không đăng ký giữ quốc tịch là một trong các căn cứ mất quốc tịch Việt Nam, nhưng gần 5 năm qua tỷ lệ đăng ký rất thấp, chỉ có 6.039 người trên khoảng 4 triệu rưỡi người. Dự thảo luật lần này lại kế thừa quy định đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, nhưng nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài không đăng ký giữ quốc tịch thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và họ vẫn là công dân Việt Nam. Như vậy cho thấy việc đăng ký giữ quốc tịch có cần thiết không, có ý nghĩa gì không. Điều này khiến tôi nhớ lại Nghị quyết 35 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, nghị quyết quy định thời hạn 2 năm để đăng ký kết hôn đối với những trường hợp hôn nhân thực tế từ ngày 3/1/1987 cho đến trước ngày 1/1/2001, sau ngày 1/1/2003 nếu không đăng ký kết hôn thì không công nhận là vợ chồng. Nhưng kết quả thì tỷ lệ đăng ký cũng rất thấp và những trường hợp không đăng ký kết hôn vẫn cứ là vợ chồng, không ai buộc họ phải ở riêng. Qua đó cho thấy một điều để một quy định nào đó hợp pháp thì trước hết phải hợp lý, vì thực tiễn cuộc sống bao giờ cũng đòi hỏi phải hành động theo cái hợp lý, vì cái hợp lý thường tồn tại khách quan. Có như vậy mới đảm bảo tính khả thi của một quyết định,  do đó bỏ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam là hợp lý.

Vấn đề thứ ha, theo quy định của Hiến pháp chỉ có những nhóm quyền về chính trị, về an sinh xã hội, đi lại cư trú trao cho công dân. Các quyền còn lại khác trao cho tất cả mọi người. Vậy để hưởng quyền mà Hiến pháp trao cho công dân thì Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ cần xuất trình một trong các giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong số 6.039 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký giữ quốc tịch chỉ có khoảng 1.000 người là có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam. Như vậy có những người Việt Nam định cư ở nước ngoài tuy họ chưa mất quốc tịch Việt Nam nhưng lại không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam còn giá trị sử dụng. Do đó, họ rất cần việc bảo hộ của nhà nước, tạo điều kiện cho họ đăng ký để được cấp giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.

Việc đăng ký này hết sức cần thiết và nên quy định thủ tục đăng ký phải thật thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực thi các quyền của mình được tốt hơn. Chính vì vậy, tôi đề nghị thay vì đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam như dự thảo nên quy định đăng ký để được cấp giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam là hợp lý theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật. Tôi xin hết, xin cảm ơn Quốc hội.

 

Nguyễn Văn Cảnh - Bình Định

Kính thưa Đoàn chủ tịch,

Kính thưa Quốc hội.

Để góp ý vào dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam, tôi xin có một số ý kiến như sau:

Thứ nhất, về phạm vi và nội dung sửa đổi hiện có ba loại ý kiến khác nhau như trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật:

Ý kiến thứ nhất là không quy định cụ thể thời gian đăng ký giữ quốc tịch.

Ý kiến thứ hai đề nghị gia hạn thêm 5 năm.

Ý kiến thứ ba là bỏ quy định về việc đăng ký quốc tịch.

Tôi đã phát biểu ở tổ và đồng ý với ý kiến thứ hai vì một số lý do như sau:

Trước hết việc quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nhằm mục đích rành mạch hóa tình trạng quốc tịch của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài, thuận lợi hơn cho nhà nước trong việc tổ chức để công dân thực hiện các quyền của mình, thực hiện trách nhiệm bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài như giải trình của Ủy ban pháp luật.

Về ý kiến không quy định cụ thể thời gian đăng ký giữ quốc tịch tôi thấy chưa phù hợp. Vì nếu không quy định cụ thể thời hạn thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam có suy nghĩ không cần thiết phải sớm đăng ký. Vì không thời hạn thì được xem như mãi mãi. Như vậy, mục tiêu để có nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam đăng ký giữ quốc tịch sẽ không đạt kết quả. Không quy định thời hạn cũng cho thấy tính pháp lý của điều luật mình chưa nghiêm. Bên cạnh đó chúng ta cũng bị động không biết đến thời điểm nào nên tổng kết số lượng người đăng ký để đánh giá lại tính hiệu quả của quy định.

Còn một việc chúng ta cần quan tâm nữa là nếu ta quy định có thời hạn đăng ký thì sau này ta chủ động gia hạn thêm tùy vào hoàn cảnh lịch sử. Còn nếu bây giờ ta không quy định thời hạn mà sau này quy định lại thời hạn hay không quy định việc đăng ký giữ quốc tịch nữa thì sẽ gây ra một tâm lý chung là chúng ta có những quy định khó khăn hơn hay đóng lại việc đăng ký đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trong khi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời cộng đồng dân tộc Việt Nam và chúng ta cũng luôn khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài cùng tham gia xây dựng đất nước.

Vì những lý do nêu trên trong 3 loại ý kiến, tôi đề xuất luật quy định theo loại ý kiến thứ hai là giữ quy định về đăng ký quốc tịch và đề nghị cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra xem xét sự hợp lý giữa việc gia hạn thêm 5 năm hay 10 năm để đảm bảo mục tiêu đề ra đạt hiệu quả cao hơn.

Vấn đề thứ hai, làm sao để nâng cao hơn nữa hiệu quả của quy định này, tăng nhanh số lượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký giữ quốc tịch.

Tại Điều 40 của Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành quy định trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, tôi không thấy có quy định trách nhiệm tuyên truyền pháp luật về luật này. Mặc dù chúng ta đã có luật phổ biến giáo dục pháp luật được Quốc hội khóa XIII thông qua, tuy nhiên Luật quốc tịch Việt Nam có một số đối tượng áp dụng đặc thù như người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đây là những đối tượng đặc thù ở những khu vực đặc thù. Vì vậy cần phải điều chỉnh Điều 40 trong Luật quốc tịch Việt Nam, bổ sung vào Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam, trong đó có bổ sung nội dung về trách nhiệm tuyên truyền pháp luật của các cơ quan. Bổ sung trách nhiệm tại Điều 40 sẽ góp phần cho luật sửa đổi lần này đạt được mục tiêu đề ra sớm hơn.

Trong Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật có nêu quy định về đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam nhằm mục đích rành mạch hóa tình trạng quốc tịch của một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuận lợi hơn cho nhà nước trong việc tổ chức để công dân thực hiện các quyền của mình. Ví dụ như quyền bầu cử v.v...

Qua các sự kiện trong nước, chúng ta thấy người Việt Nam định cư ở nước ngoài luôn thể hiện tinh thần yêu nước, luôn hướng về Tổ quốc, tuy nhiên để khuyến khích họ sớm đăng ký giữ quốc tịch thì ngoài quyền bầu cử, theo tôi họ còn quan tâm nhiều hơn nữa đến các quyền và lợi ích khác cho họ và con cháu họ mà Ủy ban Pháp luật chỉ nêu chung chung.

Chúng ta cần tổng kết người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa đăng ký quốc tịch gồm những thành phần nào, nếu họ có nhu cầu về Việt Nam thì vì mục đích gì, kinh doanh hay du lịch, thăm thân nhân, hay để lập gia đình. Tùy theo từng đối tượng mà các cơ quan sẽ có cách thức tuyên truyền phù hợp, ví dụ kinh doanh thì ta nêu một số chính sách ưu đãi đối với người có quốc tịch Việt Nam, đi du lịch thì nêu một số dịch vụ ưu đãi hơn như kèm theo hướng dẫn viên chuyên về ngôn ngữ cho trẻ em gốc Việt, có những nhà hàng đặc sản quê hương với giá ưu đãi. Đối với về thăm thân nhân thì sẽ thuận lợi  hơn trong việc đăng ký tạm trú hay về lập gia đình thì thủ tục đăng ký kết hôn sẽ thuận tiện hơn. Có quốc tịch Việt Nam thì thủ tục nhập, xuất cảnh sẽ đơn giản hơn, luôn bố trí một lối riêng dành cho công dân Việt Nam như ở hải quan của một số nước dành lối đi riêng cho công dân của họ.

Vì có liên quan đến xuất nhập cảnh nên tôi cũng đề nghị bổ sung trách nhiệm của Bộ Công an vào Điều 40 được sửa đổi trong dự thảo luật. Ngoài các nội dung cần được tuyên truyền thì cách thức tuyên truyền cũng cần quan tâm. Đối tượng hướng đến không chỉ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa đăng ký quốc tịch, mà chúng ta cần tuyên truyền đến thân nhân của họ, các chủ tịch hội người Việt Nam ở nước ngoài sử dụng các trang mạng. Bên cạnh đó trang mạng của Bộ Ngoại giao cũng cần có một mục riêng ngay trên trang chủ dành cho người muốn đăng ký giữ quốc tịch. Trong đó quy định hết các trình tự thủ tục và các quyền lợi của họ có được khi họ đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Có như vậy thì việc tuyên truyền sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Lúc đó ta chỉ cần gửi họ địa chỉ website của Bộ Ngoại giao là www.mofa.gov.vn là họ có thể ở bất cứ nơi đâu cũng có thể tìm  hiểu để đăng ký, như vậy kết quả sẽ hiệu quả hơn. Tôi xin hết. Xin cảm ơn Quốc hội.

 

Hà Huy Thông - Thừa Thiên - Huế

Kính thưa Quốc hội,

Tôi nhất trí cơ bản với Tờ trình của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật về Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 và để bổ sung, tôi xin phát biểu thêm mấy điểm sau:

Trước hết cần phải khẳng định Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 rất quan trọng và đã có nhiều điểm tiến bộ so với Luật quốc tịch năm 1988, năm 1998 và các văn bản liên quan đến quốc tịch khác trước đó. Trong đó có gián tiếp thừa nhận 2 quốc tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, không phải bỏ quốc tịch nước ngoài khi đăng ký quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, theo Báo cáo của Chính phủ sau 5 năm có  hiệu lực của luật này mới có hơn 6000 người Việt Nam định cư ở nước ngoài đăng ký quốc tịch Việt Nam. Trong đó chỉ khoảng hơn 1000 hồ sơ có thể xem cấp quốc tịch Việt Nam. Tình trạng này có nhiều lý do, trong đó có thể kể đến một số lý do chính sau:

Thứ nhất, nhiều người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho rằng việc còn quốc tịch Việt Nam là đương nhiên mà không ai có thể tự nhiên bị tước quốc tịch trái với Hiến pháp.

Thứ hai, đã có quốc tịch sở tại nên không có nhu cầu cấp bách đăng ký quốc tịch Việt Nam.

Thứ ba, đã có quốc tịch sở tại nên không có nhu cầu, chưa thấy có lợi ích trong việc đăng ký quốc tịch.

Thứ tư, không biết về quy định mới của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 yêu cầu phải đăng ký trong vòng 5 năm.

Thứ năm, bọn quá khích tuyên truyền không muốn mang con ra đăng ký quốc tịch Việt Nam.

Thứ sáu, như báo cáo của Chính phủ ta chưa lường hết tính thực tiễn và tính phức tạp do chỉ có hơn 90 cơ quan đại diện ở nước ngoài, trong khi bà con ta có ở trên 130 quốc gia, nhiều nơi hẻo lánh xa cơ quan đại diện hoặc không có cơ quan đại diện, bận công ăn việc làm, không thể tự bỏ đi, đi lại tốn kém v.v....

Thứ hai, cần xác định rõ mục đích, yêu cầu bà con đăng ký quốc tịch để làm gì trong khi quốc tịch là quyền của con người, có lẽ do để quản lý là chính, trong đó có làm rành mạch tình trạng quốc tịch của người Việt Nam ở nước ngoài nhưng chúng ta còn hai yêu cầu khác. Thứ nhất, thực hiện chủ trương của Đảng, nhà nước và coi hỗ trợ cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của Việt Nam. Thứ hai, hỗ trợ cho bà con người Việt ở nước ngoài ổn định cuộc sống, tôn trọng luật pháp sở tại, ngày càng lớn mạnh, hướng về Tổ quốc.

Trong một số thống kê của cộng đồng người Việt Nam trên thế giới, hiện nay ta có khoảng 95 triệu người Việt Nam và tiếng Việt đã trở thành thứ tiếng thứ 12, 13 được nói nhiều nhất trên thế giới. Do đó, tôi xin kiến nghị:

Một, sửa đổi Điều 13 của Luật quốc tịch theo hướng bỏ hạn đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam. Tôi xin nói thêm, thực ra tôi cũng không định phát biểu nhưng vì có ý kiến đề nghị nên giữ thời hạn nên tôi phải  nói. Nếu giữ thời hạn nhiều khả năng sẽ trở lại tình trạng như thế này sau 5 năm, thậm chí 10 năm, 20 năm.

Thứ hai, việc sửa Điều 13 của Luật quốc tịch năm 2008 làm cho Khoản 3, Điều 26 quy định ai không đăng ký quốc tịch theo Khoản 2, Điều 13 không còn cơ sở tồn tại, do đó luật cũng nên bỏ luôn Khoản 3, Điều 26.

Thứ ba, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 nếu không sửa kịp thời trước ngày 1/7/2014, nghĩa là 5 năm sau khi luật có hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu người Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài, đặc biệt là có nguy cơ trở thành người không có quốc tịch trên trái đất này ở những nơi chỉ công nhận một quốc tịch hay ở những nơi người ta đang tìm cách hạn chế cấp quốc tịch cho người Việt Nam. Do đó, theo Điều 78 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tôi xin đề nghị Quốc hội cho phép Luật quốc tịch sửa đổi có hiệu lực kể từ khi công bố, nghĩa là trước ngày 1/7/2014. Xin hết. Xin cám ơn Quốc hội.

 

Uông Chu Lưu - Phó Chủ tịch Quốc hội

Kính thưa Quốc hội,

Đến lúc này có 4 đại biểu Quốc hội đăng ký phát biểu về dự án luật này. Dự án luật này đã được các vị đại biểu Quốc hội thảo luận rất kỹ vào chiều ngày 6/6/2014 tại các tổ. Qua bản tập hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, tôi thấy hầu hết các vị đại biểu Quốc hội đều tán thành, nhất trí cao với việc cần thiết phải sửa đổi Khoản 2, Điều 13 và Khoản 3, Điều 26 của Dự án luật để bảo đảm thực hiện quyền công dân có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Hiến pháp năm 2013.

Về nội dung, các vị đại biểu Quốc hội đề nghị nên viết theo quy định là không nên quy định thời hạn, không nên quy định việc đăng kí để công nhận có quốc tịch, mà chỉ để giải quyết các trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà không còn có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của luật này thì đăng kí với cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài để được cấp giấy tờ chứng minh có quốc tịch Việt Nam. Tinh thần này đại biểu Quốc hội nhất trí rất cao, chúng tôi sẽ đề nghị với cơ quan thẩm tra, cơ quan soạn thảo luật Bộ Tư pháp và Bộ Ngoại giao, các cơ quan tổ chức hữu quan nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện dự án luật này để trình Quốc hội thông qua trong phiên họp tới. Các vị đại biểu Quốc hội cũng đề nghị xem xét để có thể bổ sung thêm một số ý liên quan đến vai trò, trách nhiệm quản lí nhà nước của Bộ Tư pháp trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của Bộ Công an trong vấn đề xuất nhập cảnh để bảo đảm quyền có quốc tịch của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Xin phép Quốc hội cho dừng việc thảo luận về Luật Quốc tịch ở đây, chúng ta chuyển sang nội dung thứ hai là thảo luận về gia nhập công ước về quyền lợi quốc tế đối với trang thiết bị lưu động và nghị định thư về những vấn đề cụ thể đối với trang thiết bị tàu bay, ta gọi tắt là Công ước và Nghị định thư Cape Town. Công ước này cũng đã được Quốc hội thảo luận tại tổ vào ngày 6/6/2014, đa số ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội cũng nhất trí cao về sự cần thiết gia nhập Công ước và Nghị định thư Cape Town. Tuy nhiên, trong chương trình hôm nay cũng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội phát biểu thêm cho hai vấn đề:

Một là lợi ích và thách thức của việc Việt Nam khi gia nhập Công ước và Nghị định thư Cape Town.

Hai là về sự tương thích giữa Công ước và Nghị định thư Cape Town với văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành. Xin mời các vị đại biểu Quốc hội đăng kí phát biểu ý kiến.

Nếu không còn đại biểu Quốc hội nào đăng ký phát biểu, xin phép Quốc hội cho phép chúng tôi cân nhắc rất kỹ những ý kiến phát biểu của các vị đại biểu Quốc hội tại tổ. Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo các cơ quan có báo cáo giải trình tiếp thu cụ thể báo cáo lại với Quốc hội khi xem xét thông qua. Xin cảm ơn Quốc hội. Bây giờ mời Quốc hội về nghỉ nghiên cứu tài liệu cho ngày mai.

 

Quốc hội nghỉ.

 

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting Khu vực quy định Quy định về giá trị chuyển đổi tiền tệ hiện nay- exchange rate Khu vực quy định Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII ngày 17/06/2013

bản tổng hợp thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII ngày 17/06/2013

Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 488
Hôm nay:4000
Hôm qua: 76502
Trong tháng 1725791
Tháng trước2104207
Số lượt truy cập: 88875311