Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share hiến pháp cộng hòa nam phi năm 1996 lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

hiến pháp cộng hòa nam phi năm 1996

Lượt xem: 491 Tin đăng ngày: 04/12/1996 Bởi:

Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Nam Phi này được thông qua ngày 04/12/1996 bởi QH Nam Phi và có hiệu lực thi hành từ 04/03/1997. Bản Hiến Pháp thiết lập những nền tảng cho một xã hội cởi mở và dân chủ mà trong đó chính phủ được thiết lập trên cơ sở ý chí của nhân dân, và tất cả công dân đều được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng;

HIẾN PHÁP

 

NƯỚC CỘNG HÒA NAM PHI NĂM 1996

 

 

[-] Mục Lục

 

 

Ghi chú

 

Bản Hiến pháp này được soạn thảo theo Chương 5 của Hiến pháp tạm thời (Luật số 200 năm 1993) Và được thông qua lần đầu tiên bởi Quốc hội lập hiến (the Constitutional Assembly) Vào ngày 8/5/1996. Theo một phán quyết của Tòa án Hiến pháp đưa ra ngày 6/9/1996, dự thảo được đưa ra Quốc hội lập hiến để xem xét lại. Sau đó, dự thảo được sửa đổi cho phù hợp với các nguyên tắc hiến định ghi trong Mục 4 của Hiến pháp tạm thời. Nó được thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 10/12/1996.

 

Mục đích của tiến trình trên là để bảo đảm bản Hiến pháp có tính pháp lý, tính tin cậy và được chấp nhận bởi tất cả nhân dân Nam Phi.

 

Theo nghĩa đó, tiến trình soạn thảo Hiến pháp có sự tham dự của nhiều người dân Nam Phi theo một chương trình tham gia của công chúng rộng lớn nhất từ trước đến nay ở đất nước này. Sau gần 2 năm tham vấn liên tục, các đảng chính trị có đại diện trong Quốc hội lập hiến đã nhất trí về những quy định trong dự thảo mà chứa đựng những ý tưởng từ những công dân bình thường, các tổ chức xã hội dân sự và các đảng chính trị có đại diện và không có đại diện trong Quốc hội lập hiến.

 

Vì vậy, bản Hiến pháp này đại diện cho ý chí tập thể của nhân dân Nam Phi và sự đồng thuận của người dân.

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Chúng tôi, nhân dân Nam Phi,

 

Nhận thức về tình trạng bất công trong quá khứ của mình;

Vinh danh những người đã hy sinh cho công lý và tự do của đất nước chúng ta;

Kính trọng những người đã làm việc để tạo lập và xây dựng đất nước chúng ta; Và Tin tưởng rằng Nam Phi thuộc về tất cả những ai sống trên đất nước này, thống nhất trong sự đa dạng của chúng ta.

Vì vậy, chúng tôi, thông qua những đại diện được bầu ra một cách tự do, thông qua bản Hiến pháp này như là luật tối cao của nước Cộng hòa, nhằm để:

 

• Hàn gắn những sự chia rẽ trong quá khứ và xây dựng một xã hội dựa trên những giá trị dân chủ, công bằng xã hội và các quyền con người cơ bản;

• Thiết lập những nền tảng cho một xã hội cởi mở và dân chủ mà trong đó chính phủ được thiết lập trên cơ sở ý chí của nhân dân, và tất cả công dân đều được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng;

• Thúc đẩy chất lượng sống của tất cả công dân và giải phóng năng lực của mỗi cá nhân; Và

• Xây dựng một nước Nam Phi dân chủ, thống nhất, có vị trí xứng đáng trong đại gia đình các quốc gia có chủ quyền trên thế giới.

 

Cầu Chúa bảo vệ cho nhân dân chúng tôi.

 

Nkosi Sikelel' iAfrika. Morena boloka setjhaba sa heso. God seën Suid-Afrika. God bless Nam Phi. Mudzimu fhatutshedza Afurika. Hosi katekisa Afrika.

 

CHƯƠNG I: CÁC QUY ĐỊNH NỀN TẢNG

 

1. Cộng hòa Nam Phi

 

Cộng hòa Nam Phi là một quốc gia dân chủ, có chủ quyền, được thành lập theo các giá trị sau đây:

 

1. Phẩm giá con người, bảo đảm sự bình đẳng và sự tiến bộ về các quyền và tự do của con người.

 

2. Không có sự phân biệt chủng tộc và sự phân biệt đối xử về giới.

 

3. Tính tối cao của Hiến pháp và pháp quyền.

 

4. Bầu cử phổ thông của người lớn, một danh sách cử tri chung toàn quốc, các cuộc tuyển cử thường kỳ và một cơ chế chính quyền dân chủ đa đảng phái, để bảo đảm trách nhiệm giải trình, tính trách nhiệm và tính công khai.

 

2. Tính tối cao của Hiến pháp

 

Bản Hiến pháp này là đạo luật tối cao của nước Cộng hòa; Các luật hoặc hành động trái với Hiến pháp đều vô hiệu, và các nghĩa vụ quy định trong Hiến pháp phải được thực hiện.

 

3. Quốc tịch

 

1. Có một quốc tịch chung cho mọi người dân Nam Phi.

 

2. Mọi công dân đều:

 

a. Bình đẳng về các quyền, cơ hội và lợi ích của công dân; Và

 

b. Bình đẳng về các nghĩa vụ và trách nhiệm của công dân.

 

3. Việc trao quốc tịch, mất quốc tịch và phục hồi quốc tịch do pháp luật quốc gia quy định.

 

4. Quốc ca

 

Chủ tịch nước Cộng hòa sẽ quyết định về quốc ca qua một tuyên bố.

 

5. Quốc kỳ

 

Quốc kỳ của nước Cộng hòa màu đen, vàng, xanh lá cây, trắng, đỏ và xanh da trời, như được miêu tả và vẽ ở Phụ lục 1.

 

6. Ngôn ngữ

 

1. Những ngôn ngữ chính thức của nước Cộng hòa là Sepedi, Sesotho, Setswana, siSwati, Tshivenda, Xitsonga, Afrikaans, English, isiNdebele, isiXhosa và isiZulu.

 

2. Thừa nhận tình trạng giảm sút mang tính lịch sử việc sử dụng các ngôn ngữ bản địa trong nhân dân, nhà nước phải thực thi các biện pháp tích cực và thực tế để đánh giá thực trạng và thúc đẩy việc sử dụng những ngôn ngữ này.

 

3.

 

a. Chính phủ trung ương và chính quyền các tỉnh có thể sử dụng bất kỳ ngôn ngữ chính thức nào trong quản lý nhà nước, có tính đến tập quán, thực tế áp dụng, phí tổn, các bối cảnh khu vực và sự cân bằng giữa các nhu cầu và sở thích của người dân nói chung hoặc người dân ở từng địa phương; Song chính phủ trung ương và chính quyền mỗi tỉnh phải sử dụng ít nhất hai ngôn ngữ chính thức.

 

b. Chính quyền các đô thị phải tính đến tập quán và sở thích ngôn ngữ của dân chúng trong thành phố.

 

4. Chính phủ trung ương và chính quyền các tỉnh, thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác, phải quy định và giám sát việc sử dụng các ngôn ngữ chính thức. Ngoại trừ trường hợp quy định ở mục (2), tất cả các ngôn ngữ chính thức đều có vị thế bình đẳng phải được đối xử công bằng.

 

5. Một Ban ngôn ngữ xuyên Nam Phi được thành lập theo pháp luật để:

 

a. Thúc đẩy và tạo những điều kiện cho sự phát triển và việc sử dụng:

 

i. Tất cả các ngôn ngữ chính thức;

 

ii. Tiếng Khoi, Nama và San; Và

 

iii. Ngôn ngữ ký hiệu; Và

 

b. Thúc đẩy và bảo đảm sự tôn trọng:

 

i. Tất cả các ngôn ngữ được sử dụng một cách phổ thông ở các đô thị của Nam Phi, bao gồm các thứ tiếng Đức, Hy Lạp, Gujarati, Hindi, Bồ Đào Nha, Tamil, Telegu và Urdu; Và

 

ii. Tiếng A-rập, Do Thái, Sanskrit và các loại ngôn ngữ khác sử dụng vào các mục đích tôn giáo ở Nam Phi.

 

CHƯƠNG II: BỘ LUẬT VỀ QUYỀN

 

7. Các quyền

 

1. Bộ luật về quyền này là hòn đá tảng của dân chủ ở Nam Phi. Nó ghi nhận các quyền của tất cả nhân dân trong đất nước chúng ta và khẳng định những giá trị dân chủ về nhân phẩm, bình đẳng và tự do.

 

2. Nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy và thực hiện các quyền quy định trong Bộ luật về quyền.

 

3. Các quyền trong Bộ luật về quyền phải chịu những hạn chế nêu ở hoặc đề cập đến trong mục 36, và ở những mục khác của Bộ luật.

 

8. Việc áp dụng

 

1. Bộ luật về quyền áp dụng với tất cả các luật và ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cùng tất cả các cơ quan nhà nước khác.

 

2. Các quy định của Bộ luật ràng buộc một thể nhân hoặc pháp nhân có liên quan, có tính đến bản chất của quyền và của bất kỳ nghĩa vụ nào xuất phát từ quyền.

 

3. Khi áp dụng một quy định của Bộ luật về quyền với một thể nhân hoặc pháp nhân như nêu ở mục (2), tòa án có thể:

 

a. Để bảo đảm hiệu lực của một quyền quy định trong Bộ luật, phải áp dụng, hoặc nếu cần thiết phải đưa ra một quy tắc thông luật mới nếu như pháp luật hiện có không bảo đảm tính hiệu lực của quyền đó; Và

 

b. Có thể đưa ra những quy tắc thông luật để giới hạn quyền, với điều kiện là sự hạn chế phải phù hợp với quy định nêu ở đoạn 36 (1).

 

4. Một pháp nhân được hưởng các quyền trong Bộ luật về quyền tùy thuộc vào bản chất của các quyền và bản chất của pháp nhân đó.

 

9. Bình đẳng

 

1. Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật bảo vệ bình đẳng.

 

2. Bình đẳng bao gồm sự hưởng thụ đầy đủ và bình đẳng tất cả các quyền; Và tự do. Để thúc đẩy sự bình đẳng, cần đưa ra và thực thi các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác để bảo vệ hoặc hỗ trợ các cá nhân hoặc các nhóm cá nhân bị thiệt thòi do bị phân biệt, đối xử không công bằng.

 

3. Nhà nước không được phân biệt, đối xử bất công một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại bất kỳ cá nhân nào dựa trên một hoặc nhiều lý do, bao gồm chủng tộc, giới, giới tính, tình trạng thai nghén, sinh nở, nguồn gốc sắc tộc hoặc xã hội, màu da, xu hướng tình dục, tuổi tác, tình trạng bệnh tật, tôn giáo, tín ngưỡng, tư tưởng, văn hóa, ngôn ngữ và dòng dõi.

 

4. Không ai có thể có hành vi phân biệt đối xử bất công một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại bất cứ người nào khác dựa trên một hoặc nhiều lý do quy định ở tiểu mục (3). Nhà nước phải ban hành pháp luật để ngăn chặn và cấm sự phân biệt đối xử không công bằng. * 1

 

5. Sự phân biệt đối xử dựa trên một hoặc nhiều lý do được liệt kê ở tiểu mục (3) Bị coi là bất công trừ khi nó được thừa nhận rằng sự phân biệt đối xử đó là hợp lý.

 

10. Nhân phẩm

 

Mọi người đều có phẩm giá vốn có và có quyền được tôn trọng và bảo vệ phẩm giá của mình.

 

11. Sự sống

 

Mọi người đều có quyền sống.

 

12. Tự do và an ninh cá nhân

 

1. Mọi người đều có quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền này bao gồm:

 

a. Quyền không bị tước tự do một cách tùy tiện hoặc không có lý do chính đáng;

 

b. Quyền không bị giam giữ không qua xét xử;

 

c. Quyền được tự do không phải chịu bất kỳ dạng bạo lực nào xuất phát từ các chủ thể công hoặc tư nhân;

 

d. Quyền không bị tra tấn dưới bất kỳ hình thức nào; Và

 

e. Quyền không bị đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục.

 

2. Mọi người đều có quyền bảo đảm sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần, quyền này bao gồm:

 

a. Quyền được quyết định về vấn đề sinh đẻ;

 

b. Quyền được an toàn về thân thể; Và

 

c. Quyền không bị sử dụng làm thí nghiệm khoa học hoặc y học mà không có sự đồng ý.

 

13. Nô lệ, nô dịch và lao động cưỡng bức

 

Không ai có thể bị bắt làm nô lệ, nô dịch hoặc bị cưỡng bức lao động.

 

14. Sự riêng tư

 

Mọi người đều có quyền về sự riêng tư, bao gồm quyền không bị:

 

a. Lục soát thân thể hoặc nơi ở;

 

b. Khám xét tài sản;

 

c. Thu giữ tài sản; Hoặc

 

d. Can thiệp vào sự riêng tư hoặc sự trao đổi của mình.

 

15. Tự do tôn giáo, tín ngưỡng và quan điểm

 

1. Mọi người đều có quyền tự do lương tâm, tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng và quan điểm.

 

2. Nhà nước hoặc cơ quan nhà nước có thể thực hiện việc giám sát tôn giáo, với điều kiện:

 

a. Sự giám sát đó phải theo các quy tắc mà cơ quan có thẩm quyền đưa ra;

 

b. Sự giám sát thực hiện trên cơ sở hợp lý; Và

 

c. Mọi người có quyền tự do và tự nguyện tham gia.

 

3.

 

a. Mục này không ngăn cản pháp luật thừa nhận:

 

i. Hôn nhân tiến hành theo bất kỳ truyền thống hoặc hệ thống pháp luật gia đình, cá nhân hay tôn giáo nào; Hoặc

 

ii. Các hệ thống luật gia đình và cá nhân thuộc bất kỳ truyền thống nào, hoặc bất kỳ tôn giáo đặc thù nào mà một người tin theo.

 

b. Việc thừa nhận quy định ở đoạn (a) Phải phù hợp với mục này và với các quy định khác của Hiến pháp.

 

16. Tự do biểu đạt

 

1. Mọi người đều có quyền tự do biểu đạt, quyền này bao gồm:

 

a. Tự do báo chí và các hình thức truyền thông khác;

 

b. Tự do tiếp nhận và phổ biến thông tin hoặc ý kiến, quan điểm;

 

c. Tự do sáng tạo nghệ thuật; Và

 

d. Tự do học thuật, tự do nghiên cứu khoa học.

 

2. Các quyền nêu ở khoản (1) Không bao gồm:

 

a. Việc tuyên truyền cho chiến tranh;

 

b. Việc xúi giục bạo lực chết người; Hoặc

 

c. Cổ vũ cho hận thù hoặc phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, giới cũng như việc kích động bạo lực.

 

17. Hội họp, biểu tình và kiến nghị

 

Mọi người đều có quyền hội họp, biểu tình và nêu kiến nghị một cách hòa bình.

 

18. Tự do lập hội

 

Mọi người đều có quyền tự do lập hội.

 

19. Các quyền chính trị

 

1. Mọi công dân đều có quyền tự do lựa chọn về chính trị, trong đó bao gồm các quyền:

 

a. Lập ra một đảng chính trị;

 

b. Tham gia vào các hoạt động, hoặc tuyển dụng các thành viên cho một đảng chính trị; Và

 

c. Vận động cho một đảng chính trị hoặc cho một lý tưởng chính trị.

 

2. Mọi công dân có quyền tham gia các cuộc tuyển cử tự do, công bằng và định kỳ để bầu ra bất kỳ cơ quan lập pháp nào được quy định trong hiến pháp.

 

3. Mọi công dân thành niên có quyền:

 

a. Bầu cử trong các cuộc tuyển cử bầu ra bất kỳ cơ quan lập pháp nào được quy định trong hiến pháp, và được giữ bí mật người mình bầu, và

 

b. Ứng cử và giữ chức vụ trong các cơ quan công quyền nếu được bầu chọn.

 

20. Tư cách công dân

 

Không một công dân nào có thể bị tước quyền công dân.

 

21. Tự do đi lại và cư trú

 

1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại.

 

2. Mọi người đều có quyền xuất cảnh khỏi nước Cộng hòa Nam Phi.

 

3. Mọi người đều có quyền nhập cảnh, ở lại hoặc cư trú ở bất kỳ nơi nào trong nước Cộng hòa Nam Phi.

 

4. Mọi công dân đều có quyền có hộ chiếu.

 

22. Tự do nghề nghiệp, việc làm

 

Mọi công dân đều có quyền lựa chọn nghề nghiệp, việc làm. Việc hành nghề, thương mại hoặc công việc có thể bị quy định bởi luật.

 

23. Các quan hệ lao động

 

1. Mọi người đều có quyền có quan hệ làm việc công bằng.

 

2. Mọi người lao động đều có quyền:

 

a. Thành lập và gia nhập công đoàn;

 

b. Tham gia vào các hoạt động và chương trình của một công đoàn; Và

 

c. Đình công.

 

3. Mọi người sử dụng lao động đều có quyền:

 

a. Thành lập và gia nhập một tổ chức của người sử dụng lao động; Và

 

b. Tham gia các hoạt động và chương trình của một tổ chức của người sử dụng lao động.

 

4. Mọi công đoàn và tổ chức của người sử dụng lao động có quyền:

 

a. Tự quyết định việc quản trị, các chương trình và hoạt động;

 

b. Tổ chức; Và

 

c. Thành lập và gia nhập một liên hiệp.

 

5. Mọi công đoàn và tổ chức của người sử dụng lao động có quyền tham gia vào việc thỏa ước tập thể. Nhà nước có thể ban hành pháp luật để điều chỉnh việc thỏa ước tập thể. Nếu pháp luật đề ra những giới hạn với quyền này thì phải phù hợp với quy định ở mục 36 (1).

 

6. Pháp luật quốc gia có thể thừa nhận những quy định về an ninh công đoàn trong các thỏa ước tập thể. Nếu pháp luật đề ra những giới hạn với quyền này thì phải phù hợp với quy định ở mục

 

36 (1).

 

24. Môi trường

 

Mọi người đều có quyền:

 

a. Sống trong môi trường không nguy hại cho sức khỏe hoặc hạnh phúc; Và

 

b. Bảo vệ môi trường cho lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp thích hợp khác mà:

 

i. Ngăn ngừa ô nhiễm và suy thoái hệ sinh thái;

 

ii. Thúc đẩy sự bảo tồn; Và

 

iii. Bảo đảm sự phát triển bền vững về sinh thái học và việc sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên khi thúc đẩy sự phát triển hợp lý về kinh tế, xã hội.

 

25. Quyền sở hữu

 

1. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản trừ khi điều đó do pháp luật quy định, không luật nào được cho phép tước đoạt tài sản một cách tùy tiện.

 

2. Tài sản chỉ có thể bị trưng dụng nếu pháp luật quy định nhằm các mục đích:

 

a. Phục vụ mục đích công cộng hoặc cho lợi ích chung; Và

 

b. Có sự đều bù thỏa đáng về giá trị và thời gian, theo cách thức mà hai bên thỏa thuận hoặc do người bị ảnh hưởng yêu cầu, hoặc theo quyết định hay sự phê chuẩn của tòa án.

 

3. Giá trị đền bù, thời gian và cách thức đền bù phải công bằng và thích đáng, phản ánh sự cân bằng thích đáng giữa lợi ích công cộng và lợi ích của những người bị ảnh hưởng, có tính đến những bối cảnh liên quan, bao gồm:

 

a. Tình trạng sử dụng tài sản trong hiện tại;

 

b. Lịch sử thủ đắc và sử dụng tài sản;

 

c. Giá trị thị trường của tài sản;

 

d. Mức độ đầu tư trực tiếp và bổ trợ trực tiếp của nhà nước vào việc thủ đắc và việc nâng cao giá trị của tài sản; Và

 

e. Mục đích của việc trưng dụng.

 

4. Phù hợp với những mục tiêu của mục này:

 

a. Lợi ích công cộng bao gồm chính sách của quốc gia với việc cải cách đất đai và những cải tổ nhằm mang đến sự tiếp cận bình đẳng cho mọi người dân Nam Phi với các nguồn tài nguyên thiên nhiên; Và

 

b. Tài sản không chỉ giới hạn ở đất đai.

 

5. Nhà nước phải thực thi các biện pháp lập pháp và các biện pháp thích đáng khác, trong khả năng các nguồn lực sẵn có, để thúc đẩy những điều kiện mà cho phép công dân được tiếp cận với đất đai trên cơ sở công bằng.

 

6. Một người hoặc một cộng đồng sở hữu đất đai bị coi là không hợp pháp do pháp luật hoặc thực tiễn mang tính chất phân biệt đối xử về chủng tộc trong quá khứ có quyền, phù hợp với quy định trong một đạo luật của Nghị viện, hoặc là được sở hữu một cách hợp pháp hoặc là được bồi thường tương ứng.

 

7. Một người hoặc một cộng đồng bị tước quyền sở hữu tài sản sau ngày 19/6/1913 do hậu quả của pháp luật hoặc thực tiễn mang tính chất phân biệt đối xử về chủng tộc trong quá khứ có quyền, phù hợp với quy định trong một đạo luật của Nghị viện, hoặc là được sở hữu một cách hợp pháp hoặc là được bồi thường tương ứng.

 

8. Không quy định nào trong mục này có thể cản trở nhà nước thực hiện các biện pháp pháp lý và các biện pháp khác để thực thi những cải cách về đất đai, nguồn nước, nhằm giải quyết những hậu quả của sự phân biệt đối xử về chủng tộc trong quá khứ, miễn là phải phù hợp với các quy định nêu tại mục 36 (1).

 

9. Nghị viện phải thông qua luật liên quan đến mục (6).

 

26. Nơi ở

 

1. Mọi người có quyền tiếp cận với nhà ở thích đáng.

 

2. Nhà nước phải thực thi biện pháp lập pháp và các biện pháp thích đáng khác, trong khả năng nguồn lực sẵn có, để bảo đảm từng bước tiến bộ việc hiện thực hóa quyền này.

 

3. Không ai có thể bị trục xuất hoặc có thể bị phá hủy nơi ở của họ mà không có lệnh của tòa án ban hành sau khi xem xét bối cảnh có liên quan. Không văn bản pháp luật nào được cho phép trục xuất tùy tiện một người khỏi nơi ở của họ.

 

27. Chăm sóc y tế, lương thực, nước uống và an ninh xã hội

 

1. Mọi người có quyền được tiếp cận với:

 

a. Các dịch vụ sức khỏe, bao gồm chăm sóc sức khỏe sinh sản;

 

b. Lương thực và nước uống đầy đủ; Và

 

c. An sinh xã hội, bao gồm những trợ cấp xã hội thích hợp khác nếu họ không thể tự lo liệu cho bản thân và người phụ thuộc.

 

2. Nhà nước thực thi biện pháp lập pháp và các biện pháp thích đáng khác, trong phạm vi nguồn lực hiện có, để thực hiện từng bước tiến bộ quyền này.

 

3. Không ai có thể bị từ chối chăm sóc y tế khẩn cấp.

 

28. Trẻ em

 

1. Mọi trẻ em đều có quyền:

 

a. Có tên gọi và quốc tịch từ khi sinh ra;

 

b. Được hưởng sự chăm sóc của cha mẹ và gia đình, hoặc sự chăm sóc thay thế phù hợp khi bị tách khỏi môi trường gia đình;

 

c. Được cung cấp dinh dưỡng cơ bản, nơi ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cơ bản;

 

d. Được bảo vệ khỏi sự đối xử tàn bạo, sự bỏ mặc, lạm dụng hoặc sự hành hạ;

 

e. Được bảo vệ khỏi các hình thức bóc lột sức lao động;

 

f. Không bị buộc phải và không được phép làm việc hoặc cung cấp những dịch vụ mà:

 

i. Không phù hợp với một người ở độ tuổi chưa thành niên; Hoặc

 

ii. Rủi ro với hạnh phúc, sự giáo dục, sự phát triển về thể chất, tinh thần hoặc xã hội của trẻ;

 

g. Không bị giam giữ trừ khi đó là biện pháp cuối cùng, trong trường hợp đó, ngoài những quyền mà trẻ em được hưởng quy định ở các mục 12 và 35, trẻ chỉ có thể bị giam giữ trong thời gian ngắn nhất, và có quyền được:

 

i. Giam giữ cách ly với những người đã thành niên từ đủ 18 tuổi trở lên; Và

 

ii. Được tôn trọng nhân phẩm và được quản lý trong những điều kiện có tính đến tuổi của trẻ;

 

h. Được một luật sư do Nhà nước cử trợ giúp và được nhà nước trả chi phí cho các hoạt động tố tụng dân sự nếu cần thiết; Và

 

i. Không bị huy động tham gia trực tiếp vào các cuộc xung đột vũ trang, và được bảo vệ trong các cuộc xung đột vũ trang.

 

2. Những lợi ích tốt nhất của trẻ em có tầm quan trọng nền tảng cho mọi hoạt động liên quan đến trẻ em.

 

3. Trong mục này, “trẻ em” có nghĩa là một người dưới 18 tuổi.

 

29. Giáo dục

 

1. Mọi người có quyền:

 

a. Được hưởng giáo dục cơ bản, bao gồm giáo dục cơ bản cho người lớn; Và

 

b. Được tiếp cận với giáo dục ở các cấp cao hơn mà Nhà nước cần phải nỗ lực bảo đảm dần dần thông qua các biện pháp thích hợp.

 

2. Mọi người có quyền tiếp nhận giáo dục bởi ngôn ngữ chính thức hoặc các ngôn ngữ mà họ chọn trong các cơ sở giáo dục công cộng, nơi mà giáo dục được thực hiện một cách hợp lý. Để bảo đảm sự tiếp cận hiệu quả với giáo dục và thực hiện quyền này, Nhà nước phải xem xét áp dụng tất cả các khả năng giáo dục phù hợp, bao gồm các cơ sở giáo dục trung gian đơn lẻ, có tính đến các yếu tố:

 

a. Sự công bằng;

 

b. Tính thực tế; Và

 

c. Yêu cầu giải quyết những hậu quả của pháp luật và thực tiễn phân biệt đối xử về chủng tộc trong quá khứ.

 

3. Mọi người có quyền được thành lập và vận hành, với kinh phí của riêng mình, các cơ sở giáo dục độc lập mà:

 

a. Không mang tính phân biệt đối xử dựa trên cơ sở chủng tộc;

 

b. Có đăng ký với Nhà nước; Và

 

c. Theo các tiêu chuẩn mà không thấp hơn so với các tiêu chuẩn áp dụng ở các cơ sở giáo dục công lập cùng loại.

 

4. Quy định ở tiểu mục (3) Không loại trừ sự hỗ trợ của nhà nước với các cơ sở giáo dục độc lập.

 

30. Ngôn ngữ và văn hóa

 

Mọi người có quyền sử dụng ngôn ngữ và tham gia đời sống văn hóa mà họ chọn, tuy nhiên, không ai được thực hiện các quyền này theo cách thức không phù hợp với bất kỳ điều khoản nào của Bộ luật về Quyền.

 

31. Các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hóa

 

1. Mọi người thuộc về các cộng đồng ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa không thể bị từ chối quyền cùng với các thành viên khác trong cộng đồng:

 

a. Được hưởng đời sống văn hóa, thực hành tôn giáo và sử dụng ngôn ngữ của họ; Và

 

b. Được thành lập, gia nhập và duy trì các hiệp hội về văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ và các tổ chức xã hội dân sự khác.

 

2. Các quyền nêu ở tiểu mục (1) Không thể được thực hiện theo cách thức trái với bất kỳ quy định nào của Bộ luật về Quyền.

 

32. Tiếp cận thông tin

 

1. Mọi người có quyền tiếp cận với:

 

a. Bất kỳ thông tin nào do Nhà nước nắm giữ; Và

 

b. Bất kỳ thông tin nào do bất kỳ người nào khác nắm giữ mà cần thiết cho việc thực hiện và bảo vệ bất kỳ quyền nào.

 

2. Nhà nước phải ban hành pháp luật để hiện thực hóa quyền này và có thể quy định những biện pháp thích hợp để làm giảm những gánh nặng về tài chính và hành chính cho Nhà nước.

 

33. Hoạt động hành chính công bằng* 3

 

1. Mọi người có quyền bảo đảm có hoạt động hành chính hợp pháp, hợp lý và công bằng về thủ tục.

 

2. Mọi người bị ảnh hưởng tiêu cực bởi hoạt động hành chính có quyền được nhận sự giải thích bằng văn bản.

 

3. Nhà nước phải ban hành pháp luật quốc gia để bảo đảm hiện thực hóa những quyền này, và phải:

 

a. Quy định về việc xem xét lại các hoạt động hành chính bởi tòa án, hoặc nếu phù hợp, một cơ quan tài phán khác độc lập, vô tư;

 

b. Ấn định một nghĩa vụ với Nhà nước trong việc hiện thực hóa các quyền nêu ở các tiểu mục (1) Và (2); Và

 

c. Thúc đẩy một nền hành chính hiệu quả.

 

34. Tiếp cận với tòa án

 

Mọi người có quyền đưa ra và được tòa án giải quyết một cách công khai, công bằng bất kỳ tranh chấp nào, hoặc nếu thích hợp, bởi một cơ quan tài phán khác độc lập, vô tư.

 

35. Những người bị bắt, giam giữ và buộc tội:

 

1. Mọi người bị bắt vì cáo buộc phạm tội có quyền

 

a. Giữ im lặng;

 

b. Được thông báo nhanh chóng:

 

i. Về quyền được im lặng; Và

 

ii. Về hậu quả của việc không giữ im lặng;

 

c. Không bị buộc phải đưa ra hoặc chấp nhận lời khai nào mà có thể được sử dụng để chống lại chính mình;

 

d. Được đưa ra trước tòa càng sớm càng tốt, không chậm hơn:

 

i. 48 giờ kể từ khi bị bắt; Hoặc

 

ii. Kết thúc ngày thứ nhất ở tòa án sau khi hết thời hạn 48 giờ, nếu thời hạn 48 giờ nằm ngoài thời gian hoạt động bình thường của tòa án hoặc vào ngày mà không phải ngày làm việc bình thường của tòa án;

 

e. Được thông báo về lý do bị bắt giữ, việc bị kết tội hay tiếp tục bị bắt giữ hay được trả tự do ngay lần đầu tiên được đưa ra xem xét bởi tòa án; Và

 

f. Được tại ngoại với điều kiện hợp lý, nếu như việc đó không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

 

2. Mọi người bị giam giữ, bao gồm mọi tù nhân đã bị kết án, có quyền:

 

a. Được thông báo nhanh chóng về lý do họ bị giam giữ;

 

b. Được lựa chọn và tư vấn bởi một luật sư và được nhanh chóng thông báo về quyền này;

 

c. Được sự trợ giúp của một luật sư do Nhà nước cử và trả tiền nếu như điều đó cần thiết để thực thi công lý, và được nhanh chóng thông báo về quyền này;

 

d. Được chất vấn tính hợp pháp của việc bắt giữ mình trước tòa án và, nếu việc bắt giữ mình là trái pháp luật, được đòi trả tự do;

 

e. Được bảo đảm các điều kiện giam giữ phù hợp nhân phẩm, bao gồm nơi ở, dinh dưỡng, sự chăm sóc y tế và sách báo thích đáng, với chi phí của nhà nước; Và

 

f. Được liên hệ với và được thăm viếng bởi:

 

i. Vợ, chồng hoặc bạn trai, bạn gái;

 

ii. Người thân trong gia đình;

 

iii. Người cố vấn về tôn giáo do mình lựa chọn; Và

 

iv. Bác sĩ do mình lựa chọn.

 

3. Mọi người bị cáo buộc phạm tội đều có quyền được xét xử công bằng, trong đó bao gồm các quyền:

 

a. Được thông báo về những cáo buộc chống lại mình với những thông tin đủ chi tiết để chuẩn bị bào chữa;

 

b. Được có thời gian và những điều kiện thích đáng để chuẩn bị bào chữa;

 

c. Được xét xử công khai bởi một tòa án thông thường;

 

d. Được đưa ra xét xử và kết án mà không có sự chậm trễ vô lý;

 

e. Được tham dự phiên tòa xét xử mình;

 

f. Được lựa chọn và đại diện bởi một luật sư, và được sớm thông báo về quyền này;

 

g. Được sự trợ giúp của một luật sư do Nhà nước cử và trả tiền nếu như điều đó cần thiết để thực thi công lý, và được nhanh chóng thông báo về quyền này;

 

h. Được suy đoán vô tội, được giữ im lặng và không phải thú tội trong suốt quá trình tố tụng;

 

i. Được đưa ra chứng cứ của mình và phản bác chứng cứ chống lại mình;

 

j. Không bị buộc phải khai nhận hoặc đưa ra chứng cứ chống lại chính mình;

 

k. Được xét xử với ngôn ngữ mà mình hiểu được, hoặc có người phiên dịch để mình hiểu được;

 

l. Không bị kết án vì một hành động hoặc sơ suất mà không bị coi là phạm tội theo pháp luật quốc gia hoặc quốc tế ở thời điểm thực hiện hành động hoặc sơ suất đó;

 

m. Không bị xét xử hai lần về cùng một hành động hay sơ suất cấu thành tội phạm;

 

n. Được hưởng chế tài nhẹ hơn nếu chế tài đã được thay đổi nhẹ hơn so với khi phạm tội; Và

 

o. Được kháng cáo hoặc xem xét lại bản án của mình bởi một tòa án cấp cao hơn.

 

4. Mọi thông tin cung cấp cho một người nêu ở mục này phải bằng ngôn ngữ mà người đó có thể hiểu được.

 

5. Chứng cứ thu thập theo những cách thức vi phạm bất kỳ quyền nào trong Bộ luật về Quyền mà nếu sử dụng sẽ dẫn tới bất công trong xét xử hoặc làm tổn hại đến thực thi tố tụng đều phải bị loại trừ.

 

36. Hạn chế của các quyền

 

1. Các quyền trong Bộ luật về Quyền chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật trong chừng mực hợp lý và công bằng trong một xã hội dân sự và cởi mở dựa trên nhân phẩm, sự bình đẳng và tự do, có tính đến tất cả các yếu tố sau đây:

 

a. Bản chất của quyền;

 

b. Tầm quan trọng của việc giới hạn;

 

c. Bản chất và mức độ của sự giới hạn;

 

d. Mối quan hệ giữa giới hạn và mục đích của nó; Và

 

e. Các biện pháp ít hạn chế hơn nhưng cùng đạt được mục tiêu đó.

 

2. Ngoại trừ quy định nêu ở tiểu mục (1) Hoặc quy định trong bất kỳ điều khoản nào khác của Hiến pháp, không đạo luật nào có thể giới hạn bất kỳ quyền nào được ghi nhận trong Bộ luật về Quyền.

 

37. Những tình trạng khẩn cấp

 

1. Chỉ được tuyên bố tình trạng khẩn cấp theo một đạo luật của Nghị viện, và chỉ khi:

 

a. Sự sống còn của quốc gia bị đe dọa bởi chiến tranh, xâm lược, sự nổi loạn hay hỗn loạn rộng khắp, thảm họa tự nhiên hoặc các tình huống khẩn cấp công cộng khác; Và

 

b. Việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp là cần thiết để lập lại hòa bình và trật tự.

 

2. Một tuyên bố về tình trạng khẩn cấp và bất kỳ đạo luật nào được thông qua hoặc bất kỳ hành động nào khác được thực hiện từ kết quả của tuyên bố đó chỉ có hiệu lực khi:

 

a. Không áp dụng ngay lập tức; Và

 

b. Không quá 21 ngày kể từ khi ra tuyên bố, trừ khi Nghị viện kiên quyết kéo dài hiệu lực. Nghị viện có thể kéo dài hiệu lực của tuyên bố về tình trạng khẩn cấp không quá 3 tháng một lần. Lần kéo dài hiệu lực thứ nhất phải được thực hiện bằng một nghị quyết với đa số nghị sĩ bỏ phiếu tán thành. Bất kỳ lần kéo dài nào sau đó phải được thực hiện bằng một nghị quyết với ít nhất 60% số nghị sĩ bỏ phiếu tán thành. Một nghị quyết theo quy định ở đoạn này chỉ được thông qua sau một cuộc thảo luận công khai tại Nghị viện.

 

3. Bất kỳ tòa án có thẩm quyền nào cũng có thể quyết định về hiệu lực của:

 

a. Một tuyên bố về tình trạng khẩn cấp;

 

b. Bất kỳ sự kéo dài tuyên bố về tình trạng khẩn cấp nào; Hoặc

 

c. Bất kỳ văn bản pháp luật nào được thông qua, hành động nào được thực hiện xuất phát từ tuyên bố về tình trạng khẩn cấp.

 

4. Bất kỳ văn bản pháp luật nào được thông qua xuất phát từ tuyên bố về tình trạng khẩn cấp cũng chỉ tạm đình chỉ việc thực hiện Bộ luật về Quyền nếu:

 

a. Việc tạm đình chỉ như vậy là yêu cầu thực sự xuất phát từ tình trạng khẩn cấp; Và

 

b. Đạo luật đó:

 

i. Phù hợp với các nghĩa vụ của Nam Phi theo Luật quốc tế áp dụng trong trường hợp khẩn cấp;

 

ii. Không trái với quy định ở tiểu mục (5); Và

 

iii. Được công bố trên Công báo ngay khi được thông qua.

 

5. Không một đạo luật nào của Nghị viện cho phép tuyên bố tình trạng khẩn cấp, cũng như không một đạo luật nào được thông qua hoặc bất kỳ hành động nào khác được thực hiện từ kết quả của tuyên bố, có thể cho phép hoặc ủy quyền:

 

a. Bồi thường cho Nhà nước, hoặc bất kỳ người nào khác bị ảnh hưởng bởi bất kỳ hành động trái pháp luật nào;

 

b. Tạm đình chỉ bất kỳ quyền nào ngoài quy định ở mục này; Hoặc

 

c. Tạm đình chỉ bất kỳ quyền nào nêu ở cột 1 của Bảng các quyền không thể bị tạm đình chỉ dưới đây mà quá với giới hạn nêu trong quy định ở cột 3 của Bảng này.

 

Bảng các quyền không thể bị tạm đình chỉ “1 Mục số” “2 Tiêu đề của mục” “3 Giới hạn mà theo đó quyền được bảo vệ” 9 Bình đẳng Không được có sự phân biệt đối xử bất cộng dựa trên cơ sở chủng tộc, màu da, sắc tộc hoặc nguồn gốc xã hội, giới tính, tôn giáo hoặc ngôn ngữ

 

10 Nhân phẩm Toàn vẹn

 

11 Tính mạng Toàn vẹn

 

12 Tự do và an ninh cá nhân Liên quan đến quy định ở các tiểu mục (1) (d) Và (e) Và (2) (c).

 

13 Nô lệ, nô dịch và lao động cưỡng bức Liên quan đến nô lệ, nô dịch

 

28 Trẻ em “Liên quan đến:

 

- quy định ở các tiểu mục (1) (d) Và (e); ” “- các quyền quy định ở các đoạn (i) Và (ii) Của tiểu mục (1) (g); Và

 

- tiểu mục 1 (i) Liên quan đến trẻ em từ 15 tuổi trở xuống”

 

35 Những người bị bắt, giam giữ và buộc tội “Liên quan đến:

 

- các tiểu mục (1) (a), (b) Và (c) Và (2) (d);

 

- các quyền nêu ở các đoạn (a) Đến (o) Của tiểu mục (3), bao gồm đoạn (d)

 

- tiểu mục (4); Và

 

- tiểu mục (5) Liên quan đến việc loại trừ những chứng cứ có thể khiến cho việc xét xử bất công bằng. ”

 

6. Bất cứ khi nào có một người bị giam giữ không qua xét xử do hậu quả của việc tạm đình chỉ quyền xuất phát từ việc tuyên bố tình trạng khẩn cấp, những điều kiện sau đây phải được xem xét:

 

a. Phải liên hệ càng sớm càng tốt với một thành viên đã trưởng thành trong gia đình hoặc một người bạn của người bị giam giữ để thông báo cho họ về việc giam giữ người đó.

 

b. Phải có một thông báo trên Công báo của nhà nước trong vòng 5 ngày kể từ khi giam giữ người đó, nêu rõ tên, địa chỉ nơi người đó bị giam giữ và đề cập đến biện pháp khẩn cấp mà theo đó người này bị giam giữ.

 

c. Người bị giam giữ phải được cho phép lựa chọn và được đến thăm bởi một nhân viên y tế trong bất kỳ thời điểm hợp lý nào.

 

d. Người bị giam giữ phải được cho phép lựa chọn và được đến thăm bởi một người đại diện pháp lý trong bất kỳ thời điểm hợp lý nào.

 

e. Một tòa án phải xem xét việc giam giữ càng sớm càng tốt, không muộn hơn 10 ngày kể từ ngày người đó bị giam giữ, và tòa án phải trả tự do cho người đó trừ khi việc tiếp tục giam giữ là cần thiết để lập lại hòa bình và trật tự.

 

f. Một người bị giam giữ không được trả tự do theo quy định ở đoạn (e), hoặc đoạn này, có thể gửi đơn đề nghị một tòa án xem xét lại việc giam giữ mình trong thời hạn 10 ngày kể từ lần xem xét trước, và toà án phải trả tự do cho người đó trừ khi việc giam giữ họ vẫn cần thiết để lập lại hòa bình và trật tự.

 

g. Người bị giam giữ phải được phép xuất hiện trước khi bất kỳ tòa án nào xem xét việc giam giữ họ, được đại diện bởi một đại diện pháp lý trong quá trình xem xét đó và phải được trình bày những luận điểm phản đối việc tiếp tục giam giữ mình.

 

h. Nhà nước phải nêu lý do giam giữ một người bằng văn bản gửi cho tòa án chứng minh việc giam giữ đó là đúng; Người bị giam giữ phải được cung cấp một bản sao văn bản giải trình đó trước khi tòa án xem xét vụ việc.

 

7. Nếu một tòa án trả tự do cho một người bị giam giữ, người đó không thể bị giam giữ lại với cùng một lý do như trước, trừ khi Nhà nước nêu ra với tòa án một lý do phù hợp khác cho việc tái giam giữ người này.

 

8. Các tiểu mục (6) Và (7) Không áp dụng cho những người không phải công dân Nam Phi và những người bị giam giữ do hậu quả của một cuộc xung đột vũ trang quốc tế. Thay vào đó, Nhà nước phải tuân thủ những nghĩa vụ khác theo luật nhân đạo quốc tế mà liên quan đến việc giam giữ những đối tượng này.

 

38. Thực thi các quyền

 

Bất kỳ đối tượng nào được liệt kê ở mục này đều có quyền tiếp cận với một toà án có thẩm quyền để khiếu nại về việc một quyền trong Bộ luật về Quyền bị đe doạ hoặc bị vi phạm, và toà án có thể đưa ra những phán quyết phù hợp, bao gồm việc tuyên bố các quyền. Những người tiếp cận với một toà án có thể là:

 

a. Bất kỳ người nào hành động vì lợi ích của cá nhân họ;

 

b. Bất kỳ người nào hành động thay mặt cho một người khác mà không thể tự hành động cho họ;

 

c. Bất kỳ người nào hành động với tư cách là một thành viên hoặc một người có lợi ích trong một nhóm hoặc một tầng lớp người nhất định;

 

d. Bất kỳ người nào hành động vì lợi ích công cộng; Và

 

e. Một hiệp hội hành động vì lợi ích của các thành viên của nó.

 

39. Giải thích Bộ luật về Quyền

 

1. Khi giải thích Bộ luật về Quyền, một toà án, cơ quan tài phán hoặc một diễn đàn:

 

a. Phải thúc đẩy các giá trị trong một xã hội dân chủ, cởi mở, dựa trên nhân phẩm, tự do và công bằng;

 

b. Phải tính đến luật quốc tế; Và

 

c. Có thể phải xem xét đến pháp luật nước ngoài.

 

2. Khi giải thích bất kỳ luật nào và khi xây dựng luật chung hay luật tập quán, mọi toà án, cơ quan tài phán và diễn đàn phải thúc đẩy tinh thần, mục đích, nội dung của Bộ luật về Quyền.

 

3. Bộ luật về Quyền không loại trừ bất kỳ quyền và tự do nào khác đã được thừa nhận hoặc quy định bởi luật chung, luật tập quán hoặc luật quy tắc, miễn là các quyền và tự do đó không trái với Bộ luật.

 

* 1. Xem Mục 6 tiểu mục 23 (1).

 

* 2. Tiểu mục (1) Cần được tham chiếu với tiểu mục 23 (2) (a) Của Mục 6 cho tới khi luật quy định ở tiểu mục (2) Được ban hành. Xem Mục 6 tiểu mục 23 (1) Về việc ban hành các quy định và tiểu mục 23 (3) Về việc các quy định mất hiệu lực.

 

* 3. Các tiểu mục (1) Và (2) Cần tham chiếu với tiểu mục 23 (2) (b) Của Mục 6 cho tới khi luật quy định ở tiểu mục (3) Được ban hành. Xem Mục 6 mục 23 (1) Về việc ban hành các quy định và tiểu mục 23 (3) Về việc các quy định mất hiệu lực.

 

CHƯƠNG III: CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP

 

40. Chính phủ của nước Cộng hòa

 

1. Ở nước Cộng hòa, các cơ quan hành hành chính được thiết lập ở trung ương, cấp tỉnh và địa phương có sự phân biệt nhưng tương thuộc lẫn nhau.

 

2. Tất cả cơ quan hành chính phải tuân thủ các nguyên tắc của chương này và phải thực hiện các hoạt động trong phạm vi mà chương này quy định.

 

41. Các nguyên tắc của chính phủ liên hiệp và các quan hệ liên chính quyền

 

1. Tất cả các cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan nhà nước ở mỗi cấp phải:

 

a. Giữ gìn hòa bình, thống nhất và toàn vẹn của nước Cộng hòa;

 

b. Bảo đảm hạnh phúc của người dân nước Cộng hòa;

 

c. Bảo đảm chính quyền các cấp của nước Cộng hòa hiệu quả, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và thông suốt;

 

d. Trung thành với Hiến pháp, nước Cộng hòa và nhân dân;

 

e. Tôn trọng hiện trạng Hiến pháp, các thiết chế, quyền hạn và nhiệm vụ của các cấp chính quyền;

 

f. Không đảm nhận những quyền hạn hay nhiệm vụ nào khác trừ trường hợp được tham chiếu theo quy định của Hiến pháp này;

 

g. Thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ bảo đảm không xâm phạm đến sự toàn vẹn về lãnh thổ, chức năng hay thiết chế của các cấp chính quyền; Và

 

h. Hợp tác với cơ quan khác trong sự tin tưởng và niềm tin bởi:

 

i. Nuôi dưỡng mối quan hệ thân thiện;

 

ii. Trợ giúp và hỗ trợ lẫn nhau;

 

iii. Thông tin, trao đổi ý kiến về những vấn đề chung cùng quan tâm;

 

iv. Phối hợp trong các hoạt động pháp lý cùng nhau;

 

v. Tuân thủ thủ tục đã thống nhất; Và

 

vi. Tránh những thủ tục tố tụng pháp lý chống lại nhau.

 

2. Một đạo luật của Nghị viện phải:

 

a. Thiết lập hoặc bảo đảm về tổ chức, thiết chế nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ liên chính quyền; Và

 

b. Bảo đảm cơ chế và thủ tục phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các tranh chấp liên chính quyền.

 

3. Một cơ quan nhà nước liên quan đến một tranh chấp liên chính quyền phải thực hiện các nỗ lực phù hợp để giải quyết tranh chấp bằng những phương tiện của cơ chế, thủ tục cho vấn đề này và phải nỗ lực hết sức để giải quyết tranh chấp trước khi tiếp cận các thủ tục pháp lý tại tòa án để giải quyết tranh chấp.

 

4. Nếu tòa án không đồng ý rằng những yêu cầu của khoản 3 đã được thực hiện, tòa án có thể chuyển vụ tranh chấp đến các cơ quan nhà nước có liên quan.

 

CHƯƠNG IV— NGHỊ VIỆN (PARLIAMENT)

 

42. Thành phần của Nghị viện

 

1. Nghị viện bao gồm:

 

a. Quốc hội (National Assembly); Và

 

b. Hội đồng dân tộc của các tỉnh (National Council of Provinces).

 

2. Quốc hội và Hội đồng dân tộc các tỉnh tham gia vào quá trình lập pháp theo quy định của Hiến pháp này.

 

3. Quốc hội được được bầu để đại diện cho nhân và bảo đảm chính phủ vì dân theo quy định của Hiến pháp. Quốc hội thực hiện điều này bằng việc lựa chọn Tổng thống, bằng việc xây dựng một diễn đàn quốc gia để xem xét các vấn đề chung, bằng việc thông qua các đạo luật và giám sát hành pháp.

 

4. Hội đồng dân tộc của các tỉnh bảo đảm quyền lợi của tỉnh được thực hiện trong các hoạt động của cơ quan hành chính. Hội đồng thực hiện điều này chủ yếu bằng việc tham gia vào quá trình lập pháp quốc gia, bằng việc xây dựng diễn đàn quốc gia để xem xét các vấn đề chung có ảnh hưởng đến các tỉnh.

 

5. Tổng thống có thể triệu tập Nghị viện họp bất thường ở bất cứ thời điểm nào để thực hiện các công việc đặc biệt.

 

6. Trụ sở của Nghị viện là Cape Town, tuy nhiên, một đạo luật của Nghị viện được thông qua theo quy định tại khoản 1 và khoản 5 của Điều 76 có thể quyết định trụ sở của Nghị viện ở một địa điểm khác.

 

43. Thẩm quyền lập pháp của nước Cộng hòa Ở nước Cộng hòa, thẩm quyền lập pháp:

 

1. Của cơ quan nhà nước ở trung ương được trao cho Nghị viện, được quy định tại Điều 44;

 

2. Của cơ quan nhà nước ở tỉnh được trao cho cơ quan lập pháp cấp tỉnh, được quy định tại Điều 104;

 

3. Của cơ quan nhà nước ở địa phương được trao cho Hội đồng thành phố, được quy định tại Điều 156.

 

44. Thẩm quyền lập pháp trung ương

 

1. Thẩm quyền lập pháp ở trung ương được trao cho Nghị viện

 

a. Trao cho Quốc hội thẩm quyền

 

i. Sửa đổi Hiến pháp;

 

ii. Thông qua các đạo luật về các vấn đề, bao gồm cả các vấn đề về chức năng được liệt kê ở Mục 4 nhưng loại trừ các vấn đề theo Điều 2, các vấn đề về chức năng ở Mục 5; Và

 

iii. Trao quyền lập pháp, trừ thẩm quyền sửa đổi Hiến pháp cho một cơ quan lập pháp ở bất cứ cấp chính quyền nào; Và

 

b. Trao cho Hội đồng dân tộc các tỉnh thẩm quyền:

 

i. Tham gia sửa đổi Hiến pháp theo quy định tại Điều 74;

 

ii. Thông qua quy định pháp luật, theo quy định tại Điều 76, những vấn đề trong phạm vi chức năng được liệt kê tại Mục 4 và những vấn đề mà Hiến pháp yêu cầu được thông qua theo quy định tại Điều 76; Và

 

iii. Xem xét những quy định pháp luật đã được Quốc hội thông qua, theo quy định tại Điều 75.

 

2. Nghị viện có thể can thiệp bằng việc thông qua các văn bản pháp luật theo quy định tại Khoản 1 Điều 76 về những vấn đề chức năng được liệt kê ở Mục 5 trong trường hợp cần thiết:

 

a. Để duy trì an ninh quốc gia;

 

b. Để duy trì sự thống nhất kinh tế;

 

c. Để duy trì tiêu chuẩn quốc gia cần thiết;

 

d. Để thiết lập tiêu chuẩn tối thiểu để cung cấp các dịch vụ; Hoặc

 

e. Để phòng tránh những hoạt động không phù hợp của một tỉnh có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của tỉnh khác hoặc cả quốc gia.

 

3. Lập pháp về những vấn đề thực sự cần thiết hoặc bổ sung để thực hiện hiệu quả các quyền hạn liên quan đến các vấn đề được liệt kê ở Mục 4, cho tất cả các mục đích là xây dựng các văn bản quy phạm về các vấn đề ở Mục: 4. Khi thực hiện thẩm quyền lập pháp, Nghị viện chỉ bị ràng buộc bởi Hiến pháp và phải tuân thủ Hiến pháp và trong khuôn khổ của Hiến pháp.

 

45. Văn bản liên tịch và các ủy ban chung

 

1. Quốc hội và Hội đồng dân tộc các tỉnh phải thành lập các ủy ban chung để ban hành các văn bản liên tịch liên quan đến công việc chung của Quốc hội và Hội đồng, bao gồm các quy định và mệnh lệnh:

 

a. Xác định thủ tục nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lập pháp, bao gồm việc xác định giới hạn thời gian cho việc hoàn thành mỗi bước nhất định trong quá trình này;

 

b. Thành lập ủy ban chung bao gồm các đại biểu từ Quốc hội và

 

Hội đồng dân tộc của các tỉnh để xem xét và báo cáo về các dự luật được dự kiến xây dựng theo các Điều 74 và 75 trong đó tham chiếu đến một ủy ban như vậy;

 

c. Thành lập một ủy ban chung để xem xét lại Hiến pháp ít nhất là thực hiện hàng năm; Và

 

d. Quy định về công việc:

 

i. Ủy ban quy tắc chung;

 

ii. Ủy ban hòa giải;

 

iii. Ủy ban xem xét lại Hiến pháp; Và

 

iv. Bất cứ ủy ban chung nào được thành lập theo quy định tại điểm b.

 

2. Thành viên nội các, thành viên Quốc hội và đại biểu Hội đồng dân tộc các tỉnh có các quyền ưu tiên và miễn trừ trước một ủy ban chung của Quốc hội và Hội đồng như trước Quốc hội hoặc

 

Hội đồng.

 

QUỐC HỘI

 

46. Thành phần và bầu cử

 

1. Quốc hội có số lượng không ít hơn 350 và không quá 400 đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử:

 

a. Được quy định trong luật pháp quốc gia;

 

b. Dựa trên danh sách cử tri phổ thông quốc gia;

 

c. Quy định độ tuổi bầu cử tối thiểu là 18 tuổi; Và

 

d. Kết quả về tổng thể, đại biểu theo tỷ lệ. [Khoản 1 được sửa đổi bởi Đạo luật số 2 năm 2003 và được sửa đổi bởi đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 15 năm 2009]

 

2. Một đạo luật của Nghị viện phải quy định một công thức cho việc xác định số lượng đại biểu Quốc hội.

 

47. Tư cách thành viên

 

1. Mọi công dân có đủ điều kiện để bỏ phiếu bầu Quốc hội thì có đủ tư cách trở thành thành viên của Quốc hội, trừ:

 

a. Những người đã được nhà nước bổ nhiệm hoặc đang thực hiện nhiệm vụ và được nhận lương từ việc được bổ nhiệm hoặc nhiệm vụ đó, bao gồm:

 

i. Tổng thống, Phó Tổng thống, Bộ trưởng và Thứ trưởng; Và

 

ii. Những người đang đảm nhiệm các nhiệm vụ mà tương ứng với nhiệm vụ của một thành viên Quốc hội hoặc được tuyên bố tương ứng với nhiệm vụ của thành viên Quốc hội theo luật định;

 

b. Đại biểu thường trực Hội đồng dân tộc các tỉnh hoặc thành viên của Hội đồng lập pháp cấp tỉnh hoặc Hội đồng thành phố;

 

c. Những người vỡ nợ không có khả năng phục hồi;

 

d. Những người bị Tòa án của nước Cộng hòa tuyên bố có khuyết tật về tâm thần; Hoặc

 

e. Những người sau khi điều này có hiệu lực thi hành bị buộc tội hoặc bị kết án hơn 12 tháng tù giam và không được nộp tiền để bảo lãnh, hoặc ở trong hay ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa nếu hành động cấu thành tội phạm của nước Cộng hòa, nhưng không một ai bị xem là đã bị tuyên án cho đến khi kháng cáo của họ về sự buộc tội hay án phạt đã được xem xét quyết định hoặc cho đến khi thời hạn kháng án đã hết. Việc không đủ tư cách theo quy định tại nội dung này sẽ kết thúc sau 5 năm kể từ khi hoàn thành thụ án.

 

2. Một người không đủ tư cách trở thành thành viên của Quốc hội theo điểm a hoặc b khoản 1 có thể vẫn là ứng cử viên cho Quốc hội theo những giới hạn hoặc điều kiện luật định.

 

3. Một người mất tư cách đại biểu Quốc hội nếu:

 

a. Không còn đủ tư cách;

 

b. Vắng mặt tại Quốc hội mà không xin phép trong những điều kiện mà các văn bản của Quốc hội quy định là sẽ bị mất tư cách đại biểu; Hoặc

 

c. Không còn là thành viên của một đảng mà người đó được đề cử là thành viên Quốc hội. [Khoản 3 được thay thế bởi Điều 2 đạo luật số 2 năm 2003 và được sửa đổi bởi Điều 2 đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 15 năm 2009]

 

4. Vị trí còn trống trong Quốc hội mà theo luật định cần phải được bổ sung. [Khoản 4 sẽ chưa được thi hành cho đến lần bầu cử thứ hai của Quốc hội. Xem Điều 6 (4) Của Mục 6]

 

48. Tuyên thệ hoặc khẳng định

 

Trước khi một thành viên Quốc hội bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình tại Quốc hội, họ phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ theo Hiến pháp, theo đúng quy định tại

 

49. Nhiệm kỳ của Quốc hội

 

1. Quốc hội được bầu có nhiệm kỳ 5 năm.

 

2. Nếu Quốc hội bị giải tán theo quy định tại Điều 50 hoặc khi nhiệm kỳ đã hết thì Tổng thống phải triệu tập và quyết định ngày bầu cử bằng một tuyên bố trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày Quốc hội bị giải tán hoặc hết nhiệm kỳ. Một tuyên bố triệu tập và quyết định ngày bầu cử có thể ban hành trước hoặc sau khi hết hạn nhiệm kỳ Quốc hội. [Khoản 2 được thay thế bởi Điều 1, đạo luật số 2 năm 1999]

 

3. Nếu kết quả bầu cử Quốc hội không được công bố trong thời hạn được quy định tại Điều 190 hoặc tòa án tuyên bố cuộc bầu cử là không hợp pháp thì Tổng thống, bằng một tuyên bố, phải triệu tập và xác định ngày tiến hành cuộc bầu cử khác trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn công bố hoặc ngày tòa án tuyên bố cuộc bầu cử không hợp pháp.

 

4. Quốc hội vẫn có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ từ thời gian bị tuyên bố giải tán hoặc hết nhiệm kỳ cho đến ngày trước ngày đầu tiên của ngày bỏ phiếu Quốc hội tiếp theo.

 

50. Giải tán Quốc hội trước khi hết nhiệm kỳ

 

1. Tổng thống phải giải tán Quốc hội nếu:

 

a. Quốc hội thông qua một nghị quyết giải tán với đa số phiếu tán thành; Và

 

b. Sau 3 năm kể từ khi Quốc hội được bầu. (Khoản 1 sẽ chưa có hiệu lực thi hành cho đến 30 tháng 4 năm 1999. Xem Điều 6 (20), Mục 6)

 

2. Quyền Tổng thống phải giải tán Quốc hội nếu:

 

a. Khuyết vị trí Tổng thống; Và

 

b. Quốc hội không bầu được Tổng thống mới trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày khuyết vị trí Tổng thống.

 

51. Kỳ họp và thời gian ngừng họp

 

1. Sau bầu cử, kỳ họp thứ nhất của Quốc hội phải được tiến hành vào thời điểm do Chánh án tối cao quyết định nhưng không quá 14 ngày kể từ ngày kết quả bầu cử được công bố. Quốc hội phải quyết định thời điểm và khoảng thời gian của mỗi kỳ họp và khoảng thời gian không họp của Quốc hội. [Khoản 1 được thay thế bởi Điều 1, Đạo luật số 34 năm 2001]

 

2. Tổng thống có thể triệu tập Quốc hội họp bất thường vào bất cứ thời điểm nào để giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt.

 

3. Kỳ họp của Quốc hội được phép diễn ra ngoài trụ sở của Nghị viện nhưng chỉ vì các lý do liên quan đến lợi ích công cộng, an ninh hoặc sự thuận tiện và được văn bản quy phạm quy định cho Quốc hội.

 

52. Chủ tịch và Phó Chủ tich

 

1. Ở kỳ họp đầu tiên sau bầu cử, hoặc khi cần thiết bổ nhiệm vị trí còn trống, Quốc hội phải bầu một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch trong số các đại biểu Quốc hội.

 

2. Chánh án Toà án tối cao chủ tọa hoặc chỉ định một thẩm phán chủ tọa việc bầu cử Chủ tịch Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội chủ tọa việc bầu Phó Chủ tịch. [Khoản 2 được thay thế bởi Điều 2, Đạo luật số 34 năm 2001]

 

3. Thủ tục quy định tại phần A mục 3 được áp dụng để bầu Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội.

 

4. Quốc hội có thể bãi nhiệm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Quốc hội bằng nghị quyết. Đa số các đại biểu Quốc hội phải có mặt khi nghị quyết được thông qua.

 

5. Theo quy định và thủ tục, Quốc hội có thể bầu cử người chủ tọa để hỗ trợ cho Chủ tịch và Phó Chủ tịch Quốc hội.

 

53. Quyết nghị

 

1. Trừ trường hợp Hiến pháp có quy định khác:

 

a. Đa số đại biểu Quốc hội phải có mặt trước khi bỏ phiếu tiếp tục một dự luật hoặc sửa đổi một dự luật;

 

b. Ít nhất 1/3 đại biểu phải có mặt trước khi bỏ phiếu về bất cứ vấn đề gì trước Quốc hội;

 

c. Tất cả các vấn đề của Quốc hội được quyết định bởi đa số phiếu.

 

2. Một đại biểu Quốc hội chủ tọa một cuộc họp không thảo luận bỏ phiếu, tuy nhiên:

 

a. Phải quyết định kết quả bỏ phiếu khi có số phiếu ngang bằng nhau về cùng một vấn đề;

 

b. Có thể thảo luận bỏ phiếu để quyết định về một vấn đề khi có sự ủng hộ ít nhất 2/3 đại biểu Quốc hội.

 

54. Quyền của thành viên nội các và Thứ trưởng ở Quốc hội

 

Tổng thống và bất cứ thành viên nào của nội các hoặc thứ trưởng không phải là đại biểu Quốc hội có thể tham dự và phát biểu tại Quốc hội nhưng không có quyền bỏ phiếu. [Điều 54 được thay thế bởi Điều 3, đạo luật số 34 năm 2001]

 

55. Quyền hạn của Quốc hội

 

1. Trong việc thực hiện quyền lập pháp, Quốc hội có thể:

 

a. Xem xét, thông qua, sửa đổi hoặc hủy bỏ bất cứ văn bản nào của Quốc hội; Và

 

b. Khởi thảo hoặc chuẩn bị văn bản quy phạm, trừ các dự luật về tiền tệ.

 

2. Quốc hội phải quy định các cơ chế:

 

a. Bảo đảm các cơ quan hành pháp ở các cấp chính quyền chịu trách nhiệm trước Quốc hội; Và

 

b. Duy trì việc giám sát đối với:

 

i. Việc thực thi của cơ quan hành pháp ở trung ương, bao gồm cả việc thực hiện pháp luật; Và

 

ii. Bất cứ cơ quan nào của nhà nước.

 

56. Bằng chứng hoặc thông tin trước Quốc hội

 

Quốc hội hoặc các ủy ban của Quốc hội có thể:

 

1. Triệu tập bất cứ cá nhân đến Quốc hội để đưa ra bằng chứng về lời tuyên thệ hoặc khẳng định hoặc cung cấp tài liệu;

 

2. Yêu cầu bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào báo cáo;

 

3. Bắt buộc bất cứ cá nhân, tổ chức nào phải tuân thủ lệnh triệu tập hoặc yêu cầu theo điều a hoặc b, theo quy định của pháp luật hoặc quy định, thủ tục; Và

 

4. Nhận đơn thỉnh cầu, sự đại diện hoặc sự đệ trình từ các cá nhân hoặc tổ chức liên quan.

 

57. Sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ của Quốc hội

 

1. Quốc hội có thể:

 

a. Quyết định và kiểm soát sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ; Và

 

b. Xây dựng quy định, thủ tục về nhiệm vụ của mình, tạo điều kiện cho dân chủ đại diện, sự tham gia, trách nhiệm giải trình, minh bạch và sự tham gia của công chúng.

 

2. Các quy định và thủ tục của Quốc hội phải dự liệu:

 

a. Sự thành lập, thành phần, quyền hạn, nhiệm vụ, thủ tục và nhiệm vụ của các ủy ban;

 

b. Sự tham gia vào thủ tục pháp lý của Quốc hội và các ủy ban trực thuộc của các đảng thiểu số đại diện trong Quốc hội theo cách thức nhất quán với sự dân chủ;

 

c. Sự trợ giúp về pháp lý và hành chính đối với mỗi đảng đại diện trong Quốc hội theo tỷ lệ, tạo điều kiện cho các đảng và lãnh tụ đảng thực hiện nhiệm vụ hiệu quả trong Quốc hội; Và

 

d. Sự công nhận lãnh đạo của đảng đối lập lớn nhất trong Quốc hội cũng như lãnh đạo của phe đối lập.

 

58. Quyền ưu tiên

 

1. Các thành viên nội các, Thứ trưởng và thành viên Quốc hội:

 

a. Có quyền tự do ngôn luận tại Quốc hội và các ủy ban trực thuộc theo quy định và thủ tục pháp lý; Và

 

b. Không chịu trách nhiệm dân sự hay hình sự, bị bắt, giam giữ hay bồi thường:

 

i. Về những gì họ đã nói, cung cấp hoặc đệ trình trước Quốc hội hay ủy ban trực thuộc Quốc hội; Hoặc

 

ii. Những gì được tiết lộ như kết quả của những gì họ đã phát biểu, cung cấp hoặc đề trình trước Quốc hội hoặc ủy ban trực thuộc Quốc hội.

 

2. Các quyền ưu tiên khác và quyền miễn trừ của Quốc hội, thành viên nội các và thành viên Quốc hội được quy định bởi pháp luật.

 

3. Lương, trợ cấp và phục cấp cho thành viên Quốc hội được thanh toán từ Quỹ thu nhập quốc dân. [Điều 58 được sửa đổi bởi Điều 4 của Đạo luật số 34 năm 2001]

 

59. Quyền tiếp cận và tham gia của công chúng vào Quốc hội

 

1. Quốc hội phải:

 

a. Tạo điều kiện cho sự tham gia của công chúng vào quá trình lập pháp của Quốc hội và các ủy ban trực thuộc Quốc hội; Và

 

b. Thực hiện nhiệm vụ của mình theo cách thức cởi mở, và tổ chức kỳ họp Quốc hội và các cuộc họp của ủy ban trực thuộc Quốc hội công khai nhưng áp dụng các biện pháp khả thi có thể áp dụng:

 

i. Quy định quyền tiếp cận của công chúng bao gồm việc tiếp cận của truyền thông đến Quốc hội và các ủy ban thuộc Quốc hội; Và

 

ii. Chuẩn bị cho việc tìm kiếm một cá nhân ở những địa điểm phù hợp, từ chối tiếp cận hoặc hủy bỏ thông tin về một cá nhân.

 

2. Quốc hội không thể không cho phép công chúng, bao gồm truyền thông tham gia kỳ họp của một ủy ban trừ phi điều này là hợp lý và công bằng trong một xã hội cởi mở và dân chủ.

 

Hội đồng dân tộc của các tỉnh

 

60. Thành phần của Hội đồng dân tộc

 

1. Hội đồng dân tộc của các tỉnh được được tạo thành từ một đoàn đại biểu của mỗi tỉnh bao gồm 10 đại biểu.

 

2. Mười đại biểu là:

 

a. Bốn đại biểu đặc biệt bao gồm:

 

i. Thủ hiến của các tỉnh, hoặc nếu Thủ hiến không tham dự, bất cứ thành viên nào của cơ quan lập pháp cấp tỉnh được Thủ hiến chỉ định vì công việc chung hoặc công việc cụ thể trước

 

Hội đồng dân tộc của các tỉnh; Và

 

ii. Ba đại biểu đặc biệt khác; Và

 

b. Sáu đại biểu thường trực được bổ nhiệm theo khoản 2 Điều 61.

 

3. Thủ hiến của một tỉnh, hoặc nếu Thủ hiến không tham dự, một thành viên của đoàn đại biểu cấp tỉnh được Thủ hiến bổ nhiệm đứng đầu đoàn đại biểu.

 

61. Sự phân bổ các đại biểu

 

1. Các đảng đại diện trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh được phân bổ số đại biểu trong đoàn đại biểu cấp tỉnh theo công thức được quy định ở phần B, Mục: 2. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh trong thời hạn 30 ngày kể từ sau khi kết quả bầu cử được công bố phải:

 

a. Xác định số lượng đại biểu của mỗi tỉnh là đại biểu thường trực và số lượng đại biểu đặc biệt theo quy định của pháp luật; Và

 

b. Bổ nhiệm đại biểu thường trực theo sự đề cử của các đảng phái. [Khoản 2 được bổ sung bởi Điều 1, đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 năm 2008]

 

3. Cơ quan lập pháp ở trung ương phải dự liệu điểm a, khoản 2 bảo đảm sự tham gia của các đảng thiểu số trong thành phần đại biểu thường trực và đại biểu đặc biệt theo cách thức thống nhất với nền dân chủ.

 

4. Cơ quan lập pháp cùng thống nhất với thủ hiến và lãnh đạo của các đảng xác định đại biểu thường trực trong đoàn đại biểu mỗi tỉnh, phải bổ nhiệm đại biểu đặc biệt theo yêu cầu về thời gian từ những thành viên của cơ quan lập pháp.

 

62. Đại biểu thường trực

 

1. Một người được đề cử là đại biểu thường trực phải có đủ điều kiện trở thành thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

2. Nếu một cá nhân là thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh được bổ nhiệm là đại biểu thường trực thì sẽ ngừng làm nhiệm vụ thành viên của cơ quan lập pháp.

 

3. Đại biểu thường trực được bổ nhiệm trong một nhiệm kỳ sẽ hết hạn:

 

a. Ngay lập tức trước kỳ họp đầu tiên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh sau cuộc bầu cử nhiệm kỳ tiếp theo của cơ quan lập pháp. [Khoản 3 được sửa đổi bởi Điều 2 của đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 năm 2008]

 

4. Một người sẽ không làm đại biểu thường trực nếu người đó:

 

a. Không còn là thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh vì bất cứ lý do nào ngoài lý do bổ nhiệm làm thành viên thường trực;

 

b. Trở thành thành viên nội các;

 

c. Mất tín nhiệm của cơ quan lập pháp cấp tỉnh và bị đảng đã đề cử triệu hồi;

 

d. Không còn là đại biểu của đảng đề cử và bị đảng này triệu hồi;

 

e. Vắng mặt tại Quốc hội mà không xin phép trong những trường hợp mà theo quy định của Hội đồng sẽ bị bãi nhiệm là đại biểu thường trực.

 

5. Vị trí trống của đại biểu thường trực phải được bổ sung theo quy định của pháp luật.

 

6. Trước khi đại biểu thường trực làm nhiệm vụ tại Hội đồng dân tộc của các tỉnh, họ phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp theo định tại Mục: 63. Kỳ họp của Hội đồng dân tộc

 

1. Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể quyết định thời điểm và khoảng thời gian của các kỳ họp và thời gian không tổ chức kỳ họp.

 

2. Tổng thống có thể triệu tập kỳ họp bất thường của Hội đồng dân tộc các tỉnh vào bất cứ thời điểm nào để giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt.

 

3. Kỳ họp của Hội đồng dân tộc các tỉnh được cho phép tổ chức ở nơi khác ngoài trụ sở của Nghị viện vì lý do lợi ích công cộng, an ninh hoặc sự thuận tiện, nếu đã được dự kiến trong các quy định của Hội đồng.

 

64. Chủ tịch và Phó Chủ tịch

 

1. Hội đồng dân tộc của các tỉnh phải bầu Chủ tịch và hai Phó Chủ tịch từ các đại biểu.

 

2. Chủ tịch và một trong hai Phó Chủ tịch được bầu cử từ số đại biểu thường trực trong nhiệm kỳ 5 năm trừ khi nhiệm kỳ của đại biểu kết thúc sớm hơn.

 

3. Một Phó Chủ tịch khác được bầu cử trong nhiệm kỳ một năm và phải được kế tiếp bởi một đại biểu từ một tỉnh khác, vì vậy mỗi tỉnh sẽ được đại diện theo thứ tự.

 

4. Chánh án tối cao phải chủ tọa hoặc đề cử thẩm phán khác chủ tọa việc bầu cử Chủ tịch. Chủ tịch chủ tọa việc bầu cử các Phó Chủ tịch. [Khoản 4 được thay thế bởi Điều 5 của đạo luật số 34 năm 2001]

 

5. Thủ tục quy định tại Phần A, Mục 3 được áp dụng trong việc bầu cử Chủ tịch và các Phó Chủ tịch.

 

6. Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể bãi miễn Chủ tịch và các Phó

 

Chủ tịch.

 

7. Theo quy định của pháp luật, Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể bầu cử từ các đại biểu các thành viên chủ tọa nhằm trợ giúp cho Chủ tịch và các Phó Chủ tịch.

 

65. Quyết nghị

 

1. Trừ trường hợp Hiến pháp có quy định khác:

 

a. Mỗi tỉnh có một lá phiếu, trưởng đoàn đại biểu của mỗi tỉnh đại diện bỏ phiếu; Và

 

b. Mọi vấn đề trước Hội đồng dân tộc được tán thành khi ít nhất có 5 phiếu của mỗi tỉnh ủng hộ vấn đề.

 

2. Một đạo luật của Nghị quyết, được ban hành theo thủ tục được quy định tại điểm 1 hoặc điểm 2 của Điều 76 phải dự kiến quy định về quy định thủ tục thống nhất theo cơ quan lập pháp cấp tỉnh chuyển giao thẩm quyền cho đoàn đại biểu đại diện bỏ phiếu. * 1

 

66. Sự tham gia của các thành viên cơ quan điều hành trung ương

 

1. Thành viên nội các và Thứ trưởng có thể tham dự và phát biểu tại Hội đồng dân tộc của các tỉnh nhưng không có quyền bỏ phiếu.

 

2. Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể yêu cầu một thành viên nội các, một Thứ trưởng, hoặc một quan chức của cơ quan điều hành trung ương hoặc cơ quan điều hành cấp tỉnh tham dự một cuộc họp của Hội đồng hoặc một ủy viên của Hội đồng.

 

67. Sự tham gia của đại diện chính quyền địa phương

 

Không quá 10 đại diện được phân công của chính quyền tham gia bán thời gian theo quy định tại Điều 163 để đại diện các lĩnh vực khác nhau của chính quyền thành phố có thể tham gia khi cần thiết theo quy trình của Hội đồng dân tộc của các tỉnh nhưng không có quyền bỏ phiếu.

 

68. Quyền hạn của Hội đồng dân tộc

 

Trong việc thực hiện quyền hạn lập pháp, Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể:

 

1. Xem xét, thông qua, sửa đổi hoặc đề xuất, sửa đổi hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm của Hội đồng theo quy định của chương này; Và

 

2. Khởi thảo hoặc chuẩn bị văn bản quy phạm trong phạm vi chức năng được liệt kê tại Mục 4 hoặc văn bản quy phạm khác tham chiếu tại Khoản 3 Điều 76 nhưng không khởi thảo hoặc chuẩn bị dự thảo luật về tài chính.

 

69. Bằng chứng hoặc thông tin trước Hội đồng dân tộc

 

Hội đồng dân tộc của các tỉnh hoặc các ủy ban trực thuộc Hội đồng có thể:

 

1. Triệu tập bất cứ cá nhân nào đến Quốc hội để đưa ra bằng chứng về lời tuyên thệ hoặc lời khẳng định hoặc để cung cấp tài liệu;

 

2. Yêu cầu bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào báo cáo;

 

3. Bắt buộc bất cứ cá nhân, tổ chức nào phải tuân thủ lời triệu tập hoặc yêu cầu theo mục a hoặc b, theo quy định của pháp luật hoặc quy định, thủ tục; Và

 

4. Nhận đơn thỉnh cầu, sự đại diện hoặc sự đệ trình từ các cá nhân hoặc tổ chức liên quan.

 

70. Sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ của Hội đồng dân tộc

 

1. Hội đồng dân tộc có thể:

 

a. Quyết định và kiểm soát sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ; Và

 

b. Xây dựng quy định, thủ tục về nhiệm vụ của mình, tạo điều kiện cho dân chủ đại diện, sự tham gia, trách nhiệm giải trình, minh bạch và sự tham gia của công chúng.

 

2. Các quy định và thủ tục của Hội đồng dân tộc phải dự liệu:

 

a. Sự thành lập, thành phần, quyền hạn, nhiệm vụ, thủ tục và nhiệm vụ của các ủy ban;

 

b. Sự tham gia của tất cả các tỉnh vào các quy trình phù hợp với yêu cầu dân chủ.

 

c. Sự tham gia vào thủ tục pháp lý của Hội đồng và các ủy ban trực thuộc của các đảng thiểu số đại diện trong Hội đồng theo cách thức nhất quán với sự dân chủ, về bất cứ vấn đề nào được quyết định theo Điều 75.

 

71. Quyền ưu tiên

 

1. Các đại biểu của Hội đồng dân tộc các tỉnh và những thành viên khác được quy định tại Điều 66 và Điều 67:

 

a. Có quyền tự do ngôn luận tại Hội đồng và các ủy ban trực thuộc theo quy định và thủ tục pháp lý; Và

 

b. Không chịu trách nhiệm dân sự hay hình sự, bị bắt, giam giữ hay bồi thường:

 

i. Về những gì họ đã nói, cung cấp hoặc đệ trình trước Quốc hội hay ủy ban trực thuộc Hội đồng; Hoặc

 

ii. Những gì được tiết lộ như kết quả của những gì họ đã phát biểu, cung cấp hoặc đệ trình trước Hội đồng hoặc ủy ban trực thuộc Hội đồng.

 

2. Các quyền ưu tiên khác và quyền miễn trừ của Hội đồng, đại biểu

 

Hội đồng và thành viên Hội đồng được quy định của pháp luật.

 

3. Lương, trợ cấp và phục cấp cho thành viên Hội đồng được thanh toán từ Quỹ thu nhập quốc dân.

 

72. Quyền tiếp cận và tham gia của công chúng vào Hội đồng

 

1. Hội đồng phải:

 

a. Tạo điều kiện cho sự tham gia của công chúng vào quá trình lập pháp của Hội đồng và các ủy ban trực thuộc Hội đồng; Và

 

b. Thực hiện nhiệm vụ của mình theo cách thức cởi mở, và tổ chức kỳ họp Hội đồng và các cuộc họp của ủy ban trực thuộc Hội đồng công khai nhưng áp dụng các biện pháp khả thi có thể áp dụng:

 

i. Quy định quyền tiếp cận của công chúng bao gồm việc tiếp cận của truyền thông đến Hội đồng và các ủy ban thuộc Hội đồng; Và

 

ii. Chuẩn bị cho việc tìm kiếm một cá nhân ở những địa điểm phù hợp, từ chối tiếp cận hoặc hủy bỏ thông tin về một cá nhân.

 

2. Hội đồng có thể không cho phép công chúng, bao gồm giới truyền thông, tham gia kỳ họp của một ủy ban với điều kiện sự từ chối là hợp lý và công bằng trong một xã hội cởi mở và dân chủ.

 

Quy trình lập pháp quốc gia

 

73. Tất cả các dự luật

 

1. Bất cứ dự luật nào cũng có thể được đưa ra tại Quốc hội.

 

2. Chỉ một thành viên nội các hoặc một thứ trưởng hoặc một thành viên hoặc một ủy ban của Quốc hội có thể đưa ra dự luật tại Quốc hội nhưng chỉ một thành viên nội các chịu trách nhiệm về vấn tài chính có thể đưa ra những dự luật dưới đây tại Quốc hội:

 

a. Dự luật về tiền tệ; Hoặc

 

b. Một dự luật quy định cụ thể trong Điều 214. [Khoản 2 được thay thế bởi Điều 1 của Đạo luật số 61 năm 2001]

 

3. Một dự luật tham chiếu đến khoản 3 Điều 76 có thể được đưa ra trước Hội đồng dân tộc của các tỉnh, trừ một dự luật quy định tại điểm a hoặc b khoản 2 Điều này. [Khoản 3 được thay thế bằng Điều 1, đạo luật số 61 năm 2001]

 

4. Chỉ một thành viên hoặc Ủy ban của Hội đồng dân tộc của các tỉnh có thể đưa ra dự luật tại Hội đồng.

 

5. Một dự luật được Quốc hội thông qua phải được chuyển đến Hội đồng dân tộc của các tỉnh nếu dự luật này chắc chắn phải được Hội đồng xem xét. Một dự luật được Hội đồng thông qua phải chuyển đến Quốc hội.

 

74. Các dự luật sửa đổi Hiến pháp

 

1. Điều 1 và các điều dưới đây có thể được sửa đổi bởi một dự luật được thông qua bởi:

 

a. Quốc hội khi có 75% đại biểu bỏ phiếu tán thành; Và

 

b. Hội đồng dân tộc của các tỉnh khi có ít nhất 6 tỉnh bỏ phiếu tán thành.

 

2. Chương 2 có thể được sửa đổi bởi một dự luật được thông qua bởi:

 

a. Quốc hội khi có ít nhất 2/3 số đại biểu bỏ phiếu tán thành; Và

 

b. Hội đồng dân tộc của các tỉnh khi có ít nhất 6 tỉnh bỏ phiếu tán thành.

 

3. Các điều khoản khác của Hiến pháp có thể được sửa đổi bằng một dự luật được thông qua bởi:

 

a. Quốc hội với tối thiểu 2/3 đại biểu bỏ phiếu tán thành; Và

 

b. Hội đồng dân tộc của các tỉnh với ít nhất 6 tỉnh bỏ phiếu tán thành nếu việc sửa đổi:

 

i. Liên quan đến một vấn đề có tác động dến Hội đồng;

 

ii. Thay đổi địa giới, quyền hạn, nhiệm vụ, hoặc tổ chức; Hoặc

 

iii. Sửa đổi một điều khoản để giải quyết vấn đề cụ thể của một tỉnh.

 

4. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể không bao gồm các điều khoản ngoài việc sửa đổi hoặc các vấn đề liên quan đến việc sửa đổi.

 

5. Ít nhất 30 ngày trước khi một dự luật sửa đổi Hiến pháp được đưa ra theo khoản 2 Điều 73, cá nhân hoặc ủy ban dự định đưa ra dự luật phải:

 

a. Công bố trên Công báo của chính quyền trung ương theo quy định và thủ tục của Quốc hội, các sửa đổi cụ thể được đề xuất để lấy ý kiến góp ý của công chúng;

 

b. Đệ trình cơ quan lập pháp cấp tỉnh các chi tiết sửa đổi để cơ quan này đưa ra các quan điểm, theo quy định và thủ tục của Quốc hội; Và

 

c. Đệ trình Hội đồng dân tộc của các tỉnh các chi tiết sửa đổi để tranh luận rộng rãi theo quy định và thủ tục của pháp luật nếu những đề xuất sửa đổi không phải là những sửa đổi yêu cầu phải được Hội đồng thông qua.

 

6. Khi một dự luật sửa đổi Hiến pháp được đưa ra, cá nhân hoặc ủy ban đưa ra dự luật phải đệ trình các nhận xét bằng văn bản từ công chúng và cơ quan lập pháp cấp tỉnh:

 

a. Đến Chủ tịch để đệ trình Quốc hội; Và

 

b. Về những sửa đổi liên quan đến điểm 1,2 hoặc 3 (b), đến Chủ tich Hội đồng dân tộc của các tỉnh để đệ trình Hội đồng.

 

7. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp có thể không phải đưa ra biểu quyết tại Quốc hội trong thời hạn 30 ngày của:

 

a. Việc đưa ra dự thảo nếu Quốc hội được tổ chức kỳ họp khi dự thảo được đưa ra;

 

b. Đệ trình dự thảo tại Quốc hội nếu Quốc hội đang trong thời gian không họp khi dự thảo được đưa ra.

 

8. Nếu một dự luật tham chiếu đến điểm b Điều 3 hoặc nội dung của dự luật liên quan đến một tỉnh cụ thể hoặc các tỉnh, Hội đồng dân tộc có thể không thông qua dự luật hoặc phần liên quan trừ khi các nội dung này được cơ quan lập pháp hoặc cơ quan lập pháp ở tỉnh hoặc các tỉnh liên quan ủng hộ.

 

9. Một dự luật sửa đổi Hiến pháp được Quốc hội thông qua, ở những địa bàn có thể áp dụng được Hội đồng dân tộc của các tỉnh thông qua phải chuyển đến để Tổng thống chấp nhận.

 

75. Các dự luật thông thường không ảnh hưởng đến các tỉnh

 

1. Khi Quốc hội thông qua một dự luật ngoài các dự luật đã được quy định tại Điều 74 hoặc điều 76, dự luật phải được chuyển đến Hội đồng dân tộc của các tỉnh và giải quyết theo quy trình thủ tục sau đây:

 

a. Hội đồng phải:

 

i. Thông qua dự luật;

 

ii. Thông qua dự luật về những vấn đề sửa đổi được đề xuất; Hoặc

 

iii. Bác bỏ dự luật.

 

b. Nếu Hội đồng thông qua dự luật không đề xuất về sửa đổi, dự luật phải đệ trình Tổng thống tán thành.

 

c. Nếu Hội đồng bác bỏ dự luật hoặc thông qua dự luật có sửa đổi, Quốc hội phải xem xét lại dự luật và xem xét các sửa đổi mà Hội đồng đề xuất và có thể:

 

i. Thông qua dự luật lại, có hoặc không có sửa đổi; Hoặc

 

ii. Quyết định không tiếp tục dự luật.

 

d. Một dự luật được Quốc hội thông qua theo quy định tại điểm c phải đệ trình Tổng thống tán thành.

 

2. Khi Hội đồng dân tộc của các tỉnh bỏ phiếu về một vấn đề theo quy định của Điều này, Điều 65 không được áp dụng; Thay vào đó:

 

a. Mỗi đại biểu ở đoàn đại biểu của các tỉnh bỏ một phiếu;

 

b. Có ít nhất 1/3 số đại biểu phải có mặt khi bỏ phiếu về vấn đề;

 

c. Vấn đề được quyết định bởi đa số phiếu, tuy nhiên, nếu số phiếu ngang bằng nhau, đại biểu chủ tọa phải đưa ra phiếu quyết định.

 

76. Các dự luật thông thường ảnh hưởng đến các tỉnh

 

1. Khi Quốc hội thông qua một dự luật ngoài các dự luật đã được quy định tại khoản 3,4 hoặc 5, dự luật phải được chuyển đến Hội đồng dân tộc của các tỉnh và giải quyết theo quy trình thủ tục sau đây:

 

a. Hội đồng phải:

 

i. Thông qua dự luật;

 

ii. Thông qua một dự luật đã được sửa đổi; Hoặc

 

iii. Bác bỏ dự luật.

 

b. Nếu Hội đồng thông qua dự luật mà không sửa đổi, dự luật phải đệ trình Tổng thống tán thành.

 

c. Nếu Hội đồng bác bỏ dự luật hoặc thông qua dự luật có sửa đổi, dự luật sửa đổi phải đệ trình Quốc hội, nếu Quốc hội thông qua dự luật sửa đổi, dự luật phải đệ trình Tổng thống tán thành.

 

d. Nếu Hội đồng bác bỏ dự luật hoặc nếu Quốc hội từ chối thông qua dự luật sửa đổi liên quan theo quy định tại điểm c, dự luật, những điểm có thể áp dụng cũng như dự luật sửa đổi phải chuyển đến Ủy ban hòa giải. Ủy ban này có thể:

 

i. Đồng ý dự luật như được Quốc hội thông qua;

 

ii. Đồng ý dự luật sửa đổi như được Hội đồng thông qua; Hoặc

 

iii. Đồng ý bản khác của dự luật.

 

e. Nếu Ủy ban hòa giải không thể đồng ý trong thời gian 30 ngày của dự luật được chuyển đến, dự luật sẽ mất hiệu lực trừ khi Quốc hội thông qua dự luật nhưng phải có ít nhất 2/3 số đại biểu bỏ phiếu đồng ý.

 

f. Nếu Ủy ban Hòa giải đồng ý dự luật được thông qua bởi Quốc hội, dự luật phải được chuyển đến Hội đồng, nếu Hội đồng thông qua dự luật thì dự luật phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

g. Nếu Ủy ban hòa giải đồng ý đối với dự luật sửa đổi được Quốc hội thông qua, dự luật phải chuyển đến Quốc hội và nếu dự luật được Quốc hội thông qua, dự luật phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

h. Nếu Ủy ban Hòa giải đồng ý bản khác của dự luật, bản đó phải chuyển đến cả Quốc hội và Hội đồng dân tộc, nếu dự luật được thông qua, nó phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

i. Nếu một dự luật chuyển đến Hội đồng theo quy định tại điểm f hoặc h không được thông qua, dự luật sẽ mất hiệu lực trừ trường hợp Quốc hội thông qua với ít nhất 2/3 đại biểu bỏ phiếu tán thành.

 

j. Nếu một dự luật được chuyển đến Quốc hội theo điểm g hoặc h không được Quốc hội thông qua, dự luật này sẽ mất hiệu lực nhưng dự luật có thể được Quốc hội tái thông qua với ít nhất 2/3 đại biểu bỏ phiếu tán thành.

 

k. Một dự luật được Quốc hội thông qua theo quy định tại điểm e, i hoặc j phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

2. Khi Hội đồng dân tộc của các tỉnh thông qua luật liên quan đến khoản 3, dự luật phải chuyển đến Quốc hội và được giải quyết theo thủ tục sau đây:

 

a. Quốc hội phải:

 

i. Thông qua dự luật;

 

ii. Thông qua dự luật được sửa đổi; Hoặc

 

iii. Bác bỏ dự luật.

 

b. Một dự luật được Quốc hội thông qua theo các điểm a, i phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

c. Nếu Quốc hội thông qua dự luật sửa đổi, dự luật sửa đổi phải chuyển đến Hội đồng và nếu Hội đồng thông qua dự luật sửa đổi, dự luật sửa đổi phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

d. Nếu Quốc hội bác bỏ dự luật hoặc Hội đồng từ chối thông qua dự luật sửa đổi được chuyển đến theo quy định tại điểm c, những điểm có thể áp dụng cũng như dự luật sửa đổi phải chuyển đến Ủy ban Hòa giải, Ủy ban này có thể đồng ý về:

 

i. Dự luật như được Hội đồng thông qua;

 

ii. Dự luật sửa đổi như được Quốc hội thông qua; Hoặc

 

iii. Phiên bản khác của dự luật.

 

e. Nếu Ủy ban hòa giải không thể đồng ý trong thời gian 30 ngày của dự luật được chuyển đến, dự luật sẽ mất hiệu lực.

 

f. Nếu Ủy ban Hòa giải đồng ý dự luật được thông qua bởi Hội đồng, dự luật phải được chuyển đến Quốc hội, nếu Quốc hội thông qua dự luật thì dự luật phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

g. Nếu Ủy ban hòa giải đồng ý đối với dự luật sửa đổi được Quốc hội thông qua, dự luật phải chuyển đến Hội đồng và nếu dự luật được Hội đồng thông qua, dự luật phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

h. Nếu Ủy ban Hòa giải đồng ý bản khác của dự luật, bản đó phải chuyển đến cả Quốc hội và Hội đồng dân tộc, nếu dự luật được thông qua, nó phải đệ trình Tổng thống để được phê chuẩn.

 

i. Nếu một dự luật được chuyển đến Quốc hội theo điểm f hoặc h không được Quốc hội thông qua, dự luật này sẽ mất hiệu lực.

 

3. Một dự luật phải được xử lý theo quy trình thủ tục hoặc theo khoản 1 hoặc theo khoản 2 nếu dự luật về các lĩnh vực chức năng được liệt kê tại Mục 4 hoặc dự kiến văn bản quy phạm pháp luật theo bất cứ điều nào dưới đây:

 

a. Khoản 2 Điều 65;

 

b. Điều 163;

 

c. Điều 182;

 

d. Khoản 3 và khoản 4 Điều 195;

 

e. Điều 196; Và

 

f. Điều 197.

 

4. Một dự luật được xử lý theo quy định tại Điều 1 nếu về phương diện lập pháp nó:

 

a. Dự kiến theo khoản 2 Điều 44 hoặc khoản 3 Điều 220; Hoặc

 

b. Dự kiến trong Chương 13, bao gồm những điều khoản ảnh hưởng đến lợi ích tài chính của chính quyền địa phương ở cấp tỉnh. [Điểm b được thay thế bởi Điều 1 đạo luật số 3 năm 2003]

 

5. Một dự luật được dự kiến tại Khoản 5 Điều 42 phải được xử lý theo thủ tục được quy định tại Điều 1, trừ khi:

 

a. Quốc hội bỏ phiếu về dự luật, các quy định của Khoản 1 Điều

 

53 không được áp dụng, thay thế; Dự luật chỉ có thể được thông qua nếu đa số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tán thành; Và

 

b. Dự luật được chuyển đến Ủy ban Hòa giải, các quy định sau đây được áp dụng:

 

i. Nếu Quốc hội xem xét dự thảo được dự kiến tại điểm g hoặc h Điều 1, dự luật chỉ có thể được thông qua nếu đa số đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tán thành.

 

ii. Nếu Quốc hội xem xét dự thảo được dự kiến tại điểm e, i hoặc j Điều 1, dự luật chỉ có thể được thông qua nếu ít nhất 2/3 đại biểu Quốc hội bỏ phiếu tán thành.

 

6. Điều này không áp dụng với các dự luật về tiền tệ.

 

77. Các dự luật về tiền tệ

 

1. Một dự luật được xem là dự luật về tiền tệ nếu:

 

a. Quy định riêng về tiền tệ;

 

b. Áp thuế quốc gia, thuế nhập khẩu hoặc các phụ thu;

 

c. Hủy bỏ hoặc giảm hoặc quy định miễn trừ các khoản thuế, thuế nhập khẩu hoặc các phụ thu; Hoặc

 

d. Quy định về thẩm quyền thu trực tiếp từ Quỹ Thu nhập quốc dân trừ khi dự luật được quy định tại Điều 214 về thẩm quyền thu trực tiếp.

 

2. Một dự luật về tiền tệ có thể không đề cập đến các vấn đề khác ngoại trừ:

 

a. Một vấn đề thứ cấp có liên quan đến quy định riêng về tiền tệ;

 

b. Việc áp, hủy bỏ hoặc giảm thuế, thuế nhập khẩu hoặc phụ thu;

 

c. Chấp nhận miễn trừ thuế, thuế nhập khẩu hoặc phụ thu; Hoặc

 

d. Quy định về thẩm quyền thu trực tiếp từ Quỹ Thu nhập quốc dân.

 

3. Tất cả các dự luật về tiền tệ phải được xem xét theo thủ tục được quy định tại Điều 75. Một đạo luật của Quốc hội phải dự kiến quy trình để sửa đổi dự luật về tiền tệ trước Nghị viện. [Điều 77 được thay thế bởi Điều 2 Đạo luật số 61 năm 2001]

 

78. Ủy ban Hòa giải

 

1. Ủy ban Hòa giải bao gồm:

 

a. 9 thành viên của Quốc hội được Quốc hội bầu theo quy trình thủ tục đã được Quốc hội quy định và đưa đến kết quả đại diện của các đảng về cơ bản có cùng tỷ lệ đại diện trong Quốc hội;

 

b. Một đại biểu được đoàn đại biểu của mỗi tỉnh ở Hội đồng dân tộc của các tỉnh chỉ định.

 

2. Ủy ban hòa giải nhất trí với một phiên bản khác của dự luật hoặc quyết định một vấn hoặc một phương diện của vấn đề được ủng hộ bởi:

 

a. Ít nhất 5 đại diện của Quốc hội; Và

 

b. Ít nhất 5 đại diện từ Hội đồng dân tộc của các tỉnh.

 

79. Đồng ý với các dự luật

 

1. Tổng thống hoặc nhất trí và ký thông qua dự luật hoặc nếu Tổng thống nghi ngại về tính hợp hiến của một dự luật thì chuyển dự luật lại Quốc hội để Quốc hội xem xét lại.

 

2. Văn bản liên tịch phải quy định thủ tục xem xét lại dự luật của

 

Quốc hội và sự tham gia của Hội đồng dân tộc của các tỉnh vào quá trình này.

 

3. Hội đồng dân tộc của các tỉnh phải tham gia xem xét lại dự luật mà Tổng thống đã chuyển lại Quốc hội nếu:

 

a. Sự nghi ngại của Tổng thống về tính hợp hiến của dự luật liên quan đến vấn đề thủ tục có liên quan đến Hội đồng;

 

b. Khoản 1, Khoản 2 hoặc khoản 3 (b) Hoặc Điều 76 đã có thể áp dụng để thông qua dự luật.

 

4. Nếu dự luật được xem xét lại đã đáp ứng đầy đủ sự kiến nghị của

 

Tổng thống, Tổng thống phải nhất trí và ký thông qua dự luật, nếu không, Tổng thống phải:

 

a. Nhất trí và ký thông qua dự luật; Hoặc

 

b. Chuyển dự luật đến Tòa Hiến pháp để quyết định về tính hợp hiến của dự luật.

 

5. Nếu Tòa Hiến pháp quyết định dự luật là hợp pháp, Tổng thống phải nhất trí và ký ban hành.

 

80. Đơn thỉnh cầu của thành viên Quốc hội gửi đến

 

Tòa Hiến pháp

 

1. Thành viên Quốc hội có thể thỉnh cầu Tòa Hiến pháp tuyên bố toàn bộ hoặc một phần của một đạo luật của Nghị viện là vi hiến.

 

2. Đơn thỉnh cầu:

 

a. Phải được ít nhất 1/3 thành viên Quốc hội tán thành; Và

 

b. Phải được xây dựng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tổng thống đồng ý và ký đạo luật.

 

3. Tòa Hiến pháp có thể tuyên bố toàn bộ hoặc một phần đạo luật đã được thỉnh cầu theo quy định tại khoản 1 không có hiệu lực thi hành cho đến khi Tòa án quyết định về đơn thỉnh cầu nếu:

 

a. Quyền lợi công lý đòi hỏi; Và

 

b. Đơn thỉnh cầu có những phương diện khả thi.

 

4. Nếu đơn thỉnh cầu không thành công hoặc không có khả năng thành công, Tòa Hiến pháp có thể yêu cầu những người thỉnh cầu phải trả chi phí.

 

81. Ban hành các đạo luật

 

Một dự luật được Tổng thống nhất trí và ký ban hành để trở thành đạo luật của Quốc hội phải được công bố ngay lập tức và có hiệu lực thi hành khi công bố hoặc theo thời gian được đạo luật quy định.

 

82. Bảo vệ các đạo luật của Nghị viện

 

Bản sao đã được ký của một đạo luật của Nghị viện bao gồm những bằng chứng về những điều khoản của đạo luật sau khi được ban hành phải được Tòa Hiến pháp chịu trách nhiệm bảo vệ.

 

CHƯƠNG V: TỔNG THỐNG VÀ CƠ QUAN ĐIỀU HÀNH TRUNG ƯƠNG

 

83. Tổng thống

 

Tổng thống

 

1. Là người đứng đầu nhà nước và người đứng đầu điều hành quốc gia;

 

2. Phải duy trì, bảo vệ và tôn trọng Hiến pháp, đạo luật tối cao của nước Cộng hòa; Và

 

3. Thúc đẩy sự đoàn kết quốc gia, thúc đẩy nước Cộng hòa tiến lên.

 

84. Quyền hạn và nhiệm vụ của Tổng thống

 

1. Tổng thống có quyền hạn được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật, bao gồm những điều cần thiết để thực hiện nhiệm vụ người đứng đầu nhà nước và đứng đầu hành pháp.

 

2. Tổng thống chịu trách nhiệm:

 

a. Tán thành và ký các dự luật;

 

b. Chuyển dự luật lại Quốc hội để tái xem xét về tính hợp hiến của dự luật;

 

c. Chuyển dự luật đến Tòa Hiến pháp phán quyết về tính hợp hiến của dự luật;

 

d. Triệu tập kỳ họp bất thường của Quốc hội, Hội đồng dân tộc của các tỉnh để giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt;

 

* 1. Xem điểm 21 (5) Mục 6: e. Bổ nhiệm theo quy định của Hiến pháp và pháp luật ngoài vai trò người đứng đầu ngành hành pháp;

 

f. Bổ nhiệm các ủy ban điều tra;

 

g. Kêu gọi trưng cầu dân ý theo quy định của một đạo luật của

 

Nghị viện;

 

h. Tiếp nhận và công nhận đại diện ngoại giao, đại diện lãnh sự;

 

i. Bổ nhiệm đại sứ, đại diện toàn quyền, đại diện ngoại giao và đại diện lãnh sự;

 

j. Ân xá hoặc giảm tội và giảm bớt hình phạt, án phạt hoặc tài sản bị tịch thu; Và

 

k. Tặng thưởng các danh hiệu, vinh dự. [Chú ý: Những danh hiệu, vinh dự được quy định trong Công báo chính phủ số 24155 ngày 6/12/2002, Công báo Chính phủ số 25213 ngày 25/7/2003 và Công báo Chính phủ số 25799 ngày 2/12/2003]

 

3. * 1

 

85. Thẩm quyền điều hành nước Cộng hòa

 

1. Thẩm quyền điều hành nước Cộng hòa được trao cho Tổng thống.

 

2. Tổng thống thực hiện quyền điều hành cùng với thành viên nội các thông qua:

 

a. Thực hiện luật pháp quốc gia, trừ trường hợp Hiến pháp hoặc một đại luật của Nghị viện có quy định khác;

 

b. Phát triển và thực hiện chính sách quốc gia;

 

c. Phối hợp chức năng với các cơ quan nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước;

 

d. Chuẩn bị và đề xướng văn bản quy phạm pháp luật; Và

 

e. Thực hiện các nhiệm vụ điều hành khác được Hiến pháp và pháp luật quy định.

 

86. Bầu Tổng thống

 

1. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội và khi cần thiết bổ nhiệm vụ trí trống, Quốc hội phải bầu một nữ hoặc nam từ các đại biểu vào vị trí Tổng thống.

 

2. Chánh án Tối cao phải chủ tọa hoặc chỉ định một thẩm phán chủ tọa việc bầu Tổng thống. Quy trình được quy định tại Phần A Mục 3 áp dụng cho việc bầu cử Tổng thống. [Khoản 2 được sửa đổi bằng Điều 6 Đạo luật số 34 năm 2001]

 

3. Một cuộc bầu cử cho vị trí Tổng thống còn khuyết phải được tổ chức vào thời gian hoặc thời điểm được Chánh án Tối cao quyết định nhưng không quá 30 ngày sau khi vị trí Tổng thống khuyết. [Khoản 3 được thay thế bằng Điều 6 đạo luật số 34 năm 2001]

 

87. Sự nhận nhiệm vụ Tổng thống

 

Khi được bầu làm Tổng thống, một người sẽ ngừng làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội và trong thời hạn 5 ngày phải nhậm chức bằng việc tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ

 

Hiến pháp theo quy định tại Mục: 88. Nhiệm kỳ Tổng thống

 

1. Nhiệm kỳ Tổng thống bắt đầu từ khi nhậm chức và sẽ kết thúc khi vị trí Tổng thống khuyết hoặc khi một người được bầu làm Tổng thống tiếp theo nhậm chức.

 

2. Không một cá nhân nào giữ chức vụ Tổng thống quá 2 nhiệm kỳ nhưng khi một người được bầu làm Tổng thống cho vị trí khuyết, thời gian giữa cuộc bầu cử này và bầu cử tiếp theo không được xem là một nhiệm kỳ.

 

89. Bãi miễn Tổng thống

 

1. Quốc hội bằng một nghị quyết với ít nhất 2/3 đại biểu tán thành có thể bãi miễn Tổng thống vì những lý do:

 

a. Vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp hoặc pháp luật;

 

b. Hành vi sai trái nghiêm trọng;

 

c. Không có khả năng đảm đương nhiệm vụ.

 

2. Bất cứ ai bị bãi miễn chức vụ Tổng thống theo quy định tại điểm a hoặc b khoản 1 sẽ không nhận được bất cứ lợi ích nào từ chức vụ và có thể không được phục vụ trong cơ quan công quyền.

 

3. * 2

 

90. Quyền Tổng thống

 

1. Khi Tổng thống không có mặt ở nước Cộng hòa hoặc không thể hoàn thành nhiệm vụ hoặc có vị trí Tổng thống khuyết, một người giữ chức vụ sau đây được hành động như Tổng thống:

 

a. Phó Tổng thống. * 3

 

b. Một Bộ trưởng được Tổng thống chỉ định.

 

c. Một Bộ trưởng được chỉ định bởi các thành viên nội các.

 

d. Chủ tịch Quốc hội, cho đến khi Quốc hội bổ nhiệm một người trong số các đại biểu Quốc hội.

 

2. Một Quyền Tổng thống có trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ của

 

Tổng thống.

 

3. Trước khi nhận trách nhiệm, quyền hạn và nhiệm vụ của Tổng thống phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp theo quy định tại Mục: 4. Một người là Quyền Tổng thống khi đã tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa có thể không cần thiết phải tuyên thệ hoặc khẳng định cho nhiệm kỳ kết tiếp Quyền Tổng thống cho đến khi Tổng thống được bầu nhậm chức. [Khoản 4 được thay thế bằng Điều 1, Đạo luật số 35 năm 1997]

 

91. Nội các* 4

 

1. Nội các bao gồm Tổng thống là người đứng đầu nội các, một Phó Tổng thống và các Bộ trưởng.

 

2. Tổng thống bổ nhiệm Phó Tổng thống, các Bộ trưởng, phân công quyền hạn và nhiệm vụ cho họ và có thể bãi miễn họ.

 

3. Tổng thống

 

a. Phải chọn Phó Thổng thống từ các đại biểu Quốc hội;

 

b. Có thể lựa chọn bất cứ Bộ trưởng nào từ các đại biểu Quốc hội; Và

 

c. Có thể lựa chọn không quá 2 Bộ trưởng từ ngoài Quốc hội.

 

4. Tổng thống phải bổ nhiệm một thành viên nội các là người lãnh đạo công việc liên quan đến chính quyền tại Quốc hội.

 

5. Phó Tổng thống phải giúp Tổng thống thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ.

 

92. Trách nhiệm giải trình và sự chịu trách nhiệm

 

1. Phó Tổng thống và các Bộ trưởng chịu trách nhiệm về quyền hạn và nhiệm vụ điều hành đã được Tổng thống phân công.

 

2. Các thành viên nội các chịu trách nhiệm tập thể và cá nhân trước

 

Nghị viện trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

 

3. Thành viên nội các phải:

 

a. Làm việc theo Hiến pháp; Và

 

b. Báo cáo nghị viện thường xuyên, đầy đủ về các vấn đề thuộc trách nhiệm của họ.

 

93. Các Phó Tổng thống 5*

 

1. Tổng thống có thể bổ nhiệm:

 

a. Số lượng Phó Tổng thổng không hạn định từ các đại biểu Quốc hội; Và

 

b. Không quá 2 Phó Tổng thống bên ngoài để hỗ trợ các thành viên nội các và có thể bãi miễn họ.

 

2. Phó Tổng thống được bổ nhiệm theo điểm b khoản 2 chịu trách nhiệm trước Nghị viện về việc thực hiện các quyền hạn và kết quả thực hiện nhiệm vụ của họ. [Điều 93 được thay thế bởi Điều 7, Sắc lệnh số 34 năm 2001]

 

94. Thực hiện nhiệm vụ tiếp của Nội các sau bầu cử

 

Khi bầu cử Quốc hội được tổ chức, Nội các, Tổng thống, Bộ trưởng và các Thứ trưởng vẫn có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ cho đến khi một Tổng thống được Quốc hội mới bầu nhậm chức.

 

95. Tuyên thệ hoặc khẳng định

 

Trước khi Phó Tổng thống, các Bộ trưởng và Thứ trưởng bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, họ phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp, theo quy định tại Mục: 96. Chuẩn mực đạo đức của thành viên nội các và các Thứ trưởng

 

1. Các thành viên Nội các và các Thứ trưởng phải làm việc theo luật đạo đức đã được quy định.

 

2. Các thành viên Nội các và các Thứ trưởng có thể không được:

 

a. Đảm nhận bất cứ công việc nào khác có thù lao;

 

b. Hành động theo những cách thức không phù hợp với vị trí của họ, hoặc tự đặt vào những tình thế dẫn đến nguy cơ xung đột giữa trách nhiệm công vụ và lợi ích cá nhân; Hoặc

 

c. Sử dụng vị trí hoặc những thông tin được trao cho họ để làm giàu cho bản thân hoặc đem lại lợi ích không chính đáng cho bất kỳ ai.

 

3. Kể cả giới hạn (6). * 6

 

97. Chuyển giao nhiệm vụ

 

Tổng thống, bằng tuyên bố, có thể chuyển giao nhiệm vụ của một thành viên Nội các:

 

1. Việc thi hành các văn bản quy phạm được giao cho một thành viên khác; Hoặc

 

2. Bất cứ quyền hạn hoặc nhiệm vụ nào được quy định cho một thành viên khác.

 

98. Sự phân công tạm thời các nhiệm vụ

 

Tổng thống có thể phân công cho một thành viên Nội các quyền hạn hoặc nhiệm vụ của thành viên nội các khác khi thành viên này vắng mặt hoặc không thể thực hiện quyền hạn hoặc nhiệm vụ.

 

99. Phân công nhiệm vụ

 

Một thành viên nội các có thể phân công bất kỳ quyền hạn hoặc nhiệm vụ nào cho một thành viên Hội đồng điều hành cấp tỉnh hoặc Hội đồng thành phố thực hiện sự phân công đó:

 

1. Phải theo sự thỏa thuận giữa thành viên nội các tương ứng và thành viên Hội đồng điều hành hoặc Hội đồng Thành phố;

 

2. Phải thống nhất với đạo luật của Nghị viện về những quyền hạn và nhiệm vụ tương ứng được thực hiện hoặc thi hành; Và

 

3. Có hiệu lực sau khi Tổng thống công bố.

 

100. Sự can thiệp trung ương vào điều hành cấp tỉnh

 

1. Khi một tỉnh không thể hoàn thành nghĩa vụ điều hành theo quy định của Hiến pháp hoặc pháp luật, cơ quan điều hành trung ương có thể can thiệp bằng việc đảm nhận một bước thích hợp để đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ đó, bao gồm:

 

a. Ban hành một chỉ thị trực tiếp đến cơ quan điều hành cấp tỉnh, mô tả những phương diện nỗ lực không thành công để hoàn thành nghĩa vụ và nêu rõ bất kỳ các bước yêu cầu để hoàn thành nhiệm vụ; Và

 

b. Đảm đương trách nhiệm về nghĩa vụ tương ứng ở tỉnh đó có liên quan đến sự cần thiết để:

 

i. Duy trì các tiêu chuẩn quốc gia cần thiết hoặc đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu để cung ứng các dịch vụ;

 

ii. Duy trì sự thống nhất kinh tế;

 

iii. Duy trì an ninh quốc gia; Hoặc

 

iv. Ngăn ngừa một tỉnh thực hiện các hành động không hợp lý vì ý định kiến với lợi ích của tỉnh khác cũng như của quốc gia. [Khoản 1 được thay thế bằng Điều 2 Đạo luật số 3 năm 2003]

 

2. Nếu cơ quan điều hành trung ương can thiệp ở một tỉnh theo quy định tại điểm b khoản 1:

 

a. Cơ quan này phải đệ trình một bản thông cáo về việc can thiệp đến Hội đồng dân tộc của các tỉnh trong thời hạn 14 ngày sau khi sự can thiệp được bắt đầu thực hiện;

 

b. Sự can thiệp phải kết thúc nếu Hội đồng không thông qua sự can thiệp trong thời hạn 180 ngày sau khi sự can thiệp bắt đầu hoặc trước cuối giai đoạn can thiệp đã không được thông qua; Và

 

c. Trong khi quá trình can thiệp tiếp tục, Hội đồng phải xem xét sự can thiệp này thường xuyên và có những khuyến nghị phù hợp với cơ quan điều hành trung ương. [Điều 2 được thay thế bằng điểm c Điều 2 Đạo luật số 3 năm 2003]

 

3. Cơ quan lập pháp ở trung ương có thể quy định về quy trình được xây dựng ở Điều này. [Điều 100 được sửa đổi bởi điểm a Điều 2 Đạo luật số 3 năm 2003]

 

101. Các quyết định điều hành

 

1. Một quyết định của Tổng thống phải thể hiện bằng văn bản nếu quyết định:

 

a. Được thực hiện theo quy định của pháp luật; Hoặc

 

b. Có hậu quả pháp lý.

 

2. Quyết định bằng văn bản của Tổng thống phải được một thành viên nội các khác ký tiếp nếu quyết định này liên quan đến một nhiệm vụ đã được phân công cho thành viên nội các này.

 

3. Các tuyên bố, quy định và các công cụ dưới luật khác phải bảo đảm tiếp cận của công chúng.

 

4. Văn bản quy phạm trung ương có thể quy định cụ thể cách thức, phương diện, những công cụ được đề cập ở khoản 3 phải:

 

a. Đệ trình Nghị viện; Và

 

b. Được Nghị viện thông qua.

 

102. Bỏ phiếu bất tín nhiệm

 

1. Nếu Quốc hội với đa số phiếu tán thành thông qua một bản kiến nghị bất tín nhiệm đối với Nội các trừ Tổng thống, Tổng thống phải thành lập lại Nội các.

 

2. Nếu Quốc hội với đa số phiếu tán thành thông qua kiến nghị bất tín nhiệm đối với Tổng thống, Tổng thống, các thành viên nội các và bất kỳ Thứ trưởng nào phải từ chức.

 

* 1. Cho đến ngày 30/4/1999, Điều 84 được xem bao gồm Điều 3 được quy định trong Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

* 2. Cho đến ngày 30/4/1999, Điều 89 được xem bao gồm Điều 3 được quy định trong Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

* 3. Cho đến ngày 30/4/1999, Điểm a Khoản 1 Điều 90 được hiểu như quy định tại Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

* 4. Cho đến ngày 30/4/1999, Điểm a Khoản 1 Điều 91 được hiểu như quy định tại Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

* 5. Cho đến ngày 30/4/1999, Điểm a Khoản 1 Điều 92 được hiểu như quy định tại Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

* 6. Cho đến ngày 30/4/1999, Điều 96 được xem bao gồm từ Điều 3 đến Điều 6 được quy định trong Phụ lục B của Mục 6. Xem Mục 6 tiểu mục 9 (2).

 

CHƯƠNG VI: CÁC TỈNH

 

103. Các tỉnh

 

1. Nước Cộng hòa bao gồm các tỉnh sau đây:

 

a. Eastern Cape

 

b. Free State

 

c. Gauteng

 

d. KwaZulu-Natal

 

e. Limpopo

 

f. Mpumalanga

 

g. Northern Cape

 

h. North West

 

i. Western Cape.

 

2. Khu vực địa giới của các tỉnh tương ứng bao gồm toàn bộ chỉ dẫn khu vực địa lý được biểu thị trong các bản đồ khác nhau được tham chiếu trong Thông báo liệt kê ở Mục 1A.

 

3.

 

a. Khi địa giới của các tỉnh được quyết định lại bởi một sửa đổi Hiến pháp, một Đạo luật của Nghị viện trong khuôn khổ thời gian hợp lý có thể dự liệu các biện pháp để quy định về hệ quả pháp lý, thực tiễn và các hệ quả khác do việc điều chỉnh lại địa giới.

 

b. Một Đạo luật của Nghị viện được quy định ở điểm a có thể được ban hành và thực hiện trước khi sửa đổi của Hiến pháp về vấn đề này có hiệu lực, tuy nhiên, bất cứ nhiệm vụ, tài sản, quyền, nghĩa vụ, bổn phận hoặc trách nhiệm của tỉnh có thể được chuyển giao theo Đạo luật này khi sửa đổi của Hiến pháp có hiệu lực thi hành". [Điều 103 được sửa đổi bởi Điều 3 Đạo luật số 3 năm 2003 và được thay thế bằng Điều 1 Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 12 năm 2005]

 

Cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

104. Thẩm quyền lập pháp của các tỉnh

 

1. Thẩm quyền lập pháp của một tỉnh được phân giao cho cơ quan lập pháp cấp tỉnh, và trao cho cơ quan lập pháp các quyền:

 

a. Thông qua một hiến pháp của tỉnh và sửa đổi hiến pháp được thông qua theo quy định tại Điều 142 và 143;

 

b. Thông qua các văn bản quy phạm của tỉnh về:

 

i. Bất cứ vấn đề nào thuộc danh mục chức năng được liệt kê ở Mục 4;

 

ii. Bất cứ đề nào thuộc danh mục chức năng được liệt kê ở Mục 5;

 

iii. Các vấn đề ngoài danh mục chức năng được phân công theo quy định pháp luật trung ương;

 

iv. Các vấn đề mà một điều khoản của Hiến pháp quy định về quyền ban hành văn bản của lập pháp cấp tỉnh.

 

c. Phân công quyền hạn lập pháp cho Hội đồng thành phố trong tỉnh đó.

 

2. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh, bằng một nghị quyết với ít nhất 2/3 số phiếu tán thành, có thể đề nghị Nghị viện thay đổi tên của tỉnh.

 

3. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh chỉ bị giới hạn bởi Hiến pháp, nếu cơ quan này thông qua hiến pháp của tỉnh cũng phải tuân thủ Hiến pháp và phải ban hành văn bản theo quy định và trong khuôn khổ của Hiến pháp và hiến pháp cấp tỉnh.

 

4. Sự lập pháp cấp tỉnh về những vấn đề cần thiết hoặc tình thế bảo đảm việc thực hiện hiệu quả một quyền hạn liên quan đến các vấn đề được liệt kê tại Mục 4 là tất cả mục tiêu lập pháp về những vấn đề được liệt kê tại Mục: 5. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể kiến nghị Quốc hội xây dựng pháp luật về những vấn đề không thuộc thẩm quyền của mình hoặc về thẩm quyền mà một Đạo luật của Nghị viện có ưu thế hơn văn bản quy phạm cấp tỉnh.

 

105. Thành phần và bầu cử cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

1. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh bao gồm các đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử như sau:

 

a. Được quy định bởi luật pháp trung ương;

 

b. Dựa trên danh sách cử tri phổ thông;

 

c. Độ tuổi bỏ phiếu tối thiểu là 18 tuổi;

 

d. Về cơ bản, kết quả theo tỷ lệ đại diện. [Điều 1 được sửa đổi bằng Điều 3 Đạo luật số 2 năm 2003; Được sửa đổi bằng Điều 3 Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 năm 2008]

 

2. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có số lượng trong khoảng 30 và 80 thành viên. Số lượng thành viên của mỗi tỉnh có thể khác nhau và theo công thức được quy định trong văn bản quy phạm trung ương.

 

106. Tư cách thành viên

 

1. Mọi công dân có tư cách bỏ phiếu bầu cử Quốc hội thì có đủ tư cách trở thành thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh, trừ trường hợp:

 

a. Bất cứ ai được nhà nước bổ nhiệm hoặc làm việc trong công vụ và được nhận thù lao từ việc bổ nhiệm hoặc công vụ, ngoài:

 

i. Thủ hiến và các thành viên khác của Hội đồng điều hành của tỉnh; Và

 

ii. Những người đảm nhiệm các nhiệm vụ tương tự như nhiệm vụ thành viên của một cơ quan lập pháp cấp tỉnh hoặc được tuyên bố có nhiệm vụ tương tự thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh;

 

b. Thành viên Quốc hội, đại biểu thường trực Hội đồng dân tộc của các tỉnh hoặc thành viên của Hội đồng thành phố;

 

c. Những người vỡ nợ không thể phục hồi;

 

d. Những người bị tòa án tuyên bố có khuyết tật về tâm thần; Hoặc

 

e. Những người sau khi điều này có hiệu lực thi hành bị buộc tội hoặc kết án hơn 12 tháng tù giam và không được nộp tiền để bảo lãnh hoặc trong hoặc ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa nếu hành động cấu thành tội phạm của nước Cộng hòa, nhưng không một ai bị xem là bị tuyên án cho đến khi có một kháng án về sự buộc tội hoặc án phạt đã được quyết định hoặc cho đến khi thời hạn kháng án đã hết. Việc không đủ tư cách theo quy định tại nội dung này sẽ kết thúc sau 5 năm khi hoàn thành thụ án.

 

2. Một người không đủ tư cách trở thành thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh theo điểm a hoặc b khoản 1 có thể vẫn là ứng cử viên cho cơ quan lập pháp theo những giới hạn hoặc điều kiện luật định.

 

3. Một người mất tư cách thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh nếu:

 

a. Không còn đủ tư cách;

 

b. Vắng mặt tại cơ quan lập pháp mà không xin phép trong những điều kiện mà các văn bản của cơ quan lập pháp quy định là mất tư cách đại biểu; Hoặc

 

c. Không còn là thành viên của một đảng mà người đó được đề cử là thành viên cơ quan lập pháp. [Điều 3 được sửa đổi bằng Điều 4 Đạo luật số 2 năm 2003; Được sửa đổi bằng Điều 4 Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 năm 2008]

 

4. Các vị trí còn khuyết trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật. [Điều 4 sẽ chưa được thi hành cho đến lần bầu cử thứ hai của cơ quan lập pháp. Xem tiểu mục 11 (2) Mục 6]

 

107. Tuyên thệ hoặc khẳng định

 

Trước khi các thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của mình tại Quốc hội, họ phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ theo Hiến pháp, theo quy định tại Mục: 108. Nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

1. Một cơ quan lập pháp cấp tỉnh được bầu có nhiệm kỳ 5 năm.

 

2. Nếu cơ quan lập pháp cấp tỉnh bị giải tán theo quy định tại Điều

 

109 hoặc khi nhiệm kỳ đã hết thì Thủ hiến phải triệu tập và quyết định ngày bầu cử bằng một tuyên bố trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày cơ quan lập pháp cấp tỉnh bị giải tán hoặc hết nhiệm kỳ. Một tuyên bố triệu tập và quyết định ngày bầu cử có thể ban hành trước hoặc sau khi hết hạn nhiệm kỳ của cơ quan lập pháp cấp tỉnh. [Điều 2 được thay thế bằng Điều 1 Đạo luật số 3 năm 1999]

 

3. Nếu kết quả bầu cử cơ quan lập pháp cấp tỉnh không được công bố trong thời hạn được quy định tại Điều 190 hoặc tòa án tuyên bố cuộc bầu cử là không hợp pháp thì Thủ hiến, bằng một tuyên bố phải triệu tập và xác định ngày tiến hành cuộc bầu cử khác trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày hết hạn công bố hoặc ngày tòa án tuyên bố cuộc bầu cử không hợp pháp.

 

4. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh vẫn có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ từ thời gian bị tuyên bố giải tán hoặc hết nhiệm kỳ cho đến ngày trước ngày đầu tiên của ngày bỏ phiếu cơ quan lập pháp tiếp theo.

 

109. Giải tán cơ quan lập pháp cấp tỉnh trước khi hết nhiệm kỳ

 

1. Thủ hiến của một tỉnh phải giải tán cơ quan lập pháp nếu:

 

a. Cơ quan lập pháp thông qua một nghị quyết giải tán với đa số phiếu tán thành; Và

 

b. Sau 3 năm kể từ khi cơ quan lập pháp cấp tỉnh được bầu.

 

2. Quyền Thủ hiến phải giải tán cơ quan lập pháp cấp tỉnh nếu:

 

a. Khuyết vị trí Thủ hiến; Và

 

b. Cơ quan lập pháp không bầu được Thủ hiến mới trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày khuyết vị trí Thủ hiến.

 

110. Kỳ họp và thời gian ngừng họp

 

1. Sau bầu cử, kỳ họp thứ nhất của cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải được tiến hành vào thời điểm do một chánh án được Chánh án tối cao chỉ định quyết định nhưng không quá 14 ngày kể từ ngày kết quả bầu cử được công bố. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải quyết định thời điểm và khoảng thời gian của mỗi kỳ họp và khoảng thời gian không họp. [Khoản 1 được thay thế bởi Điều 1, Đạo luật số 34 năm 2001]

 

2. Thủ hiến có thể triệu tập cơ quan lập pháp cấp tỉnh họp bất thường vào bất cứ thời gian nào để giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt.

 

3. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể quyết định địa điểm tổ chức kỳ họp thông thường.

 

111. Chủ tịch và Phó Chủ tịch

 

1. Ở kỳ họp đầu tiên sau bầu cử, hoặc khi cần thiết bổ nhiệm vị trí còn trống, cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải bầu một Chủ tịch và một Phó Chủ tịch từ các thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

2. Một thẩm phán được Chánh án tối cao bổ nhiệm phải chủ tọa cuộc bầu cử Chủ tịch. Chủ tịch chủ tọa cuộc bầu cử Phó Chủ tịch. [Khoản 2 được thay thế bởi Điều 2, Đạo luật số 34 năm 2001]

 

3. Thủ tục quy định tại phần B Mục 3 được áp dụng để bầu Chủ tịch và Phó Chủ tich.

 

4. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể bãi miễn Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch bằng nghị quyết. Đa số các thành viên của cơ quan lập pháp phải có mặt khi nghị quyết được thông qua.

 

5. Theo quy định và thủ tục, cơ quan lập pháp có thể bầu cử người chủ tọa để hỗ trợ cho Chủ tịch và Phó Chủ tịch.

 

112. Quyết nghị

 

1. Trừ trường hợp Hiến pháp có quy định khác:

 

a. Đa số các đại biểu cơ quan lập pháp phải có mặt trước khi bỏ phiếu tiếp tục một dự luật hoặc sửa đổi một dự luật;

 

b. Ít nhất 1/3 đại biểu phải có mặt trước khi bỏ phiếu về bất cứ vấn đề của cơ quan lập pháp; Và

 

c. Tất cả các vấn đề của cơ quan lập pháp được quyết định bởi đa số phiếu.

 

2. Một thành viên chủ tọa một cuộc họp không thảo luận bỏ phiếu, tuy nhiên:

 

a. Phải quyết định kết quả bỏ phiếu khi có số phiếu ngang bằng nhau về cùng một vấn đề;

 

b. Có thể thảo luận bỏ phiếu khi một vấn đề phải được quyết định khi có sự ủng hộ ít nhất 2/3 thành viên cơ quan lập pháp.

 

113. Quyền của đại biểu thường trực trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

Các đại biểu thường trực của một tỉnh ở Hội đồng dân tộc có thể tham dự, phát biểu tại cơ quan lập pháp cấp tỉnh và các ủy ban trực thuộc nhưng không có quyền bỏ phiếu. Cơ quan lập pháp có thể yêu cầu một đại biểu thường trực tham dự cơ quan lập pháp hoặc các ủy ban thuộc cơ quan này.

 

114. Quyền hạn của cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

1. Trong việc thực hiện quyền lập pháp, cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể:

 

a. Xem xét, thông qua, sửa đổi hoặc hủy bỏ bất cứ văn bản nào của cơ quan lập pháp cấp tỉnh;

 

b. Đưa ra sáng kiến hoặc chuẩn bị văn bản quy phạm trừ các dự luật về tiền tệ.

 

2. Cơ quan lập pháp phải quy định cơ chế:

 

a. Bảo đảm các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh chính quyền chịu trách nhiệm trước cơ quan lập pháp; Và

 

b. Duy trì giám sát đối với:

 

i. Thực hiện thẩm quyền của cơ quan điều hành cấp tỉnh, bao gồm cả việc thực hiện pháp luật; Và

 

ii. Bất kỳ cơ quan nhà nước nào ở cấp tỉnh.

 

115 Bằng chứng hoặc thông tin trước cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

Cơ quan lập pháp cấp tỉnh hoặc các ủy ban trực thuộc có thể:

 

1. Triệu tập bất cứ cá nhân nào đến để đưa ra bằng chứng về lời tuyên thệ hoặc khẳng định hoặc cung cấp tài liệu;

 

2. Yêu cầu bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào báo cáo;

 

3. Bắt buộc bất cứ cá nhân, tổ chức nào phải tuân thủ lời triệu tập hoặc yêu cầu theo điều a hoặc b, theo quy định của pháp luật hoặc quy định, thủ tục.

 

4. Nhận đơn thỉnh cầu, sự đại diện hoặc sự đệ trình từ các cá nhân hoặc tổ chức liên quan.

 

116. Sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ của cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

1. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể:

 

a. Quyết định và kiểm soát sự chuẩn bị, nghi thức, thủ tục nội bộ; Và

 

b. Xây dựng quy định, thủ tục về nhiệm vụ của mình, tạo điều kiện cho dân chủ đại diện, sự tham gia, trách nhiệm giải trình, minh bạch và sự tham gia của công chúng.

 

2. Các quy định và thủ tục của cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải dự liệu:

 

a. Sự thành lập, thành phần, quyền hạn, nhiệm vụ, thủ tục và nhiệm vụ của các ủy ban;

 

b. Sự tham gia vào thủ tục pháp lý của cơ quan lập pháp cấp tỉnh và các ủy ban trực thuộc của các đảng thiểu số đại diện trong cơ quan lập pháp theo cách thức nhất quán với sự dân chủ;

 

c. Sự trợ giúp về tài chính và hành chính đối với mỗi đảng đại diện trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh theo tỷ lệ, tạo điều kiện cho các đảng và lãnh tụ đảng thực hiện nhiệm vụ hiệu quả trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh; Và

 

d. Sự công nhận lãnh đạo của đảng đối lập lớn nhất trong cơ quan lập pháp cũng như lãnh đạo của phe đối lập.

 

117. Quyền ưu tiên

 

1. Thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh và đại biểu thường trực của tỉnh tại Hội đồng dân tộc của các tỉnh:

 

a. Có quyền tự do ngôn luận tại Quốc hội và các ủy ban trực thuộc theo quy định của pháp luật; Và

 

b. Không chịu trách nhiệm dân sự hay hình sự, bị bắt, giam giữ hay bồi thường:

 

i. Về những gì họ đã nói, cung cấp hoặc đệ trình cơ quan lập pháp hoặc các ủy ban trực thuộc; Hoặc

 

ii. Những gì được tiết lộ như kết quả của những gì họ đã phát biểu, cung cấp hoặc đề trình cơ quan lập pháp hoặc ủy ban trực thuộc.

 

2. Các quyền ưu tiên khác và quyền miễn trừ của cơ quan lập pháp, các thành viên được pháp luật quy định.

 

3. Lương, trợ cấp và phục cấp cho thành viên Quốc hội được thanh toán từ Quỹ thu nhập cấp tỉnh.

 

118. Quyền tiếp cận và tham gia của công chúng vào cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

1. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải:

 

a. Tạo điều kiện cho sự tham gia của công chúng vào quá trình lập pháp của cơ quan này và các ủy ban trực thuộc; Và

 

b. Thực hiện nhiệm vụ của mình theo cách thức cởi mở, và tổ chức kỳ họp và các cuộc họp của ủy ban trực thuộc công khai nhưng áp dụng các biện pháp khả thi có thể áp dụng:

 

i. Quy định quyền tiếp cận của công chúng, bao gồm việc tiếp cận của truyền thông, với cơ quan lập pháp và các ủy ban trực thuộc; Và

 

ii. Chuẩn bị cho việc tìm kiếm một cá nhân ở những địa điểm phù hợp, từ chối tiếp cận hoặc hủy bỏ thông tin về một cá nhân.

 

2. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh không thể không cho phép công chúng, bao gồm giới truyền thông, tham gia kỳ họp của một ủy ban với điều kiện sự không cho phép là hợp lý và công bằng trong một xã hội cởi mở và dân chủ.

 

119. Trình các dự luật

 

Chỉ thành viên của Hội đồng điều hành của một tỉnh hoặc một ủy ban hoặc thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể trình một dự luật; Nhưng chỉ thành viên Hội đồng điều hành, người chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính có thể trình dự luật về tiền tệ tại cơ quan lập pháp.

 

120. Các dự luật về tiền tệ

 

1. Một dự luật được xem là dự luật về tiền tệ nếu:

 

a. Quy định riêng về tiền tệ;

 

b. Áp thuế quốc gia, thuế nhập khẩu hoặc các phụ thu;

 

c. Hủy bỏ hoặc giảm hoặc quy định miễn trừ các khoản thuế, thuế nhập khẩu hoặc các phụ thu; Hoặc

 

d. Quy định về thẩm quyền thu trực tiếp từ Quỹ thu nhập cấp tỉnh.

 

2. Một dự luật về tiền tệ có thể không đề cập đến các vấn đề khác ngoại trừ:

 

a. Một vấn đề thứ cấp có liên quan đến quy định riêng về tiền tệ;

 

b. Việc áp, hủy bỏ hoặc giảm thuế, thuế nhập khẩu hoặc phụ thu;

 

c. Chấp nhận miễn trừ thuế, thuế nhập khẩu hoặc phụ thu; Hoặc

 

d. Quy định về thẩm quyền thu trực tiếp từ Quỹ Thu nhập cấp tỉnh.

 

3. Một đạo luật của tỉnh phải dự kiến quy trình để sửa đổi dự luật về tiền tệ. [Điều 120 được thay thế bằng Điều 3 Đạo luật số 61 năm 2001]

 

121. Tán thành các dự luật

 

1. Thủ hiến của một tỉnh phải tán thành và ký ban hành một Dự luật được cơ quan lập pháp cấp tỉnh thông qua theo quy định tại Chương này hoặc nếu Thủ hiến nghi ngại về tính hợp hiến của dự luật thì chuyển lại cơ quan lập pháp để cơ quan này xem xét lại.

 

2. Nếu sau khi xem xét lại, một Dự luật đã đáp ứng đầy đủ các nghi ngại của Thủ hiến thì Thủ hiến phải tán thành và ký Dự luật, nếu không Thủ hiến phải:

 

a. Đồng ý và ký Dự luật; Hoặc

 

b. Chuyển dự luật đến Tòa Hiến pháp để xem xét về tính hợp hiến.

 

3. Nếu Tòa Hiến pháp quyết định Dự luật là hợp hiến thì Thủ hiến phải đồng ý và ký Dự luật.

 

122. Đơn thỉnh cầu của các thành viên đến Tòa Hiến pháp

 

1. Các thành viên của cơ quan lập pháp có thể thỉnh cầu Tòa Hiến pháp tuyên bố toàn bộ hoặc một phần Dự luật cấp tỉnh là vi hiến.

 

2. Đơn thỉnh cầu:

 

a. Phải được ít nhất 20% thành viên cơ quan lập pháp tán thành; Và

 

b. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Thủ hiến đồng ý và ký đạo luật.

 

3. Tòa Hiến pháp có thể tuyên bố toàn bộ hoặc một phần của Đạo luật là đối tượng của đơn thỉnh cầu khoản 1 không có hiệu lực thi hành cho đến Tòa phán quyết về đơn thỉnh cầu nếu:

 

a. Quyền lợi công lý đòi hỏi như vậy;

 

b. Đơn thỉnh cầu có triển vọng thành công.

 

4. Nếu đơn thỉnh cầu không thành công hoặc không có phương diện thành công, Tòa Hiến pháp có thể yêu cầu những người thỉnh cầu phải trả chi phí.

 

123. Ban hành các đạo luật của tỉnh

 

Một dự luật được Tổng thống nhất trí và ký ban hành để trở thành đạo luật của tỉnh phải được công bố ngay lập tức và có hiệu lực thi hành khi công bố hoặc ở thời gian được đạo luật quy định.

 

124. Bảo vệ các đạo luật của tỉnh

 

Bản sao đã được ký của một đạo luật của tỉnh bao gồm những bằng chứng về những điều khoản của đạo luật sau khi được ban hành phải được Tòa Hiến pháp chịu trách nhiệm bảo vệ.

 

Cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh

 

125. Thẩm quyền điều hành của tỉnh

 

1. Thẩm quyền điều hành của tỉnh được trao cho Thủ hiến của mỗi tỉnh.

 

2. Thủ hiến thực hiện thẩm quyền điều hành, cùng với các thành viên của Hội đồng điều hành bằng việc:

 

a. Thực hiện các văn bản quy phạm của tỉnh trên địa bàn tỉnh;

 

b. Thực hiện tất cả các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương trong những lĩnh vực chức năng được liệt kê tại Mục 4 hoặc Mục 5, trừ trường hợp Hiến pháp hoặc một Đạo luật của Nghị viện có quy định khác;

 

c. Thực hiện ở tỉnh các văn bản quy phạm pháp luật của trung ương, ngoài những lĩnh vực chức năng được liệt kê ở Mục 4 và Mục 5, điều hành những nhiệm vụ được phân công cho cấp tỉnh theo quy định tại một Đạo luật của Nghị viện;

 

d. Xây dựng và thực hiện các chính sách của tỉnh;

 

e. Phối hợp chức năng của các cơ quan hành chính của tỉnh và các phòng ban trực thuộc;

 

f. Chuẩn bị và đề xuất sáng kiến lập pháp ở tỉnh; Và

 

g. Thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công cho cơ quan điều hành cấp tỉnh theo quy định của Hiến pháp hoặc một Đạo luật của Nghị viện.

 

3. Một tỉnh có thẩm quyền điều hành theo quy định tại điểm b khoản 2 chỉ trong phạm vi mà tỉnh có đủ năng lực điều hành để đảm nhận trách nhiệm có hiệu quả. Chính phủ bằng các biện pháp pháp lý và các biện pháp khác phải trợ giúp các tỉnh nâng cao năng lực điều hành đáp ứng yêu cầu thực hiện hiện quả quyền hạn và chức năng đã được quy định ở khoản 2 Điều này.

 

4. Bất cứ tranh chấp nào liên quan đến năng lực điều hành của một tỉnh về bất cứ chức năng nào phải được chuyển đến Hội đồng dân tộc của các tỉnh để giải quyết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nội dung tranh chấp được gửi đến Hội đồng.

 

5. Theo Điều 100, việc thực hiện pháp luật của tỉnh trên địa bàn tỉnh là thẩm quyền điều hành duy nhất ở cấp tỉnh.

 

6. Cơ quan điều hành cấp tỉnh phải thực hiện theo:

 

a. Hiến pháp; Và

 

b. Hiến pháp của tỉnh nếu có một hiến pháp được thông qua cho tỉnh.

 

126. Phân công nhiệm vụ

 

Một thành viên Hội đồng điều hành của một tỉnh có thể phân công bất cứ quyền hạn hoặc nhiệm vụ nào sẽ được thực hiện hoặc thi hành cho Hội đồng thành phố theo quy định của một Đạo luật của Quốc hội hoặc đạo luật của tỉnh. Sự phân công này:

 

1. Phải theo sự thoả thuận của thành viên Hội đồng điều hành tương ứng và Hội đồng thành phố;

 

2. Phải thống nhất với Đạo luật quy định tương ứng về quyền hạn hoặc chức năng được thực hiện hoặc thi hành; Và

 

3. Có hiệu lực sau khi Thủ hiến tuyên bố.

 

127. Quyền hạn và nhiệm vụ của các Thủ hiến

 

1. Thủ hiến của một tỉnh có quyền hạn và nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật khác.

 

2. Thủ hiến của một tỉnh chịu trách nhiệm về:

 

a. Tán thành và ký Dự luật;

 

b. Chuyển dự luật lại cơ quan lập pháp cấp tỉnh để cơ quan này xem xét lại về tính hợp hiến của Dự luật;

 

c. Chuyển Dự luật đến Tòa Hiến pháp để Tòa quyết định về tính hợp hiến của Dự luật;

 

d. Triệu tập cơ quan lập pháp tổ chức kỳ họp bất thường để giải quyết các nhiệm vụ đặc biệt;

 

e. Bổ nhiệm ủy ban điều tra; Và

 

f. Kêu gọi trưng cầu dân ý trong phạm vi của tỉnh theo quy định của pháp luật.

 

128. Bầu cử Thủ hiến

 

1. Tại kỳ họp đầu tiên sau bầu cử hoặc khi cần thiết bổ sung vị trí còn trống, cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải bầu một phụ nữ hoặc một nam giới từ các thành viên của mình vào vị trí Thủ hiến của tỉnh.

 

2. Một thẩm phán được Chánh án Tối cao phải chỉ định chủ tọa việc bầu Thủ hiến. Thủ tục được quy định tại Phần A Mục 3 được áp dụng để bầu Thủ hiến. [Khoản 2 được thay thế bằng Điều 10 Đạo luật số 34 năm 2001]

 

3. Một cuộc bầu cử để bầu vị trí Thủ hiến còn trống phải tổ chức vào thời điểm do Chánh án Tối cao quyết định nhưng không muộn hơn 30 ngày kể từ ngày khuyết vị trí Thủ hiến. [Khoản 3 được thay thế bằng Điều 10 Đạo luật số 34 năm 2001]

 

129. Đảm nhận chức vụ Thủ hiến

 

Một Thủ hiến được bầu phải nhậm chức trong thời hạn 5 ngày bầu cử bằng việc tuyên thệ hoặc khẳng dịnh trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp theo quy định tại Mục: 130. Nhiệm kỳ và bãi miễn Thủ hiến

 

1. Nhiệm kỳ của Thủ hiến bắt đầu từ khi nhậm chức và kết thúc khi vị trí này trống hoặc khi một người được bầu làm Thủ hiến mới nhậm chức.

 

2. Không một cá nhân nào được giữ vị trí Thủ hiến quá 2 nhiệm kỳ, nhưng khi một người được bầu cho vị trí Thủ hiến còn trống giữa kỳ bầu cử trước và kỳ bầu cử Thủ hiến tiếp theo thì không được xem là một nhiệm kỳ.

 

3. Cơ quan lập pháp của một tỉnh, bằng một nghị quyết được thông qua với ít nhất 2/3 số phiếu tán thành, có thể bãi nhiệm Thủ hiến vì những lý do sau đây:

 

a. Vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và pháp luật;

 

b. Hành vi sai trái nghiêm trọng; Hoặc

 

c. Không có khả năng thực hiện nhiệm vụ.

 

4. Bất cứ cá nhân nào bị bãi nhiệm khỏi vị trí Thủ hiến theo điểm a hoặc điểm b Khoản 3 có thể không được nhận các lợi ích của vị trí, có thể không được phục vụ trong cơ quan công quyền.

 

131. Quyền Thủ hiến

 

1. Khi Thủ hiến vắng mặt hoặc không thể hoàn thành nhiệm vụ Thủ hiến hoặc trong thời kỳ không có Thủ hiến, một quan chức theo thứ tự sau đây thực thi công việc như ở vị trí Thủ hiến:

 

a. Một thành viên Hội đồng điều hành được Thủ hiến chỉ định.

 

b. Một thành viên của Hội đồng điều hành được các thành viên khác của Hội đồng chỉ định.

 

c. Chủ tịch cơ quan lập pháp, cho đến khi cơ quan lập pháp chỉ định một trong số các thành viên của cơ quan này.

 

2. Quyền Thủ hiến có trách nhiệm, quyền hạn và nhiệm vụ của một

 

Thủ hiến.

 

3. Trước khi đảm nhận trách nhiệm, quyền hạn và nhiệm vụ Thủ hiến, Quyền Thủ hiến phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp, theo quy định tại Mục: 132. Hội đồng điều hành * 1

 

1. Hội đồng điều hành của tỉnh bao gồm Thủ hiến - người đứng đầu

 

Hội đồng và 5 đến 10 thành viên được Thủ hiến bổ nhiệm từ các thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

2. Thủ hiến của một tỉnh bổ nhiệm thành viên của Hội đồng điều hành, phân công quyền hạn và nhiệm vụ và có thể bãi nhiệm họ.

 

133. Trách nhiệm giải trình và các trách nhiệm

 

1. Các thành viên của Hội đồng điều hành của một tỉnh chịu trách nhiệm về nhiệm vụ điều hành đã được Thủ hiến phân công.

 

2. Thành viên Hội đồng điều hành của một tỉnh chịu trách nhiệm tập thể và cá nhân trước cơ quan lập pháp cấp tỉnh về việc thực hiện quyền hạn và kết quả thực hiện nhiệm vụ của họ.

 

3. Các thành viên Hội đồng Điều hành của một tỉnh phải:

 

a. Hành động phù hợp với quy định của Hiến pháp và hiến pháp của tỉnh, nếu hiến pháp này đã được thông qua cho tỉnh; Và

 

b. Trình báo cáo đầy đủ và định kỳ với cơ quan lập pháp cấp tỉnh về những vấn đề thuộc quyền kiểm soát của họ.

 

134. Sự tiếp tục nhiệm vụ của Hội đồng Điều hành sau bầu cử

 

Khi cuộc bầu cử cơ quan lập pháp cấp tỉnh được tổ chức, Hội đồng điều hành và các thành viên vẫn có thẩm quyền thực hiện chức năng cho đến khi người được bầu làm Thủ hiến bởi cơ quan lập pháp mới nhậm chức.

 

135. Tuyên thệ hoặc khẳng định

 

Trước khi các thành viên của Hội đồng điều hành hành của một tỉnh bắt đầu thực hiện nhiệm vụ, họ phải tuyên thệ hoặc khẳng định trung thành với nước Cộng hòa và tuân thủ Hiến pháp, theo đúng quy định tại Mục: 136. Tư cách của các thành viên Hội đồng điều hành

 

1. Các thành viên của Hội đồng Điều hành của một tỉnh phải tuân thủ luật về đạo đức được quy định trong pháp luật quốc gia.

 

2. Các thành viên của Hội đồng điều hành có thể không được:

 

a. Đảm nhận những công việc được trả thù lao khác;

 

b. Hành động không phù hợp với vị trí của họ, hoặc tự đặt mình vào những tình thế liên quan đếnn rủi ro xung đột giữa trách nhiệm công vụ và lợi ích cá nhân; Hoặc

 

c. Sử dụng vị trí hoặc thông tin được giao cho họ để làm giàu cho bản thân hoặc đem lại lợi ích không chính đáng cho bất cứ ai.

 

Bao gồm cả từ tiểu mục (3) Đến (6). * 2

 

137. Chuyển giao nhiệm vụ

 

Bằng tuyên bố, Thủ hiến có thể chuyển giao cho một thành viên Hội đồng điều hành:

 

1. Việc thực thi các văn bản quy phạm đã được giao cho một thành viên khác; Hoặc

 

2. Bất cứ quyền hạn hoặc nhiệm vụ nào đã giao theo quy định của pháp luật cho một thành viên khác.

 

138. Phân công tạm thời các nhiệm vụ

 

Thủ hiến của một tỉnh có thể phân công cho một thành viên của Hội đồng Điều hành bất cứ quyền hạn hoặc nhiệm vụ của một thành viên khác khi thành viên này vắng mặt hoặc không thể thực hiện quyền hạn hoặc thi hành nhiệm vụ.

 

139. Sự can thiệp của cấp tỉnh tại chính quyền địa phương

 

1. Khi một thành phố không thể hoặc không hoàn thành nghĩa vụ điều hành theo quy định của Hiến pháp hoặc pháp luật, cơ quan điều hành cấp tỉnh tương ứng có thể can thiệp bằng việc đảm nhận các bước cần thiết để bảo đảm việc hoàn thành nghĩa vụ, bao gồm:

 

a. Ban hành một chỉ thị đến Hội đồng thành phố, mô tả những phương diện của nỗ lực không thành công trong việc thực hiện nghĩa vụ của họ và chỉ rõ những bước cần thiết để hoàn thành nghĩa vụ;

 

b. Đảm nhận trách nhiệm về các nghĩa vụ tương ứng ở đô thị theo các phương diện cần thiết để:

 

i. Duy trì các tiêu chuẩn quốc gia cần thiết hoặc đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu để cung ứng các dịch vụ;

 

ii. Ngăn ngừa Hội đồng thành phố thực hiện các hành động không hợp lý làm phương hại đến lợi ích của thành phố khác hoặc của cả tỉnh; Hoặc

 

iii. Duy trì sự thống nhất về kinh tế; Hoặc

 

c. Giải tán Hội đồng thành phố và bổ nhiệm người quản lý cho đến khi Hội đồng thành phố mới được bầu được công bố nếu các trường hợp ngoại lệ đảm bảo một bước đi như vậy.

 

2. Nếu cơ quan điều hành cấp tỉnh can thiệp tại một thành phố như điểm b khoản 1 -

 

a. Cơ quan điều hành này phải đệ trình một thông cáo bằng văn bản về việc can thiệp đến:

 

i. Các thành viên nội các chịu trách nhiệm về vấn đề chính quyền địa phương; Và

 

ii. Cơ quan lập pháp tương ứng và Hội đồng dân tộc của các tỉnh trong thời hạn 14 ngày sau khi sự can thiệp bắt đầu tiến hành;

 

b. Việc can thiệp phải kết thúc nếu:

 

i. Thành viên nội các chịu trách nhiệm về vấn đề chính quyền địa phương không thông qua việc can thiệp trong thời hạn 28 ngày sau can thiệp hoặc trước thời hạn kết thúc không thông qua sự can thiệp; Hoặc

 

ii. Hội đồng không thông qua việc can thiệp trong thời hạn 180 ngày sau khi việc can thiệp bắt đầu hoặc trước thời hạn kết thúc không thông qua sự can thiệp; Và

 

c. Trong thời gian việc can thiệp tiếp tục, Hội đồng xem xét việc can thiệp thường xuyên và đưa ra các khuyến nghị cần thiết đối với cơ quan điều hành cấp tỉnh.

 

3. Nếu một Hội đồng thành phố bị giải tán theo quy định tại điểm c khoản 1:

 

a. Cơ quan điều hành cấp tỉnh phải ngay lập tức phải đệ trình một bản thông cáo về việc giải tán đến:

 

i. Thành viên nội các chịu trách nhiệm về vấn đề chính quyền địa phương; Hoặc

 

ii. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh tương ứng và Hội đồng dân tộc của các tỉnh.

 

b. Việc giải thể có hiệu lực trong vòng 14 ngày kể từ ngày nhận được Thông cáo của Hội đồng trừ khi không được giải quyết bởi Thành viên nội các hoặc Hội đồng trước thời hạn 14 ngày.

 

4. Nếu một chính quyền đô thị không thể hoặc không hoàn thành nghĩa vụ theo quy định của Hiến pháp hoặc pháp luật để thông qua ngân sách hoặc các biện pháp tăng nguồn thu để bảo đảm hiệu quả ngân sách, cơ quan điều hành cấp tỉnh tương ứng phải can thiệp bằng các biện pháp phù hợp để bảo đảm ngân sách hoặc các biện pháp huy động nguồn thu được thông qua, bao gồm cả việc giải tán Hội đồng thành phố và-

 

a. Bổ nhiệm nhà quản lý cho đến khi Hội đồng thành phố mới được bầu được công bố; Và

 

b. Thông qua ngân sách tạm thời hoặc các biện pháp huy động nguồn thu để bảo đảm duy trì việc thực hiện chức năng của chính quyền thành phố.

 

5. Nếu một chính quyền thành phố vì lý do khủng hoảng tài chính của mình mà vi phạm nghiệm trọng hoặc liên tục nghĩa vụ cung ứng dịch vụ hoặc bảo đảm thực hiện các cam kết tài chính hoặc thừa nhận không thể hoàn thành các nghĩa vụ hoặc cam kết tài chính, cơ quan điều hành cấp tỉnh liên quan phải:

 

a. Áp đặt một kế hoạch phục hồi nhằm bảo đảm năng lực của chính quyền thành phố trong việc hoàn thành nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ cơ bản hoặc các cam kết tài chính, kế hoạch này phải:

 

i. Được chuẩn bị theo quy định của pháp luật trung ương; Và

 

ii. Ràng buộc chính quyền thành phố trong việc thực hiện thẩm quyền lập pháp và hành pháp, nhưng chỉ trong phạm vi cần thiết để giải quyết khủng hoảng vấn đề tài chính; Và

 

b. Giải tán Hội đồng thành phố, nếu chính quyền thành không thể hoặc không thông qua các biện pháp lập pháp bao gồm vấn đề ngân sách và các biện pháp huy động nguồn thu cần thiết để đảm bảo hiệu quả thi hành kế hoạch phục hồi, và:

 

i. Bổ nhiệm một nhà quản lý cho đến khi Hội đồng thành phố mới được bầu và được công bố; Và

 

ii. Thông qua ngân sách tạm thời hoặc các biện pháp huy động nguồn thu hoặc các biện pháp khác bảo đảm hiệu quả thi hành kế hoạch phục hồi để duy trì việc thực hiện chức năng của chính quyền thành phố; Hoặc

 

c. Nếu chính quyền thành phố không bị giải tán theo điểm b, chính quyền thành phố sẽ đảm nhận trách nhiệm thực hiện kế hoạch phục hồi cho đến khi chính quyền không thể hoặc không thực hiện được kế hoạch phục hồi.

 

6. Nếu chính quyền cấp tỉnh can thiệp vào chính quyền một thành phố theo quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5, chính quyền cấp tỉnh phải đệ trình một thông cáo bằng văn bản về việc can thiệp đến:

 

a. Thành viên nội các phụ trách về vấn đề chính quyền địa phương; Và

 

b. Cơ quan lập pháp của tỉnh và Hội đồng dân tộc của các tỉnh trong thời hạn 7 ngày sau khi việc can thiệp bắt đầu thực hiện.

 

7. Nếu cơ quan điều hành cấp tỉnh không thể hoặc không thực hiện đầy đủ quyền hạn hoặc thi hành nhiệm vụ được quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5, cơ quan điều hành trung ương phải can thiệp theo quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 thay cho cơ quan điều hành cấp tỉnh.

 

8. Pháp luật trung ương có thể quy định việc thực hiện điều này, bao gồm việc quy định về quy trình được quy định tại điều này. [Điều 139 được thay thế bằng Điều 4 Đạo luật số 3 năm 2003]

 

140. Các quyết định điều hành

 

1. Một quyết định của Thủ hiến phải được thể hiện bằng văn bản nếu quyết định này:

 

a. Được thực hiện theo quy định của pháp luật;

 

b. Có các hậu quả pháp lý.

 

2. Một quyết định bằng văn bản của Thủ hiến phải được ký tiếp bởi một thành viên điều hành nếu quyết định này liên quan đến chức năng đã được phân công cho thành viên đó.

 

3. Các tuyên bố, quy định và các công cụ khác của văn bản dưới luật phải được tiếp cận bởi công chúng.

 

4. Việc xây dựng pháp luật của tỉnh có thể cụ thể hóa cách thức, phạm vi, công cụ liên quan được quy định tại khoản 3 phải:

 

a. Đệ trình cơ quan lập pháp cấp tỉnh; Và

 

b. Được cơ quan lập pháp cấp tỉnh thông qua.

 

141. Bỏ phiếu bất tín nhiệm

 

1. Nếu cơ quan lập pháp với đa số phiếu tán thành thông qua bản kiến nghị bất tín nhiệm đối với Hội đồng điều hành ngoại trừ Thủ hiến, Thủ hiến phải thành lập lại Hội đồng.

 

2. Nếu cơ quan lập pháp cấp tỉnh với đa số phiếu tán thành thông qua bản kiến nghị bất tín nhiệm đối với Thủ hiến, Thủ hiến và các thành viên Hội đồng điều hành phải từ chức.

 

Hiến pháp cấp tỉnh

 

142. Thông qua hiến pháp của tỉnh

 

Cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể thông qua một bản Hiến pháp của tỉnh mình hoặc sửa đổi bản hiến pháp này nếu có ít nhất 2/3 đại biểu bỏ phiếu ủng hộ.

 

143. Nội dung hiến pháp cấp tỉnh

 

1. Hiến pháp cấp tỉnh hoặc bản sửa đổi hiến pháp không được trái với Hiến pháp nhưng có thể quy định về:

 

a. Cấu trúc, thủ tục lập pháp hoặc điều hành của tỉnh khác với những quy định trong Chương này; Hoặc

 

b. Thiết chế, vai trò, thẩm quyền và địa vị của vương quyền truyền thống khi có thể áp dụng.

 

2. Các điều khoản trong bản hiến pháp cấp tỉnh hoặc bản sửa đổi hiến pháp theo quy định tại khoản a hoặc khoản b điều 1:

 

a. Phải tuân thủ với những giá trị tại điều 1 và với chương 3; Và

 

b. Không trao cho tỉnh bất cứ quyền hạn hoặc chức năng nào:

 

i. Ngoài những lĩnh vực thuộc thẩm quyền của cấp tỉnh quy định tại Mục 4 và Mục 5; Hoặc

 

ii. Ngoài những quyền hạn và nhiệm vụ được trao cho tỉnh được quy định trong chương khác của Hiến pháp này.

 

144. Chứng nhận hiến pháp cấp tỉnh

 

1. Nếu cơ quan lập pháp cấp tỉnh thông qua hoặc sửa đổi một bản hiến pháp, Chủ tịch cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải đệ trình văn bản hiến pháp hoặc bản sửa đổi hiến pháp lên Tòa Hiến pháp để chứng nhận.

 

2. Không một nội dung nào của hiến pháp cấp tỉnh hoặc bản sửa đổi hiến pháp trở thành luật cho đến khi Tòa Hiến pháp chứng nhận:

 

a. Văn bản đã được thông qua theo quy định tại điều 142; Và

 

b. Toàn bộ nội dung văn bản tuân thủ quy định của điều 143.

 

145. Ký ban hành, công bố và bảo vệ hiến pháp

 

1. Thủ hiến của một tỉnh phải tán thành và ký văn bản hiến pháp hoặc bản sửa đổi hiến pháp đã được Tòa Hiến pháp chứng nhận.

 

2. Văn bản đã được Thủ hiến tán thành và ký ban hành phải được ban hành trên Công báo Chính phủ và có hiệu lực thi hành khi công bố hoặc vào thời điểm được quy định trên hiến pháp hoặc văn bản sửa đổi.

 

3. Bản hiến pháp hoặc văn bản sửa đổi hiến pháp đã được ký ban hành bao gồm các bằng chứng ngoại lệ về các điều khoản, sau khi được ban hành, được Tòa Hiến pháp bảo vệ.

 

Mâu thuẫn pháp luật

 

146. Các mâu thuẫn giữa luật pháp trung ương và luật pháp cấp tỉnh

 

1. Chương này được áp dụng đối với một mâu thuẫn giữa văn bản quy phạm pháp luật trung ương và văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh liên quan đến các lĩnh vực chức năng được liệt kê ở Mục: 2. Văn bản quy phạm pháp luật trung ương được áp dụng thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và có hiệu lực cao hơn văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh nếu bất cứ điều kiện nào sau đây được đáp ứng:

 

a. Văn bản quy phạm pháp luật trung ương quy định về một vấn đề mà việc ban hành văn bản của từng tỉnh riêng lẻ là không hiệu quả.

 

b. Văn bản quy phạm pháp luật trung ương quy định về một vấn đề mà để giải quyết hiệu quả cần có sự thống nhất trong toàn bộ quốc gia và việc xây dựng pháp luật trung ương quy định sự thống nhất này bằng việc thiết lập:

 

i. Các quy tắc và tiêu chuẩn;

 

ii. Các khuôn khổ; Hoặc

 

iii. Chính sách quốc gia.

 

c. Văn bản quy phạm pháp luật trung ương cần thiết để:

 

i. Duy trì an ninh quốc gia;

 

ii. Duy trì sự thống nhất kinh tế;

 

iii. Bảo vệ thị trường chung về sự di chuyển của hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động;

 

iv. Khuyến khích các hoạt động kinh tế qua địa giới các tỉnh;

 

v. Thúc đẩy cơ hội công bằng hoặc sự tiếp cận công bằng các dịch vụ của chính phủ; Hoặc

 

vi. Bảo vệ môi trường.

 

3. Văn bản quy phạm pháp luật trung ương có hiệu lực thi hành cao hơn văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh nếu luật pháp trung ương hướng đến mục tiêu ngăn ngừa các biện pháp không hợp lý của một tỉnh:

 

a. Làm phương hại đến lợi ích kinh tế, sức khỏe hoặc an ninh của tỉnh khác cũng như toàn thể quốc gia; Hoặc

 

b. Ngăn cản việc thực hiện các chính sách kinh tế quốc dân.

 

4. Khi có một xung đột liên quan về có hay không cần thiết văn bản quy phạm pháp luật trung ương cho các mục tiêu được quy định tại điểm c khoản 2 thì xung đột này được chuyển đến tòa để giải quyết, tòa phải căn cứ vào sự thông qua hoặc bác bỏ của Hội đồng dân tộc của các tỉnh.

 

5. Văn bản quy phạm pháp luật cấp tỉnh có ưu thế hơn văn bản quy phạm pháp luật trung ương nếu khoản 2 hoặc khoản 3 không được áp dụng.

 

6. Một luật được ban hành theo quy định của một đạo luật của Nghị viện hoặc một đạo luật của tỉnh có thể có ưu thế nếu luật này được Hội đồng dân tộc các tỉnh thông qua.

 

7. Nếu Hội đồng dân tộc của các tỉnh không đi đến một quyết định trong thời hạn 30 ngày của kỳ họp đầu tiên sau khi một luật được chuyển đến thì luật đó phải được xem xét cho tất cả các mục đích như đã được Hội đồng thông qua.

 

8. Nếu Hội đồng dân tộc của các tỉnh không thông qua luật được chuyển đến theo quy định tại khoản 6, trong thời hạn 30 ngày, Hội đồng phải đưa ra lý do không thông qua luật đến cơ quan đã chuyển luật đó đến Hội đồng.

 

147. Các mâu thuẫn khác

 

1. Nếu có một mâu thuẫn giữa văn bản quy phạm pháp luật trung ương và một điều khoản của hiến pháp cấp tỉnh về:

 

a. Một vấn đề mà Hiến pháp đã yêu cầu cụ thể hoặc dự kiến ban hành văn bản quy phạm luật pháp ở trung ương, văn bản của trung ương sẽ có ưu thế trong việc tác động đến điều khoản của hiến pháp cấp tỉnh;

 

b. Sự can thiệp lập pháp của trung ương theo quy định tại khoản 2 điều 44, văn bản quy phạm của trung ương sẽ có ưu thế hơn so với điều khoản của hiến pháp cấp tỉnh;

 

c. Một vấn đề thuộc lĩnh vực chức năng được liệt kê tại Mục 4, điều 146 được áp dụng trên cơ sở xem xét các điều khoản hiến pháp cấp tỉnh như một văn bản quy phạm của tỉnh liên quan trong điều này.

 

2. Văn bản quy phạm pháp luật của trung ương liên quan đến khoản 2 điều 44 có ưu thế hơn văn bản bản quy phạm cấp tỉnh về các lĩnh vực chức năng được liệt kê ở Mục: 148. Các mâu thuẫn không thể được giải quyết

 

Nếu một xung đột liên quan đến một mâu thuẫn không thể được giải quyết bằng tòa án, văn bản quy phạm của trung ương sẽ có ưu thế hơn so với văn bản quy phạm hoặc hiến pháp cấp tỉnh.

 

149. Tình trạng pháp luật không được áp dụng

 

Một quyết định của toàn án về văn bản quy phạm nào có ưu thế áp dụng hơn không làm mất hiệu lực văn bản kia nhưng văn bản đó không được áp dụng trong thời gian mâu thuẫn vẫn còn tồn tại.

 

150. Giải thích các mâu thuẫn

 

Khi xem xét một mâu thuẫn hiển nhiên giữa văn bản quy phạm của trung ương và cấp tỉnh hoặc giữa văn bản quy phạm trung ương và hiến pháp cấp tỉnh, tòa án phải ưu tiên bất cứ cách giải thích hợp lý nào nhằm tránh mâu thuẫn giữa văn bản quy phạm của trung ương và cấp tỉnh thay cho bất cứ cách giải thích nào dẫn đến mâu thuẫn.

 

CHƯƠNG VII: CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

 

151. Địa vị của chính quyền thành phố

 

1. Chính quyền địa phương bao gồm chính quyền các đô thị được thiết lập trên toàn bộ lãnh thổ nước Cộng hòa.

 

* 1. Cho đến khi Thủ hiến nhậm chức hoặc tỉnh ban hành hiến pháp, điều 132 được hiểu như quy định tại Phụ luc C Mục 6. Xem tiểu mục 12 (2) Mục: * 2. Cho đến khi Thủ hiến nhậm chức hoặc tỉnh ban hành hiến pháp, Điều 136 được nhiểu như khoản 3 được quy định tại Phụ lục C Mục 6. Xem tiểu mục 12 (2) Mục: 2. Thẩm quyền điều hành và xây dựng văn bản quy phạm của chính quyền đô thị được trao cho Hội đồng thành phố.

 

3. Một chính quyền thành phố có quyền quản lý theo năng lực các vấn đề của chính quyền địa phương của cộng đồng theo quy định của pháp luật ở trung ương và địa phương như Hiến pháp này dự kiến.

 

4. Chính quyền trung ương và cấp tỉnh không thể dàn xếp hoặc ngăn cản khả năng và quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền đô thị.

 

152. Mục tiêu của chính quyền địa phương

 

1. Các mục tiêu của chính quyền địa phương là:

 

a. Bảo đảm một chính quyền dân chủ và có trách nhiệm giải trình cho cộng đồng;

 

b. Bảo đảm cung ứng dịch vụ cho cộng đồng một cách bền vững;

 

c. Thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội;

 

d. Thúc đẩy một môi trường an toàn và lành mạnh; Và

 

e. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức cộng đồng về các vấn đề của chính quyền địa phương.

 

2. Chính quyền đô thị phải nỗ lực trong khuôn khổ năng lực tài chính và hành chính để đạt được những mục tiêu xác định ở khoản 1.

 

153. Trách nhiệm phát triển của chính quyền đô thị

 

Chính quyền một đô thị phải:

 

1. Cấu trúc và quản lý quá trình điều hành, ngân sách và kế hoạch để đưa ra những ưu tiên cho các nhu cầu cơ bản của cộng đồng, thúc đẩy sự phát triển xã hội và kinh tế của cộng đồng; Và

 

2. Tham gia vào các chương trình phát triển của trung ương và cấp tỉnh.

 

154. Chính quyền các đô thị trong sự phối hợp chính quyền

 

1. Chính phủ trung ương và chính quyền cấp tỉnh bằng các biện pháp pháp lý và các biện pháp khác phải hỗ trợ và tăng cường năng lực của chính quyền các đô thị để quản lý các vấn đề địa phương, thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ.

 

2. Các dự thảo văn bản quy phạm của trung ương và cấp tỉnh có ảnh hưởng đến vị trí, tổ chức, quyền hạn hay nhiệm vụ của chính quyền địa phương phải được công khai để công chúng đóng góp ý kiến trước khi trình Nghị viện hoặc cơ quan lập pháp cấp tỉnh, bằng cách này cho phép chính quyền địa phương, chính quyền đô thị và những người quan tâm có cơ hội để bày tỏ ý kiến của mình về các dự thảo.

 

155. Thành lập chính quyền đô thị

 

1. Có các loại chính quyền đô thị dưới đây:

 

a. Loại A: Một chính quyền đô thị có toàn quyền điều hành và xây dựng văn bản quy phạm trong phạm vi lãnh thổ.

 

b. Loại B: Một chính quyền đô thị chia sẻ thẩm quyền điều hành và xây dựng văn bản quy phạm trong phạm vi lãnh thổ với loại C trong những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý.

 

c. Loại C: Một chính quyền đô thị có quyền điều hành và xây dựng văn bản quy phạm trong một lãnh thổ có hơn một chính quyền đô thị.

 

2. Văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương phải quy định các loại chính quyền đô thị có thể thành lập trong mỗi loại.

 

3. Văn bản quy phạm pháp luật ở trung ương phải:

 

a. Xây dựng tiêu chuẩn cho việc quyết định khi nào một khu vực có thể có chính quyền đô thị loại A hoặc khi nào khu vực này phải có chính quyền đô thị loại B hoặc loại C;

 

b. Xây dựng tiêu chuẩn và quy trình cho việc quyết định địa giới đô thị bởi một cơ quan có thẩm quyền độc lập; Và

 

c. Tuân thủ điều 229, xây dựng các điều khoản phù hợp cho việc phân chia quyền hạn và nhiệm vụ giữa các chính quyền đô thị khi một khu vực có chính quyền đô thị cả loại B và loại C. Sự phân chia quyền hạn và nhiệm vụ giữa loại B này và loại C này có thể khác biệt giữa sự phân biệt các chính quyền đô thị loại B kia với chính quyền đô thị loại C kia.

 

4. Văn bản quy phạm quy định tại khoản 3 phải chú ý đến việc bảo đảm cung cấp các dịch vụ đô thị một cách công bằng và bền vững.

 

5. Văn bản quy phạm của cấp tỉnh phải xác định các loại chính quyền đô thị khác nhau được xây dựng trong tỉnh.

 

6. Chính quyền mỗi tỉnh phải xây dựng các chính quyền đô thị trong tỉnh phù hợp với văn bản quy phạm được ban hành theo khoản 2 và khoản 3 điều này bằng các biện pháp pháp lý và các biện phác khác, phải:

 

a. Dự kiến việc giám sát và trợ giúp chính quyền địa phương trong tỉnh; Và

 

b. Thúc đẩy sự phát triển năng lực chính quyền địa phương cho phép chính quyền các đô thị thực hiện các chức năng và quản lý các công việc của đô thị. [Điểm 6 A được bổ sung bởi Điều 1 Đạo luật số 87 năm 1998 và được xóa bỏ bằng Điều 2 Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 12 năm 2005]

 

7. Chính phủ trung ương theo điều 44 và chính quyền cấp tỉnh có thẩm quyền xây dựng văn bản quy phạm và điều hành bảo đảm hiệu quả thực thi của chính quyền đô thị trong việc thực hiện các nhiệm vụ về những vấn đề được liệt kê tại Mục 4 và Mục 5 bằng việc quy định việc thực hiện thẩm quyền điều hành của chính quyền đô thị được đề cập tại khoản 1 Điều 156.

 

156. Quyền hạn và nhiệm vụ của các chính quyền đô thị

 

1. Một chính quyền đô thị có thẩm quyền điều hành về các lĩnh vực, và có quyền quản lý:

 

a. Các vấn đề chính quyền địa phương được liệt kê tại phần B Mục 4 và phần B Mục 5; Và

 

b. Bất kỳ vấn đề nào khác do cơ quan lập pháp quốc gia hoặc cấp tỉnh giao cho.

 

2. Một chính quyền đô thị có thể ban hành và thực hiện các văn bản pháp quy để quản lý hiệu quả các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình.

 

3. Liên quan tới điều 151 (4), một văn bản pháp quy mà không phù hợp với luật quốc gia và luật của tỉnh sẽ bị coi là không có hiệu lực. Nếu có một mâu thuẫn giữa một văn bản pháp quy với luật quốc gia và luật của tỉnh mà không còn hiệu lực theo quy định ở điều 149, văn bản pháp quy sẽ được coi là có hiệu lực trong chừng mực mà văn bản pháp luật cao hơn không còn hiệu lực.

 

4. Chính phủ quốc gia và chính quyền cấp tỉnh, bằng thoả thuận, phải cho phép chính quyền đô thị được quản lý một vấn đề nêu ở Phần A của Mục 4 hoặc Mục 5 mà liên quan đến chính quyền địa phương, nếu:

 

a. Vấn đề đó được quản lý một cách hiệu quả nhất ở cấp địa phương; Và

 

b. Chính quyền đô thị có năng lực quản lý nó.

 

5. Một chính quyền đô thị có quyền thực thi bất kỳ quyền lực nào liên quan đến một vấn đề cần thiết hoặc có khả năng cần thiết cho việc thực thi hiệu quả các chức năng của chính quyền đó.

 

157. Cấu trúc và việc bầu cử hội đồng đô thị

 

1. Một chính quyền đô thị bao gồm:

 

a. Các thành viên được bầu ra phù hợp với quy định ở các tiểu mục (2), (3), (4) Và (5); Hoặc

 

b. Nếu được quy định bởi pháp luật quốc gia

 

i. Các thành viên được chỉ định bởi các hội đồng đô thị khác để đại diện cho các hội đồng đó; Hoặc

 

ii. Cả hai loại thành viên được bầu ra phù hợp với quy định ở đoạn (a) Và các thành viên được cử ra phù hợp với điểm (i) Của đoạn này. [Các tiểu mục (1) Được thay thế bởi tiểu mục 1 (a) Của Luật số 18 năm 2002; Và được sửa đổi bởi tiểu mục 3 Tu chính Hiến pháp năm 2009]

 

2. Việc bầu cử các thành viên của một hội đồng thành phố như nêu ở tiểu mục (1) (a) Phải phù hợp với pháp luật quốc gia, mà phải mô tả một cơ chế:

 

a. Có tính đại diện cân bằng dựa trên phần của đô thị trong tổng số cử tri của cả nước, và phải cung cấp cho việc bầu cử các thành viên từ các danh mục ứng cử viên của các đảng chính trị; Hoặc

 

b. Có tính đại diện cân bằng như nêu ở đoạn (a) Kết hợp với một cơ chế đại diện cộng đồng mà dựa trên phần của đô thị trong tổng số cử tri của cả nước.

 

3. Một cơ chế bầu cử theo tiểu mục (2) Nhìn chung phải thể hiện tính đại diện cân bằng. [tiểu mục (3) Được thay thế bởi tiểu mục 1 (b) Của Luật số 18 năm

 

2002]

 

4.

 

a. Nếu cơ chế bầu cử bao gồm đại diện cộng đồng, sự phân định các cộng đồng phải được thực hiện bởi một cơ quan độc lập được bầu ra và vận hành phù hợp với các thủ tục và yếu tố được nêu trong pháp luật quốc gia. [Tiểu mục (4) Được thay thế bởi tiểu mục 2 Luật số 87 năm 1998. Đoạn

 

(b) Được thay thế bởi tiểu mục 3 Tu chính Hiến pháp năm 2005]

 

5. Một người chỉ có thể đi bầu cử ở một đô thị khi người đó đăng ký đi bầu ở khu vực đô thị đó trong bảng danh sách cử tri chung của quốc gia.

 

6. Luật quốc gia được đề cập trong tiểu mục (1) (b) Phải xác định một cơ chế mà cho phép các đảng chính trị và các nhóm lợi ích trong hội đồng đô thị đề cử và có đại diện của mình trong hội đồng một cách thích đáng.

 

158. Tư cách thành viên hội đồng đô thị

 

1. Mọi công dân đô thị có tư cách bỏ phiếu bầu cử Hội đồng đô thị thì có đủ tư cách trở thành thành viên của Hội đồng, trừ trường hợp:

 

a. Bất cứ ai được đô thị bổ nhiệm hoặc làm việc trong công vụ và được nhận thù lao từ việc bổ nhiệm hoặc công vụ, và những người bị coi là không đủ điều kiện theo luật quốc gia.

 

b. Bất cứ ai được bổ nhiệm bởi nhà nước hoặc phục vụ cho nhà nước trong lĩnh vực khác và nhận thù lao từ việc bổ nhiệm hoặc công vụ đó, và những người bị coi là không đủ điều kiện trở thành thành viên của Hội đồng đô thị theo luật quốc gia.

 

c. Bất cứ bị coi là không đủ điều kiện bầu cử Quốc hội hoặc bị coi là không đủ điều kiện trở thành đại biểu Quốc hội theo quy định ở điều 47 (1) (c), (d) Hoặc (e);

 

d. Một thành viên của Quốc hội, một đại biểu của Hội đồng dân tộc của các tỉnh hoặc một thành viên của cơ quan lập pháp tỉnh, tuy nhiên, việc tuyên bố không đủ tư cách không áp dụng với một thành viên của Hội đồng đô thị mà đại diện cho chính quyền địa phương trong Hội đồng dân tộc của các tỉnh; Hoặc

 

e. Một thành viên của Hội đồng đô thị đại diện cho Hội đồng đó trong một Hội đồng đô thị khác.

 

2. Một người mà không đủ điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng đô thị theo quy định tại tiểu mục (1) (a), (b), (d) Hoặc (e) Có thể trở thành ứng cử viên của Hội đồng, miễn là đáp ứng bất kỳ giới hạn hoặc điều kiện nào do luật quốc gia quy định.

 

159. Nhiệm kỳ của hội đồng đô thị

 

1. Nhiệm kỳ của Hội đồng đô thị không dài quá 5 năm, như đã được quy định trong luật quốc gia.

 

2. Nếu một Hội đồng đô thị bị giải tán theo luật quốc gia, hoặc khi nhiệm kỳ của nó hết hạn, một cuộc bầu cử phải được tổ chức trong vòng 90 ngày kể từ ngày Hội đồng đó bị giải tán hay hết nhiệm kỳ.

 

3. Một Hội đồng đô thị bị giải tán theo quy định ở điều 139 vẫn có quyền duy trì chức năng của nó trong thời gian nó bị giải tán hoặc nhiệm kỳ đã hết, cho tới khi Hội đồng mới được bầu lên và ra mắt. [Điều 159 được thay thế bởi tiểu mục 1 luật số 65 năm 1998. ]

 

160. Các thủ tục nội bộ

 

1. Một Hội đồng đô thị có quyền:

 

a. Đưa ra các quyết định liên quan đến việc thực hiện tất cả quyền lực và thực thi tất cả các chức năng của đô thị;

 

b. Bầu ra chủ tịch hội đồng;

 

c. Bầu ra ủy ban điều hành và các ủy ban khác phù hợp với luật quốc gia, và

 

d. Có thể tuyển dụng nhân sự cần thiết cho việc thực thi các chức năng của nó một cách hiệu quả.

 

2. Các chức năng sau đây được ủy quyền cho Hội đồng đô thị:

 

a. Thông qua các văn bản pháp quy;

 

b. Phê chuẩn ngân sách;

 

c. Đặt ra các loại thuế, phí, lệ phí và khoản thu khác; Và

 

d. Cung cấp các khoản vay.

 

3.

 

a. Việc biểu quyết thông qua bất kỳ vấn đề gì của Hội đồng đô thị đều đòi hỏi phải có đa số thành viên có mặt.

 

b. Tất cả các vấn đề được đề cập ở tiểu mục (2) Phải được thông qua bởi một quyết định do Hội đồng đô thị đưa ra với đa số phiếu ủng hộ của các thành viên.

 

c. Tất cả các vấn đề khác đưa ra trước Hội đồng đô thị được quyết định bởi đa số phiếu quá bán.

 

4. Không văn bản pháp quy nào có thể được Hội đồng đô thị trừ khi:

 

a. Tất cả các thành viên của Hội đồng đã được thông báo một cách đầy đủ; Và

 

b. Văn bản pháp quy đã được công bố cho công chúng góp ý.

 

5. Luật quốc gia có thể cung cấp những tiêu chuẩn sau đây cho việc xem xét, quyết định:

 

a. Cấp độ của Hội đồng đô thị;

 

b. Liệu Hội đồng đô thị có thể được bầu ra một ủy ban hành chính hoặc bất kỳ ủy ban nào khác hay không; Hoặc

 

c. Cấp độ của ủy ban hành chính hoặc bất kỳ ủy ban nào khác của Hội đồng đô thị.

 

6. Một Hội đồng đô thị có thể đưa ra một văn bản pháp quy đề cập đến các quy tắc và thủ tục cho:

 

a. Vấn đề tổ chức nội bộ;

 

b. Công việc và thủ tục; Và

 

c. Việc thiết lập, cơ cấu, thủ tục, quyền hạn, chức năng của các ủy ban trực thuộc.

 

7. Một Hội đồng đô thị hoặc các ủy ban của nó phải thực thi chức năng theo cách thức công khai nhưng có thể họp kín chỉ khi có lý do phù hợp để làm như vậy liên quan đến tính chất của hoạt động mà nó tiến hành.

 

8. Các thành viên của Hội đồng đô thị có quyền tham gia các hoạt động của Hội đồng và của các ủy ban của hội đồng theo cách thức mà:

 

a. Cho phép các đảng phái và nhóm lợi ích có thể phản ánh quan điểm của họ trước hội đồng theo một cách thức bình đẳng;

 

b. Phù hợp với tinh thần dân chủ; Và

 

c. Được điều chỉnh bởi luật quốc gia.

 

161. Đặc quyền

 

Cơ quan lập pháp cấp tỉnh, trong khuôn khổ cơ quan lập pháp quốc gia, có thể quy định các đặc quyền và miễn trừ cho Hội đồng đô thị và các thành viên của nó.

 

162. Công bố các văn bản pháp quy của đô thị

 

1. Một văn bản pháp quy của đô thị chỉ có hiệu lực sau khi nó đã được công bố trên công báo của tỉnh liên quan.

 

2. Công báo của tỉnh phải công bố văn bản pháp quy của đô thị theo yêu cầu của đô thị.

 

3. Công chúng phải có khả năng tiếp cận với văn bản pháp quy của đô thị.

 

163. Chính quyền địa phương có tổ chức

 

Một đạo luật của Nghị viện được thông qua theo thủ tục nêu ở điều 76 phải:

 

1. Thừa nhận các tổ chức cấp tỉnh và cấp quốc gia đại diện cho các đô thị; Và

 

2. Quyết định các thủ tục mà chính quyền địa phương có thể:

 

a. Tham vấn chính quyền cấp tỉnh hoặc chính quyền trung ương;

 

b. Cử các đại diện tham gia Hội đồng dân tộc của các tỉnh; Và

 

c. Tham gia tiến trình nêu ở luật quốc gia mà quy định ở điều 221 (1) (c). [Đoạn (b) Được thay thế bởi đoạn 4 Luật số 61 năm 2001]

 

164. Các vấn đề khác

 

Bất kỳ vấn đề nào liên quan đến chính quyền địa phương mà chưa được nêu trong Hiến pháp có thể được điều chỉnh bởi luật quốc gia hoặc văn bản pháp luật của tỉnh trong khuôn khổ luật quốc gia.

 

CHƯƠNG VIII: CÁC TÒA ÁN VÀ HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

 

165. Quyền tư pháp

 

1. Quyền tư pháp của nước Cộng hoà được trao cho các toà án.

 

2. Các toà án độc lập và chỉ phải tuân thủ Hiến pháp và luật, và phải áp dụng Hiến pháp và luật một cách vô tư, không sợ hãi hay thiên vị.

 

3. Không một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước nào có thể can thiệp vào hoạt động của các toà án.

 

4. Các cơ quan nhà nước, thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác, phải hỗ trợ và bảo vệ các toà án để bảo đảm tính độc lập, vô tư, khả năng tiếp cận và hiệu quả của các toà án.

 

5. Quyết định hoặc bản án của các toà án có hiệu lực ràng buộc mọi cá nhân và cơ quan nhà nước có liên quan.

 

166. Hệ thống tư pháp

 

Các toà án gồm:

 

1. Toà hiến pháp;

 

2. Toà phúc thẩm tối cao;

 

3. Toà cấp cao, bao gồm toà cấp phúc thẩm cấp cao mà được thành lập theo Luật của Nghị viện để xét xử phúc thẩm các vụ án đã được xử bởi toà cấp cao;

 

4. Toà sơ cấp (Magistrates' Courts); Và

 

5. Bất kỳ toà án nào khác được thiết lập hoặc thừa nhận theo Luật của Nghị viện, bao gồm bất kỳ toà án hoặc một cơ chế tương tự, bất kể đó là toà cấp cao hoặc toà cơ sở.

 

167. Toà hiến pháp

 

1. Toà Hiến pháp bao gồm chánh án, phó chánh án và 9 thẩm phán. [tiểu mục (1) Được thay thế bởi tiểu mục 11 Luật số 34 năm 2001]

 

2. Một vấn đề đưa ra trước Toà Hiến pháp phải được xét xử bởi ít nhất 8 thẩm phán.

 

3. Toà Hiến pháp

 

a. Là toà cấp cao nhất có quyền xử lý tất cả các vấn đề về hiến pháp;

 

b. Có thể xử lý chỉ các vấn đề về hiến pháp và các quyết định có liên quan đến những vấn đề của hiến pháp; Và

 

c. Đưa ra quyết định cuối cùng về việc liệu một vấn đề có là vấn đề hiến pháp hay có liên quan đến vấn đề hiến pháp.

 

4. Chỉ Toà Hiến pháp mới có thể:

 

a. Giải quyết các xung đột giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và cấp tỉnh có liên quan đến vị thế, quyền lực và chức năng hiến định của các cơ quan đó;

 

b. Quyết định về tính hợp hiến của bất kỳ đạo luật nào nhưng chỉ trong bối cảnh nêu ở điều 79 hoặc 121;

 

c. Quyết định việc áp dụng các quy định nêu ở điều 80 hoặc 122;

 

d. Quyết định về tính hợp hiến của bất kỳ tu chính hiến pháp nào;

 

e. Quyết định rằng Nghị viện và Tổng thống đã vi phạm các nghĩa vụ hiến định; Hoặc

 

f. Xác nhận một hiến pháp của tỉnh theo quy định ở điều 144.

 

5. Toà Hiến pháp đưa ra quyết định cuối cùng về việc một đạo luật của Nghị viện, đạo luật của tỉnh hay một hành động của Tổng thống có hợp hiến hay không, và phải xác nhận tính hợp hiến của bất kỳ quyết định về sự vô hiệu do toà phúc thẩm tối cao, toà cấp cao hoặc các toà án thường trước khi quyết định đó có hiệu lực.

 

6. Luật và quy tắc về Toà Hiến pháp phải cho phép một người mà vì lợi ích của công lý được:

 

a. Đưa vấn đề trực tiếp ra Toà Hiến pháp; Hoặc

 

b. Kháng cáo trực tiếp lên Toà Hiến pháp từ bất kỳ toà án nào khác.

 

7. Một vấn đề hiến pháp bao gồm bất kỳ khía cạnh nào liên quan đến giải thích, bảo vệ hoặc thực thi hiến pháp.

 

168. Toà phúc thẩm tối cao

 

1. Toà Phúc thẩm tối cao bao gồm chánh toà, phó chánh toà và các thẩm phán phúc thẩm được lựa chọn theo quy định bởi một đạo luật của nghị viện. [Tiểu mục (1) Được thay thế bởi tiểu mục 12 Luật số 34 năm 2001]

 

2. Một vấn đề đưa ra trước Toà Phúc thẩm tối cao phải được xét xử bởi một số thẩm phán được lựa chọn theo quy định bởi một đạo luật của nghị viện. [Tiểu mục (2) Được thay thế bởi tiểu mục 12 Luật số 34 năm 2001]

 

3. Toà Phúc thẩm tối cao có thể quyết định phúc thẩm về bất kỳ vấn đề gì. Nó là toà phúc thẩm cao nhất, chỉ không được xử lý các vấn đề về hiến pháp. Nó có thẩm quyền xử lý các vụ việc sau:

 

a. Các vụ kháng cáo;

 

b. Các vấn đề liên quan đến kháng cáo; Và

 

c. Bất kỳ vấn đề nào mà có thể có liên quan trong bối cảnh được xác định bởi một đạo luật của nghị viện.

 

169. Toà cấp cao

 

Một toà cấp cao có quyền xử lý:

 

1. Bất kỳ vấn đề hiến pháp nào trừ những vấn đề mà:

 

a. Thuộc về thẩm quyền riêng của Toà Hiến pháp; Hoặc

 

b. Được một đạo luật của Nghị viện giao cho toà án khác tương tự như toà cấp cao; Và

 

2. Bất kỳ vấn đề nào khác không được giao cho toà án khác bởi một đạo luật của Nghị viện.

 

170. Toà địa phương và các toà án khác

 

Các toà địa phương và tất cả các dạng toà án khác có quyền xử lý bất kỳ vấn đề nào được giao cho theo một đạo luật của Nghị viện, tuy nhiên, một toà án có vị thế thấp hơn toà cấp cao không thể ra phán quyết về tính hợp hiến của bất kỳ đạo luật nào hoặc bất kỳ hành động nào của Tổng thống.

 

171. Thủ tục toà án

 

Mọi chức năng, quy tắc, thủ tục pháp lý của toà án phải được quy định bởi pháp luật.

 

172. Quyền của toà án trong các vấn đề hiến định

 

1. Khi xem xét một vấn đề hiến định thuộc thẩm quyền của toà, một toà án:

 

a. Phải tuyên bố rằng bất kỳ luật hoặc hành động nào không phù hợp với Hiến pháp sẽ bị coi là vô hiệu trong chừng mực sự không phù hợp đó; Và

 

b. Có thể đưa ra những phán quyết công bằng và hợp lý, bao gồm:

 

i. Phán quyết giới hạn hiệu lực hồi tố của tuyên bố mất hiệu lực; Và

 

ii. Phán quyết tạm đình chỉ tuyên bố mất hiệu lực trong một giai đoạn nhất định và với những điều kiện nhất định, nhằm cho phép các cơ quan có thẩm quyền sửa chữa sai sót.

 

2.

 

a. Một Toà Phúc thẩm tối cao, toà cấp cao hoặc một toà có vị thế tương tự có thể đưa ra phán quyết liên quan đến tính hợp hiến của một đạo luật của Nghị viện, một văn bản pháp luật của tỉnh hoặc bất kỳ hành động nào của Tổng thống, nhưng một phán quyết về tính hợp hiến sẽ không có hiệu lực ngay cho đến khi phán quyết đó được xác nhận bởi Toà Hiến pháp.

 

b. Một toà án đưa ra một phán quyết về tính hợp hiến có thể ban hành một lệnh cấm tạm thời hoặc các biện pháp tạm thời khác với một bên tham gia tố tụng, hoặc có thể hoãn các thủ tục tố tụng, dừng một quyết định của Toà Hiến pháp về tính hợp hiến của một đạo luật hay một hành động.

 

c. Pháp luật quốc gia phải quy định việc chuyển một phán quyết về tính hợp hiến lên xem xét bởi Toà Hiến pháp.

 

d. Bất kỳ cá nhân hoặc cơ quan nhà nước nào đều có thể kháng cáo trực tiếp lên Toà Hiến pháp để khẳng định hoặc thay đổi một phán quyết về tính hợp hiến bởi một toà án theo quy định ở mục này.

 

173. Quyền lực cố hữu

 

Toà Hiến pháp, Toà Phúc thẩm tối cao và các toà cấp cao có quyền cố hữu về bảo vệ và điều chỉnh tiến trình làm việc riêng của mình, và được đưa ra các quy tắc thông luật trên cơ sở vì lợi ích của công lý.

 

174. Việc bổ nhiệm thẩm phán

 

1. Bất kỳ phụ nữ hoặc đàn ông nào đủ tiêu chuẩn đều có thể được bổ nhiệm làm thẩm phán. Bất kỳ người nào được bổ nhiệm làm thẩm phán Toà Hiến pháp đều phải là công dân Nam Phi.

 

2. Việc bổ nhiệm thẩm phán phải tính đến nhu cầu đại diện rộng rãi về chủng tộc và giới trong nền tư pháp của Nam Phi.

 

3. Tổng thống, với tư cách là người đứng đầu nhánh hành pháp, sau khi tham vấn với ủy ban dịch vụ tư pháp và lãnh đạo các đảng chính trị có đại diện trong Quốc hội, sẽ bổ nhiệm tổng chưởng lý và phó tổng chưởng lý, và sau khi tham vấn với hội đồng dịch vụ tư pháp, sẽ bổ nhiệm chánh án và phó chánh án Toà Phúc thẩm tối cao. [Tiểu mục (3) Được thay thế bởi tiểu mục 13 Luật số 34 năm 2001]

 

4. Các thẩm phán khác của Toà Hiến pháp được bổ nhiệm bởi Tổng thống, người đứng đầu nhánh hành pháp, sau khi tham vấn với tổng chưởng lý và lãnh đạo các đảng chính trị có đại diện trong Quốc hội, theo thủ tục như sau:

 

a. Hội đồng dịch vụ tư pháp phải chuẩn bị một danh sách những ứng cử viên với số ứng cử viên nhiều hơn ít nhất là 3 so với số lượng người sẽ được bổ nhiệm, và phải trình danh sách đó lên Tổng thống.

 

b. Tổng thống có thể quyết định bổ nhiệm những ứng cử viên trong danh sách, và phải tham vấn Ủy ban dịch vụ tư pháp về bất kỳ ứng cử viên nào mà không được chấp nhận và nếu Tổng thống không bổ nhiệm hết số lượng quy định.

 

c. Ủy ban dịch vụ tư pháp phải bổ sung danh sách ứng cử viên nếu Tổng thống không bổ nhiệm hết số lượng quy định từ danh sách đề cử trước. [Tiểu mục (4) Được thay thế bởi tiểu mục 13 trong Luật số 34 năm 2001]

 

5. Ở mọi thời điểm, ít nhất có 4 thẩm phán của Toà Hiến pháp đồng thời phải đã là thẩm phán vào thời điểm họ được bổ nhiệm là thẩm phán Toà Hiến pháp.

 

6. Tổng thống phải bổ nhiệm các thẩm phán của tất cả các toà án theo tư vấn của Ủy ban dịch vụ tư pháp.

 

7. Các thẩm phán khác phải được bổ nhiệm theo quy định tại Luật của Nghị viện mà bảo đảm rằng việc bổ nhiệm, thăng chức, thuyên chuyển, bãi nhiệm hoặc bất kỳ biện pháp kỷ luật nào với thẩm phán cũng phải được thực hiện một cách công bằng, vô tư, không định kiến.

 

8. Trước khi các thẩm phán thực thi chức năng của họ, họ phải tuyên thệ hoặc hứa rằng họ sẽ trung thành và bảo vệ Hiến pháp, theo như quy định tại Mục: 175. Quyền thẩm phán

 

1. Tổng thống có thể bổ nhiệm một phụ nữ hoặc nam giới làm quyền thẩm phán của Toà Hiến pháp trong trường hợp thiếu hoặc thẩm phán đi vắng. Việc bổ nhiệm phải được thực hiện trên cơ sở khuyến nghị của các thành viên nội các có trách nhiệm về thực thi pháp luật và với tổng chưởng lý. [Tiểu mục (1) Được thay thế bởi tiểu mục 14 trong Luật số 34 năm 2001]

 

2. Các thành viên nội các có trách nhiệm về thực thi pháp luật phải bổ nhiệm quyền thẩm phán cho các toà án khác sau khi tham vấn thấm phán cao cấp của toà án về công việc mà quyền thẩm phán sẽ đảm nhiệm.

 

176. Quy định về văn phòng và lương bổng

 

1. Thẩm phán Toà Hiến pháp phục vụ trong vòng 12 năm nhưng không được tái bổ nhiệm, hoặc cho tới khi 70 tuổi, trừ khi một đạo luật của Nghị viện kéo dài nhiệm kỳ của thẩm phán Toà Hiến pháp. [Tiểu mục (1) Được thay thế bởi tiểu mục 15 trong Luật số 34 năm 2001]

 

2. Những thẩm phán khác phục vụ cho đến khi không còn khả năng phục vụ, theo quy định bởi một đạo luật của Nghị viện.

 

3. Lương, phụ cấp và những lợi ích khác của thẩm phán không thể bị rút bớt.

 

177. Bãi nhiệm

 

1. Một thẩm phán chỉ có thể thể bị bãi nhiệm khi:

 

a. Ủy ban dịch vụ tư pháp chứng minh rằng thẩm phán đó không đủ năng lực, làm việc không hiệu quả hoặc có những hành vi phạm pháp; Và

 

b. Quốc hội kêu gọi bãi nhiệm thẩm phán đó qua một nghị quyết được thông qua với ít nhất 2/3 số phiếu ủng hộ.

 

2. Tổng thống phải bãi nhiệm một thẩm phán sau khi có một nghị quyết của Quốc hội kêu gọi bãi nhiệm người đó.

 

3. Tổng thống, trên cơ sở tư vấn của Ủy ban dịch vụ tư pháp, có thể tạm đình chỉ công việc của một thẩm phán mà là mục tiêu điều tra theo quy định ở tiểu mục (1).

 

178. Ủy ban dịch vụ tư pháp

 

1. Thành lập một Ủy ban dịch vụ tư pháp với thành phần bao gồm:

 

a. Một chủ tịch, người chủ trì các cuộc họp của Ủy ban;

 

b. Chánh án Toà Phúc thẩm tối cao; [Đoạn (b) Đã được thay thế bởi tiểu mục 16 (a) Luật số 34 năm

 

2001. ]

 

c. Một chánh án được đề cử bởi chủ tịch hội đồng các thẩm phán;

 

d. Các thành viên của ủy ban có trách nhiệm thực hành tư pháp;

 

e. Hai luật sư được đề cử bởi hiệp hội luật sư để đại diện cho hội nghề nghiệp đó và được bổ nhiệm bởi Tổng thống;

 

f. Hai chưởng lý được đề cử bởi hiệp hội chưởng lý để đại diện cho hội nghề nghiệp đó và được bổ nhiệm bởi Tổng thống;

 

g. Một giáo sư luật được đề cử bởi các giáo sư luật trong các trường luật của Nam Phi;

 

h. 6 người được đề cử bởi Quốc hội trong số các đại biểu Quốc hội, ít nhất 3 trong số đó là thành viên của một đảng đối lập trong Quốc hội;

 

i. 4 đại biểu thường trực của Hội đồng quốc gia của các tỉnh được đề cử bởi Hội đồng với sự bỏ phiếu ủng hộ của ít nhất 6 tỉnh;

 

j. 4 người được đề cử bởi Tổng thống với tư cách là người đứng đầu nhánh hành pháp quốc gia, sau khi tham vấn với lãnh đạo của tất cả các đảng có đại diện trong Quốc hội; Và

 

k. Khi xem xét các vấn đề liên quan đến một toà án cấp cao cụ thể, chánh án của toà án đó và thủ hiến của tỉnh liên quan, hoặc một người đại diện do họ chỉ định. [Đoạn (k) Đã được thay thế bởi tiểu mục 2 (a) Luật số 65 năm 1998 và tiểu mục 16 (b) Luật số 34 năm 2001]

 

2. Nếu số lượng người được đề cử trong số luật gia và chưởng lý theo tiểu mục (1) (e) Hoặc (f) Bằng với số vị trí cần bầu thì Tổng thống phải bổ nhiệm họ. Nếu con số đó cao hơn số ghế cần bầu thì Tổng thống, sau khi tham vấn với các hiệp hội nghề nghiệp đó, phải bổ nhiệm ứng cử viên phù hợp trong số họ có tính đến việc bảo đảm tính đại diện của nghề nghiệp nói chung.

 

3. Thành viên của Ủy ban do Hội đồng dân tộc các tỉnh đề cử phục vụ cho đến khi họ thay thế cho nhau hoặc cho đến khi có một ghế trống xuất hiện trong số họ. Những thành viên khác được giới thiệu hoặc đề cử bởi Ủy ban phục vụ cho đến khi họ được thay thế bởi người được giới thiệu hay đề cử khác.

 

4. Ủy ban dịch vụ tư pháp có các quyền và chức năng theo Hiến pháp và pháp luật quốc gia quy định.

 

5. Ủy ban dịch vụ tư pháp có thể tư vấn cho chính phủ quốc gia về bất kỳ vấn đề nào liên quan đến quyền tư pháp hoặc việc thực hành tư pháp nhưng khi xem xét bất kỳ vấn đề nào, ngoại trừ vấn đề bổ nhiệm thẩm phán, Ủy ban phải bao gồm các thành viên được đề cử theo các tiểu mục (1) (h) Và (i).

 

6. Ủy ban dịch vụ tư pháp có quyền tự quyết định các thủ tục, quy chế hoạt động của mình, nhưng những quyết định của Ủy ban phải được thông qua với đa số phiếu thuận trong Ủy ban.

 

7. Nếu chủ tịch hoặc chánh án Toà Phúc thẩm tối cao tạm thời không thể lãnh đạo Ủy ban, phó chánh án Toà Phúc thẩm tối cao sẽ làm nhiệm vụ thay thế. [Tiểu mục (7) Được bổ sung bởi tiểu mục 2 (b) Luật số 65 năm 1998 và được thay thế bởi tiểu mục 16 (c) Luật số 34 năm 2001]

 

8. Tổng thống và những người mà được Tổng thống đề cử, giới thiệu hay bổ nhiệm là thành viên của Hội đồng theo quy định ở các tiểu mục (1) (c), (e), (f) Và (g) Có thể, theo cách thức tương tự, bổ nhiệm, giới thiệu hay đề cử một người thay thế cho những người đó để phục vụ trong Ủy ban bất cứ khi nào có một người liên quan tạm thời không thể làm việc được như là một thành viên ủy ban do thiếu năng lực hoặc do đi ra nước ngoài hoặc bởi bất kỳ lý do thích đáng nào khác. [Tiểu mục (8) Đã được bổ sung bởi tiểu mục 2 (b) Luật số 65 năm 1998]

 

179. Cơ quan công tố

 

1. Có một cơ quan công tố quốc gia riêng của nước Cộng hoà, được quy định trong Luật của Nghị viện, bao gồm:

 

a. Một giám đốc cơ quan công tố quốc gia, được Tổng thống, với tư cách là người đứng đầu nhánh hành pháp, bổ nhiệm; Và

 

b. Các giám đốc của các cơ quan công tố và các công tố viên được quyết định theo Luật của Nghị viện.

 

2. Cơ quan công tố có quyền khởi động các thủ tục hình sự thay mặt nhà nước và thực hiện bất kỳ chức năng cần thiết nào phù hợp để khởi động các thủ tục hình sự.

 

3. Pháp luật quốc gia phải bảo đảm rằng trưởng các cơ quan công tố:

 

a. Có phẩm chất phù hợp; Và

 

b. Có trách nhiệm thực thi hoạt động công tố trong các vụ việc cụ thể, phù hợp với tiểu mục (5).

 

4. Pháp luật quốc gia phải bảo đảm rằng cơ quan công tố thực thi chức năng của nó một cách an toàn, với sự công bằng, vô tư.

 

5. Trưởng cơ quan công tố quốc gia:

 

a. Phải quyết định, với sự nhất trí của thành viên nội các chịu trách nhiệm về thực hành tư pháp và sau khi tham vấn trưởng của các cơ quan công tố, chính sách công tố mà phải bị giám sát trong quá trình thực thi quyền công tố;

 

b. Phải đưa ra những hướng dẫn chính sách mà phải được giám sát trong tiến trình công tố;

 

c. Có thể can thiệp vào tiến trình công tố khi các hướng dẫn chính sách không phù hợp với; Và

 

d. Có thể xem xét lại một quyết định buộc tội hoặc không buộc tội sau khi tham vấn trưởng cơ quan công tố có liên quan và sau khi xem xét những báo cáo trong một giai đoạn bởi giám đốc cơ quan công tố quốc gia, từ các nguồn sau:

 

i. Người bị buộc tội.

 

ii. Người khiếu nại.

 

iii. Bất kỳ cá nhân hay đảng chính trị nào mà giám đốc cơ quan công tố quốc gia cho là có liên quan.

 

6. Thành viên nội các chịu trách nhiệm về thực hành tư pháp phải thực hiện trách nhiệm cuối cùng về cơ quan công tố.

 

7. Tất cả các vấn đề khác liên quan đến cơ quan công tố phải được quyết định bởi pháp luật quốc gia.

 

180. Các vấn đề khác liên quan đến thực hành tư pháp

 

Pháp luật quốc gia có thể quy định bất kỳ vấn đề nào khác liên quan đến việc thực hành tư pháp mà chưa được quy định trong Hiến pháp, bao gồm:

 

1. Các chương trình cho các quan chức tư pháp;

 

2. Các thủ tục giải quyết khiếu nại về quan chức tư pháp; Và

 

3. Sự tham gia của người dân vào các quyết định của toà án, ngoài các quan chức tư pháp.

 

CHƯƠNG IX: CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC HỖ TRỢ DÂN CHỦ HIẾN ĐỊNH

 

181. Việc thành lập và các nguyên tắc quản lý

 

1. Các cơ quan nhà nước sau đây tăng cường dân chủ hiến định ở nước Cộng hoà:

 

a. Người bảo vệ công chúng (the Public Protector).

 

b. Ủy ban nhân quyền Nam Phi.

 

c. Ủy ban về thúc đẩy và bảo vệ các quyền của các cộng đồng văn hoá, tôn giáo và ngôn ngữ.

 

d. Ủy ban về bình đẳng giới.

 

e. Tổng kiểm toán.

 

f. Ủy ban bầu cử.

 

2. Những cơ quan này là độc lập, chỉ phụ thuộc vào Hiến pháp và pháp luật. Các cơ quan này phải vô tư và thực thi quyền lực và chức năng một cách độc lập, khách quan, không thiên vị.

 

3. Các cơ quan nhà nước khác, thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp khác, phải hỗ trợ và bảo vệ những thiết chế này để bảo đảm tính độc lập, vô tư, nhân phẩm và tính hiệu quả của các thiết chế này.

 

4. Không cá nhân hoặc cơ quan nhà nước nào có thể can thiệp vào việc thực hiện chức năng của các thiết chế này.

 

5. Những thiết chế này chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc Hội và phải báo cáo về các hoạt động cũng như việc thực hiện những chức năng của mình trước Quốc hội ít nhất một lần trong một năm.

 

Công tố viên

 

182. Chức năng của công tố viên

 

1. Công tố viên có quyền quy định trong pháp luật quốc gia, bao gồm:

 

a. Điều tra bất kỳ hành động nào trong bộ máy nhà nước, hoặc trong quản lý xã hội ở bất kỳ lĩnh vực nào mà bị cho là hoặc bị cáo buộc là không phù hợp hoặc dẫn đến bất kỳ sai sót hay thiên kiến nào;

 

b. Báo cáo về những hành động đó; Và

 

c. Thực hiện các hành động để khắc phục.

 

2. Công tố viên có quyền và chức năng bổ sung được quy định trong pháp luật quốc gia.

 

3. Công tố viên không được điều tra các quyết định của toà án.

 

4. Công tố viên phải dễ được tiếp cận bởi mọi cá nhân và cộng đồng.

 

5. Bất kỳ báo cáo nào do công tố viên đưa ra phải được công khai trước công chúng ngoại trừ các trường hợp ngoại lệ mà pháp luật cho phép giữ kín.

 

183. Nhiệm kỳ

 

Công tố viên được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 7 năm và không được tái bổ nhiệm. ỦY BAN NHÂN QUYỀN NAM PHI

 

184. Chức năng của Ủy ban nhân quyền Nam Phi

 

1. Ủy ban nhân quyền Nam Phi phải:

 

a. Thúc đẩy sự tôn trọng các quyền con người và văn hoá nhân quyền;

 

b. Thúc đẩy sự bảo vệ, phát triển và duy trì các quyền con người; Và

 

c. Giám sát và đánh giá sự tuân thủ các quyền con người ở Nam Phi.

 

2. Ủy ban có các quyền, được quy định trong pháp luật quốc gia, cần thiết để đạt được các mục tiêu kể trên, bao gồm quyền:

 

a. Điều tra và báo cáo về các vi phạm nhân quyền;

 

b. Thực hiện các biện pháp để bảo đảm sự bồi thường, phục hồi cần thiết khi có các vi phạm nhân quyền xảy ra;

 

c. Tiến hành các nghiên cứu về nhân quyền; Và

 

d. Giáo dục nhân quyền.

 

3. Mỗi năm Ủy ban phải yêu cầu các cơ quan nhà nước có liên quan cung cấp cho Ủy ban thông tin về các biện pháp mà các cơ quan đó đã thực hiện để hiện thực hoá những quyền trong Bộ luật về Quyền liên quan đến các vấn đề nơi ở, chăm sóc sức khoẻ, lương thực, thực phẩm, nước uống, giáo dục, an ninh xã hội và môi trường.

 

4. Ủy ban có các quyền và chức năng bổ sung do pháp luật quốc gia quy định. Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ các quyền của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá

 

185. Chức năng của Ủy ban

 

1. Mục tiêu hàng đầu của Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ các quyền của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá là:

 

a. Thúc đẩy sự tôn trọng các quyền của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá;

 

b. Thúc đẩy và phát triển hoà bình, hữu nghị, nhân văn, khoan dung và sự thống nhất quốc gia giữa các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá, trên cơ sở bình đẳng, không phân biệt đối xử và tự do hiệp hội; Và

 

c. Khuyến khích thiết lập hoặc thừa nhận, phù hợp với pháp luật quốc gia, một hội đồng văn hoá hoặc các hội đồng khác cho cộng đồng hoặc các cộng đồng ở Nam Phi.

 

2. Ủy ban có các quyền, được quy định trong pháp luật quốc gia, cần thiết để đạt được các mục tiêu kể trên, bao gồm quyền giám sát, điều tra, nghiên cứu, giáo dục, vận động, tư vấn và báo cáo về những vấn đề liên quan đến các quyền của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá.

 

3. Ủy ban có thể báo cáo về bất kỳ vấn đề nào trong phạm vi thẩm quyền và chức năng của mình với Ủy ban Nhân quyền Nam Phi để điều tra.

 

4. Ủy ban có các quyền và chức năng bổ sung do pháp luật quốc gia quy định.

 

186. Thành phần của Ủy ban

 

1. Số lượng, việc bổ nhiệm và nhiệm kỳ của các thành viên của Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ các quyền của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá do pháp luật quốc gia quy định.

 

2. Thành phần của Ủy ban phải bao gồm:

 

a. Đại diên rộng rãi của các cộng đồng tôn giáo, ngôn ngữ và văn hoá ở Nam Phi; Và

 

b. Đại diện rộng rãi về hai giới ở Nam Phi. Ủy ban về bình đẳng giới

 

187. Chức năng của Ủy ban về bình đẳng giới

 

1. Ủy ban về bình đẳng giới phải thúc đẩy sự bình đẳng giới và bảo vệ, phát triển, duy trì sự bình đẳng đó.

 

2. Ủy ban về bình đẳng giới có các quyền, được quy định trong pháp luật quốc gia, cần thiết để đạt được các mục tiêu kể trên, bao gồm quyền giám sát, điều tra, nghiên cứu, giáo dục, vận động, tư vấn và báo cáo về những vấn đề liên quan đến bình đẳng giới.

 

3. Ủy ban có các quyền và chức năng bổ sung do pháp luật quốc gia quy định.

 

Tổng kiểm toán

 

188. Nhiệm vụ của Tổng kiểm toán

 

1. Tổng Kiểm toán phải thực hiện kiểm toán và báo cáo về các tài khoản, báo cáo tài chính và quản lý tài chính của:

 

a. Tất cả các cơ quan nhà nước ở cấp quốc gia và cấp tỉnh;

 

b. Tất cả các đô thị; Và

 

c. Các thiết chế khác hoặc chủ thể kế toán theo yêu cầu.

 

2. Ngoài các nhiệm vụ được quy định tại Khoản 1 và các văn bản quy phạm pháp luật khác, Tổng Kiểm toán có thể thực hiện kiểm toán và báo cáo về tài khoản, báo cáo và quản lý tài chính của:

 

a. Bất kể thiết chế nào được tài trợ bởi Quỹ Doanh thu Quốc gia, Quỹ Doanh thu cấp tỉnh hoặc bởi một đô thị; Hoặc

 

b. Bất cứ tổ chức nào theo quy định của pháp luật được nhận tiền vì mục đích công.

 

3. Tổng Kiểm toán phải nộp báo cáo kiểm toán cho bất kỳ cơ quan lập pháp nào có sự quan tâm trực tiếp về kiểm toán, và cho bất kỳ cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật pháp quốc gia. Tất cả các báo cáo phải được công khai.

 

4. Tổng Kiểm toán có các quyền hạn và nhiệm vụ bổ sung theo quy định của luật pháp quốc gia.

 

189. Nhiệm kỳ

 

Tổng Kiểm toán phải được bổ nhiệm theo một thời hạn cố định, không tái cử, từ 5 đến 10 năm.

 

Hội đồng bầu cử

 

190. Nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử

 

1. Hội đồng bầu cử:

 

a. Quản lý các cuộc bầu cử cơ quan lập pháp quốc gia, cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của luật pháp quốc gia;

 

b. Đảm bảo rằng những cuộc bầu cử tự do và công bằng; Và

 

c. Công bố kết quả của những cuộc bầu cử trong thời gian sớm nhất có thể theo luật định.

 

2. Hội đồng bầu cử có quyền hạn và nhiệm vụ bổ sung theo quy định của luật pháp quốc gia.

 

191. Thành phần của Hội đồng bầu cử Ủy ban bầu cử phải gồm ít nhất 3 người. Số lượng thành viên và nhiệm kỳ do luật định.

 

Cơ quan độc lập quản lý phát thanh, truyền hình

 

192. Quyền phát thanh, truyền hình

 

Luật cần quy định thiết lập cơ quan độc lập nhằm quản lý hoạt động phát thanh, truyền hình vì lợi ích công, và bảo đảm sự công bằng và đa dạng về quan điểm, phản ánh toàn diện xã hội Nam Phi.

 

Quy định chung

 

193. Bổ nhiệm

 

1. Tổng Thanh tra nhà nước và các thành viên của các ủy ban được thiết lập theo Chương này là nữ giới hoặc nam giới và bảo đảm các yêu cầu:

 

a. Là công dân Nam Phi;

 

b. Có đủ sức khỏe, phù hợp với việc thực hiện các nhiệm vụ;

 

c. Tuân thủ các yêu cầu của luật pháp quốc gia.

 

2. Sự cần thiết cho một Ủy ban được thành lập theo Chương này là nhằm phản ánh rộng rãi các thành phần chủng tộc và giới tính của Nam Phi, vì vậy, các thành viên được bổ nhiệm phải được cân nhắc, xem xét.

 

3. Tổng Kiểm toán phải là phụ nữ hoặc nam giới, là công dân Nam

 

Phi, phù hợp với vị trí được đảm nhiệm. Có kiến thức chuyên ngành hoặc kinh nghiệm về kiểm toán, tài chính nhà nước và hành chính nhà nước cần được quan tâm thỏa đáng trong bổ nhiệm Tổng Kiểm toán.

 

4. Theo sự giới thiệu của Quốc hội, Tổng thống bổ nhiệm Tổng

 

Thanh tra nhà nước, Tổng Kiểm toán và các thành viên của:

 

a. Ủy ban nhân quyền Nam Phi;

 

b. Ủy ban vì bình đẳng giới; Và

 

c. Hội đồng bầu cử.

 

5. Quốc hội phải đề cử những người như sau:

 

a. Được đề cử bởi một ủy ban của Quốc hội theo tỷ lệ tương ứng của tất cả đảng phái đại diện trong Quốc hội; Và

 

b. Được Quốc hội thông qua bằng một nghị quyết với tỷ lệ phiếu ủng hộ:

 

i. Ít nhất 60% đại biểu Quốc hội nếu đề cử bổ nhiệm chức danh Tổng Thanh tra Nhà nước hoặc Tổng Kiểm toán; Hoặc

 

ii. Đa số đại biểu Quốc hội nếu đề cử liên quan đến thành viên của một ủy ban.

 

6. Sự tham gia của xã hội dân sự trong quá trình giới thiệu có thể được quy định như dự kiến trong phần Điểm a khoản 1 Điều 59.

 

194. Miễn nhiệm

 

1. Tổng Thanh tra Nhà nước, Tổng Thanh tra hoặc thành viên của một ủy ban được thành lập theo quy định tại Chương này có thể bị bãi nhiệm trong những trường hợp sau đây:

 

a. Lý do có hành vi sai trái, không đủ tư cách, không có năng lực;

 

b. Có quyết định của một ủy ban của Quốc hội; Và

 

c. Được thông qua bởi một nghị quyết bãi nhiệm của Quốc hội.

 

2. Một nghị quyết của Quốc hội về bãi nhiệm của:

 

a. Tổng Thanh tra Nhà nước hoặc Tổng Thanh tra phải được tán thành bởi ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội; Hoặc

 

b. Một thành viên của một ủy ban phải được đa số đại biểu Quốc hội tán thành.

 

3. Tổng thống

 

a. Có thể đình chỉ một người bất cứ lúc nào sau khi bắt đầu thủ tục bãi nhiệm của một ủy ban của Quốc hội; Và

 

b. Phải bãi nhiệm theo nghị quyết bãi nhiệm của Quốc hội.

 

CHƯƠNG X: CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

 

195. Các giá trị và nguyên tắc cơ bản quản lý hành chính nhà nước

 

1. Hành chính nhà nước phải được điều chỉnh bởi các giá trị và nguyên tắc dân chủ được ghi nhận trong Hiến pháp, bao gồm các nguyên tắc sau đây:

 

a. Một tiêu chuẩn cao về đạo đức nghề nghiệp phải được thúc đẩy và duy trì.

 

b. Sử dụng nguồn lực hiệu quả, kinh tế, các nguồn lực phải được thúc đẩy.

 

c. Hành chính công phải theo định hướng phát triển.

 

d. Dịch vụ phải được cung cấp một cách khách quan, công bằng và không thiên vị.

 

e. Nhu cầu nhân dân phải được đáp ứng, công chúng phải được khuyến khích tham gia vào quá trình hoạch định chính sách.

 

f. Hành chính nhà nước phải có trách nhiệm giải trình.

 

g. Tính minh bạch phải được bảo đảm bằng cách cung cấp cho công chúng thông tin kịp thời, dễ truy cập và chính xác.

 

h. Thực hành quản trị tốt nguồn nhân lực và định hướng phát triển sự nghiệp nhằm phát huy tốt đa nguồn lực con người cần được quan tâm, chú ý tạo điều kiện.

 

i. Hành chính nhà nước phải đại diện rộng rãi cho người dân

 

Nam Phi với việc tuyển dụng và quản lý nhân sự dựa trên khả năng, khách quan, công bằng, và sự cần thiết để khắc phục tình trạng mất cân bằng của quá khứ để đạt được sự đại diện rộng rãi.

 

2. Những nguyên tắc trên được áp dụng:

 

a. Quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực của chính phủ;

 

b. Các cơ quan nhà nước; Và

 

c. Doanh nghiệp nhà nước.

 

3. Luật pháp quốc gia phải đảm bảo phát huy các giá trị và nguyên tắc được nêu trong khoản 1 Điều này.

 

4. Việc bổ nhiệm một số chức danh trong hành chính nhà nước dựa trên những ưu tiên chính sách không được loại trừ, nhưng pháp luật quốc gia phải điều chỉnh việc bổ nhiệm này trong nền công vụ.

 

5. Pháp luật quy định về hành chính nhà nước có thể khác biệt giữa các ngành, chính quyền hoặc các tổ chức khác nhau.

 

6. Bản chất và nhiệm vụ của các ngành khác nhau, chính quyền hoặc các tổ chức hành chính nhà nước là những yếu tố có liên quan cần được chú ý xem xét trong pháp luật quy định hành chính nhà nước.

 

196. Ủy ban Công vụ

 

1. Chỉ có duy nhất một Ủy ban công vụ của nước Cộng hòa.

 

2. Ủy ban độc lập, không thiên vị, không định kiến trong thực thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của mình vì mục tiêu duy trì hiệu lực, hiệu quả của hành chính nhà nước và tiêu chuẩn cao về đạo đức nghề nghiệp trong công vụ. Ủy ban phải được quy định bởi văn bản luật.

 

3. Các cơ quan nhà nước khác, thông qua các biện pháp lập pháp và phải hỗ trợ và bảo vệ Ủy ban nhằm đảm bảo sự độc lập, tính công bằng, đạo đức và hiệu quả của Ủy ban. Không một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước nào có thể can thiệp vào các nhiệm vụ của Ủy ban.

 

4. Quyền hạn, nhiệm vụ của Ủy ban bao gồm:

 

a. Phát huy các giá trị và nguyên tắc được quy định tại Điều 195 thông qua nền công vụ;

 

b. Điều tra, giám sát và đánh giá các cơ quan và nền hành chính, quản lý nhân sự của nền công vụ;

 

c. Đề xuất các biện pháp bảo đảm hiệu lực và hiệu quả của nền công vụ;

 

d. Đưa ra định hướng hướng đến mục tiêu bảo đảm quy trình nhân sự liên quan đến các vấn đề về tuyển dụng, luân chuyển, thăng tiến và sa thải tuân thủ các giá trị và nguyên tắc được quy định tại Điều 195;

 

e. Báo cáo về các hoạt động của Ủy ban và việc thực hiện các nhiệm vụ của mình, bao gồm bất kỳ phát hiện có thể hướng dẫn và tư vấn và đưa ra đánh giá đánh giá về việc tuân thủ nội dung các giá trị và nguyên tắc quy định trong Điều 95; Và

 

f. Hoặc theo cách riêng của mình hoặc nhận bất kỳ khiếu nại nào:

 

i. Điều tra và đánh giá về nhân sự và quản lý hành chính nhà nước; Và báo cáo cho cơ quan điều hành và cơ quan lập pháp có liên quan;

 

ii. Điều tra khiếu nại của nhân viên trong công vụ về các vấn đề liên quan đến các văn bản chính thức, hoặc việc không làm tròn trách nhiệm và đề nghị các biện pháp giải quyết phù hợp;

 

iii. Giám sát và điều tra việc tuân thủ các thủ tục áp dụng trong công vụ; Và

 

iv. Tư vấn cho các cơ quan nhà nước ở trung ương và cấp tỉnh về các vấn đề liên quan đến quản lý nhân viên trong thực hiện công vụ, bao gồm cả những vấn đề liên quan đến việc tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, sa thải và các phương diện khác của chức nghiệp trong công vụ; Và

 

g. Thực hiện các quyền hạn hoặc các nhiệm vụ bổ sung theo quy định bởi Đạo luật của Nghị viện. [Điểm g được bổ sung bởi Điều 3 của Đạo luật số 65 năm 1998)

 

5. Ủy ban có trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội.

 

6. Ủy ban phải báo cáo ít nhất một lần một năm về các nội dung theo điểm e khoản 4 Điều này.

 

a. Với Quốc hội; Và

 

b. Về các hoạt động của Ủy ban công vụ ở một tỉnh với cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

7. Ủy ban có 14 ủy viên được Tổng thống bổ nhiệm:

 

a. 5 ủy viên do Quốc hội thông qua theo quy định tại điểm a

 

Khoản 8 Điều này; Và

 

b. Một ủy viên của mỗi tỉnh được bổ nhiệm bởi người đứng đầu cơ quan hành chính ở cấp tỉnh theo điểm b khoản 8 Điều này.

 

8.

 

a. Một ủy viên được bổ nhiệm theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều này phải:

 

i. Được một ủy ban của Quốc hội giới thiệu theo tỷ lệ thành phần đại biểu của các đảng phái trong Quốc hội; Và

 

ii. Được Quốc hội thông qua bởi một nghị quyết với tỷ lệ đa số phiếu tán thành.

 

b. Một ủy viên được bổ nhiệm bởi người đứng đầu cơ quan hành chính cấp tỉnh phải:

 

i. Được một ủy ban của cơ quan lập pháp ở cấp tỉnh giới thiệu theo tỷ lệ thành phần đại biểu của các đảng phái trong cơ quan lập pháp; Và

 

ii. Được cơ quan lập pháp thông qua bởi một nghị quyết với đa số phiếu tán thành.

 

9. Một đạo luật của Quốc hội phải được ban hành quy định về thủ tục bổ nhiệm các ủy viên.

 

10. Mỗi ủy viên được bổ nhiệm có nhiệm kỳ 5 năm và được tái cử một lần duy nhất, phải là một phụ nữ hoặc nam giới theo yêu cầu:

 

a. Là công dân Nam Phi;

 

b. Là người phù hợp về kiến thức, kinh nghiệm trong hành chính; Quản lý hoặc cung ứng dịch vụ công.

 

11. Một ủy viên có thể bị bãi nhiệm chỉ trong các trường hợp sau:

 

a. Lý do vì hành vi sai trái, không đủ tư cách, hoặc không đủ năng lực;

 

b. Được quyết định bởi một ủy ban của Quốc hội hoặc trong trường hợp ủy viên được bổ nhiệm bởi người đứng đầu cơ quan hành chính cấp tỉnh thì do một ủy ban của cơ quan lập pháp cấp tỉnh quyết định;

 

c. Được Quốc hội hoặc cơ quan lập pháp ở cấp tỉnh bởi một nghị quyết với đa số phiếu tán thành yêu cầu ủy viên rời nhiệm sở.

 

12. Tổng thống phải bãi nhiệm các ủy viên tương ứng theo:

 

a. Nghị quyết bãi nhiệm của Quốc hội hoặc

 

b. Thông báo bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan hành chính cấp tỉnh về nghị quyết bãi miễn ủy viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

13. Các ủy viên được quy định tại điểm b khoản 7 Điều này có thể thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của Ủy ban trong phạm vi tỉnh của họ theo luật định.

 

197. Công vụ

 

1. Trong phạm vi hành chính nhà nước, công vụ của nước Cộng hòa phải thực hiện nhiệm vụ và được tổ chức theo luật định và phải thực hiện trung thành chính sách pháp luật của chính phủ hiện hành.

 

2. Các điều khoản và điều kiện về tuyển dụng trong công vụ phải được quy định của pháp luật. Nhân viên được hưởng lương hưu công bằng theo luật định.

 

3. Không có nhân viên của nền công vụ có thể được ưu đãi hoặc thành kiến chỉ vì người đó ủng hộ một đảng chính trị cụ thể hoặc nguyên nhân chính trị.

 

4. Chính quyền các tỉnh chịu trách nhiệm tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, khuyến khích, bãi nhiệm thành viên của nền công vụ trong chính quyền của họ trong khuôn khổ các định mức thống nhất và tiêu chuẩn áp dụng cho nền công vụ.

 

CHƯƠNG XI: HOẠT ĐỘNG AN NINH

 

198. Các nguyên tắc quản trị

 

Các nguyên tắc sau đây điều chỉnh an ninh quốc gia của nước Cộng hòa.

 

1. An ninh quốc gia phải thể hiện quyết tâm của Nam Phi, cũng như cá nhân và cả quốc gia để sống trong công bằng, hòa bình và hòa hợp, được thoát khỏi sự sợ hãi, đói nghèo và hướng đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.

 

2. Nỗ lực để sống trong hòa bình, hòa hợp không cho phép bất kỳ công dân Nam Phi nào tham gia vào các xung đột vũ trang quốc gia và quốc tế, ngoại trừ trường hợp Hiến pháp hoặc luật quy định. * 1

 

3. An ninh quốc gia phải được bảo đảm trên cơ sở tuân thủ luật pháp, bao gồm luật quốc tế.

 

4. An ninh quốc gia là vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội và cơ quan hành pháp quốc gia.

 

199. Thành lập, cơ cấu và quản lý an ninh

 

1. Cơ quan an ninh của quốc gia bao gồm lực lượng quốc phòng và lực lượng an ninh và cơ quan tình báo được thành lập theo quy định của Hiến pháp.

 

2. Lực lượng quốc phòng là lực lượng quân đội hợp pháp của quốc gia.

 

3. Cơ quan khác cơ quan an ninh thành lập theo quy định của Hiến pháp, cơ quan vũ trang chỉ được thiết lập theo luật định. * 2

 

4. Cơ quan an ninh phải được cơ cấu và điều chỉnh theo quy định của luật.

 

5. Các dịch vụ an ninh phải thực hiện, phải hướng dẫn và yêu cầu các thành viên hành động phù hợp với Hiến pháp và pháp luật, bao gồm cả luật pháp quốc tế và các thỏa thuận quốc tế ràng buộc của nước Cộng hòa.

 

6. Không một thành viên nào của cơ quan an ninh tuân thủ mệnh lệnh rõ ràng bất hợp pháp.

 

7. Không một cơ quan an ninh hoặc bất cứ thành viên nào trong quá trình thực hiện nhiệm vụ:

 

a. Làm phương hại đến quyền lợi của một đảng chính trị mà theo quy định của Hiến pháp là hợp pháp; Hoặc

 

b. Ngoài ra, theo một phe phái hay bất cứ lợi ích của một đảng chính trị nào.

 

8. Để bảo đảm hiệu lực cho các nguyên tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình, các ủy ban nghị viện đa đảng phải giám sát tất cả các cơ quan an ninh theo cách thức theo luật định hoặc các quy tắc và lệnh của Quốc hội.

 

Quốc phòng

 

200. Lực lượng quốc phòng

 

1. Các lực lượng quốc phòng phải được cơ cấu và quản lý như là một lực lượng quân sự có kỷ luật.

 

2. Mục tiêu chính của lực lượng quốc phòng là bảo vệ nước Cộng hòa, sự toàn vẹn lãnh thổ và nhân dân theo quy định của Hiến pháp và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế về việc sử dụng vũ lực.

 

201. Trách nhiệm chính trị

 

1. Một thành viên của nội các phải chịu trách nhiệm về quốc phòng.

 

2. Chỉ có Tống thống, nguyên thủ quốc gia, có thẩm quyền động viên lực lượng quốc phòng để:

 

a. Phối hợp với lực lượng an ninh;

 

b. Bảo vệ nước Cộng hòa; Hoặc

 

c. Hoàn thành một nghĩa vụ quốc tế.

 

3. Ngay khi lực lượng quốc phòng được động viên vì các mục tiêu được quy định tại khoản 2 Điều này, Tổng thống phải báo cáo với Quốc hội với chi tiết phù hợp, bao gồm:

 

a. Lý do của việc huy động lực lượng quốc phòng;

 

b. Những địa điểm mà lực lượng quốc phòng được động viên;

 

c. Số lượng người tham gia; Và

 

d. Thời gian mà lực lượng quốc phòng dự kiến được huy động.

 

4. Nếu Quốc hội không họp trong 7 ngày đầu tiên sau khi lực lượng quốc phòng được động viên như khoản 2, Tổng thống phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của Khoản 3 với ủy ban giám sát thích hợp.

 

202. Tư lệnh lực lượng quốc phòng

 

1. Tổng thống với tư cách là nguyên thủ quốc gia là Tổng Tư lệnh quân đội phải bổ nhiệm Tư lệnh quân đội.

 

2. Tư lệnh quân đội phải thực hiện nhiệm vụ theo chỉ thị của thành viên nội các chịu trách nhiệm về quốc phòng và dưới sự chỉ đạo của Tổng thống.

 

203. Tình trạng an ninh quốc gia

 

1. Tổng thống với tư cách nguyên thủ quốc gia có thể tuyên bố tình trạng an ninh quốc gia và phải báo cáo với Quốc hội kịp thời, chi tiết và thích hợp những thông tin bao gồm:

 

a. Các lý do của tuyên bố;

 

b. Những địa điểm lực lượng quốc phòng được động viên; Và

 

c. Số lượng người tham gia.

 

2. Nếu Quốc hội không họp khi tình trạng an ninh quốc gia được tuyên bố, Tổng thống phải triệu tập Quốc hội vì một phiên họp bất thường trong thời gian 7 ngày của tuyên bố.

 

3. Một tuyên bố trình trạng an ninh quốc gia hết hiệu lực trừ phi được Quốc hội thông qua trong thời gian 7 ngày của tuyên bố.

 

204. Ban thư ký dân sự về an ninh

 

Một ban thư ký dân sự về an ninh cần phải thiết lập theo luật định để thực hiện các nhiệm vụ theo chỉ đạo của thành viên nội các chịu trách nhiệm về lĩnh vực quốc phòng.

 

Cảnh sát

 

205. Cơ quan cảnh sát

 

1. Cơ quan cảnh sát quốc gia được cơ cấu để thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi quốc gia, cấp tỉnh và những lĩnh vực thích hợp, các vấn đề về địa phương của chính phủ.

 

2. Cơ quan lập pháp ở trung ương phải quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan cảnh sát và phải tạo điều kiện cho cơ quan cảnh sát hoàn thành nhiệm vụ hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các tỉnh.

 

3. Mục tiêu của cơ quan cảnh sát là phòng, chống và điều tra tội phạm, duy trì trật tự công cộng, bảo vệ an toàn cho công dân của nước Cộng hòa và tài sản công dân, bảo vệ và thực hiện luật pháp.

 

206. Trách nhiệm chính trị

 

1. Một thành viên của nội các chịu trách nhiệm về vấn đề cảnh sát và phải xác định chính sách quốc gia về cảnh sát sau khi trao đổi với chính quyền cấp tỉnh và xem xét nhu cầu và những ưu tiên của cấp tỉnh đã được chính quyền cấp tỉnh xác định.

 

2. Chính sách cảnh sát quốc gia có thể dự liệu những chính sách khác nhau đối với các tỉnh sau khi xem xét nhu cầu và những ưu tiên của các tỉnh.

 

3. Mỗi tỉnh được trao quyền:

 

a. Giám sát hành vi của cảnh sát;

 

b. Giám sát hiệu lực và hiệu quả cơ quan cảnh sát, bao gồm việc nhận các báo cáo từ cơ quan cảnh sát;

 

c. Thúc đẩy mối quan hệ tốt giữa lực lượng cảnh sát và cộng đồng;

 

d. Đánh giá hiệu quả lực lượng cảnh sát; Và

 

e. Giữ liên lạc giữa thành viên nội cách chịu trách nhiệm về cảnh sát với vấn đề tội phạm và cảnh sát ở địa phương.

 

4. Cơ quan điều hành cấp tỉnh chịu trách nhiệm về nhiệm vụ cảnh sát bao gồm:

 

a. Trao quyền theo quy định tại Chương này;

 

b. Phân công theo luật định; Và

 

c. Định rõ vị trí trong chính sách cảnh sát quốc gia.

 

5. Để thực hiện nhiệm vụ quy định ở Khoản 3, mỗi tỉnh:

 

a. Có thể điều tra, hoặc chỉ định một ủy ban điều tra các khiếu nại về hiệu quả của lực lượng cảnh sát hoặc sự phá vỡ mối quan hệ giữa cảnh sát và cộng đồng; Và

 

b. Phải đưa ra những đề nghị với thành viên nội các chịu trách nhiệm về cảnh sát.

 

6. Khi nhận được một khiếu nại do cơ quan hành chính nhà nước chuyển giao, một cơ quan giải quyết khiếu nại độc lập của lực lượng cảnh sát được thiết lập theo luật định để điều tra những hành vi sai trái hoặc vi phạm của thành viên cảnh sát ở tỉnh.

 

7. Luật phải xây dựng khuôn khổ cho việc thiết lập, quy định quyền hạn, nhiệm vụ và việc kiểm soát cơ quan cảnh sát ở các đô thị.

 

8. Một ủy ban gồm thành viên Nội các và các thành viên của Hội đồng chấp hành chịu trách nhiệm về cảnh sát phải được thành lập để đảm bảo hiệu quả phối hợp của các cơ quan cảnh sát và hiệu quả hợp tác giữa các lĩnh vực của chính quyền.

 

9. Một cơ quan lập pháp cấp tỉnh có thể yêu cầu các ủy viên hội đồng tỉnh của tỉnh có mặt trước cơ quan này hoặc bất kỳ ủy ban nào của nó để để trả lời các chất vấn.

 

207. Kiểm sát cơ quan cảnh sát

 

1. Tổng thống với tư cách người đứng đầu cơ quan hành pháp bổ nhiệm một nữ giới hoặc nam giới là Ủy viên quốc gia của cơ quan cảnh sát với trách nhiệm kiểm soát và quản lý cơ quan cảnh sát.

 

2. Ủy viên quốc gia phải thực hiện việc kiểm soát và quản lý cơ quan cảnh sát theo chính sách cảnh sát quốc gia và theo chỉ thị của thành viên nội các chịu trách nhiệm về lĩnh vực cảnh sát.

 

3. Ủy viên quốc gia cùng với cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh bổ nhiệm một phụ nữ hoặc nam giới làm ủy viên cấp tỉnh cho tỉnh đó, trong trường hợp Ủy viên quốc gia và cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh không thống nhất được việc bổ nhiệm thì thành viên nội các chịu trách nhiệm về vấn đề cảnh sát phải làm trung gian giữa các bên.

 

4. Ủy viên cấp tỉnh chịu trách nhiệm về vấn đề cảnh sát tương ứng với tỉnh của họ:

 

a. Theo luật định; Và

 

b. Tùy thuộc vào quyền hạn của Ủy viên quốc gia trong kiểm soát và quản lý cơ quan cảnh theo quy định tại Khoản 2 Điều này.

 

5. Ủy viên cấp tỉnh phải báo với cơ quan lập pháp cấp tỉnh hàng năm về cảnh sát trong tỉnh và phải gửi một bản sao báo cáo đến Ủy viên quốc gia.

 

6. Nếu ủy viên cấp tỉnh không được cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh tín nhiệm, cơ quan này có thể tiến hành các thủ tục phù hợp để bãi nhiệm hoặc luân chuyển hoặc kỷ luật ủy viên theo luật định.

 

208. Ban thư ký dân sự về cảnh sát

 

Một ban thư ký về cơ quan cảnh sát phải được thiết lập bởi cơ quan lập pháp trung ương để thực hiện các nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của thành viên nội các chịu trách nhiệm về cảnh sát.

 

Lực lượng tình báo

 

209. Thiết lập và kiểm soát các cơ quan tình báo

 

1. Bất kỳ cơ quan tình báo nào ngoài cơ quan tình báo của lực lượng quốc phòng và cảnh sát chỉ duy nhất được thiết lập bởi Tổng thống, người đứng đầu cơ quan hành pháp và chỉ theo quy định của pháp luật.

 

2. Tổng thống, người đứng đầu cơ quan hành pháp, phải bổ nhiệm một phụ nữ hoặc nam giới làm người đứng đầu cơ quan trình báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này và phải chịu trách nhiệm kiểm soát, chỉ đạo các cơ quan tình báo hoặc phân công cho một thành viên Nội các chịu trách nhiệm.

 

210. Quyền hạn, nhiệm vụ và giám sát

 

Luật pháp quốc gia phải điều chỉnh mục tiêu, quyền hạn, nhiệm vụ, bao gồm các cơ quan tình báo thuộc lực lượng quốc phòng và cảnh sát và phải tạo điều kiện cho:

 

1. Sự hợp tác của các cơ quan tình báo; Và

 

2. Giám sát dân sự đối với các hoạt động và các cơ quan tình báo bởi một thanh tra do Tổng thống, người đứng đầu cơ quan hành pháp bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua với đa số phiếu tán thành.

 

* 1. Điểm b có thể không được thực hiện cho đến khi cơ quan lập pháp đưa ra trong Điều 198 ban hành. Xem Mục 6 khoản 21 điểm 2.

 

* 2. Xem Mục 6, khoản 21 điểm 2 nhưng chú ý không có điểm nào như đoạn a được ban hành.

 

CHƯƠNG XII: CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO TRUYỀN THỐNG

 

211. Sự công nhận

 

1. Các thiết chế, địa vị và vai trò của lãnh đạo truyền thống theo luật tập quán được Hiến pháp công nhận.

 

2. Một nhà lãnh đạo truyền thống tuân theo hệ thống luật tập quán để thực hiện công việc của mình theo quy định của pháp luật và tập quán, bao gồm cả việc sửa đổi hoặc hủy bỏ các quy định của pháp luật và các tập quán.

 

3. Tòa án phải áp dụng luật tập quán khi các quy định này có thể áp dụng được trên cơ sở quy định của Hiến pháp và những quy định của pháp luật cụ thể về luật tập quán.

 

212. Vai trò của các lãnh đạo truyền thống

 

1. Pháp luật có thể quy định về vai trò của lãnh đạo truyền thống như một thiết chế ở địa phương về những vấn đề có ảnh hưởng đến cộng đồng địa phương.

 

2. Để giải quyết các vấn đề liên quan đến lãnh đạo truyền thống, vai trò của lãnh đạo truyền thống, luật tập quán và các tập quán của cộng đồng tuân theo hệ thống luật tập quán

 

a. Pháp luật ở trung ương hoặc địa phương có thể quy định về việc xây dựng nơi ở cho các lãnh đạo truyền thống; Và

 

b. Pháp luật trung ương có thể quy định thành lập hội đồng các nhà lãnh đạo truyền thống.

 

CHƯƠNG XIII: TÀI CHÍNH

 

Các vấn đề tài chính tổng thể

 

213. Quỹ thu nhập quốc gia

 

1. Quỹ thu nhập quốc gia là Quỹ mà tất cả các khoản tiền của Chính phủ chuyển vào được dùng để chi trả cho các hoạt động của nhà nước theo quy định của một đạo luật của Quốc hội.

 

2. Tiền có thể được rút ra từ Quỹ Thu nhập Quốc gia chỉ trong các trường hợp sau:

 

a. Theo quy định của một đạo luật của Quốc hội; Hoặc

 

b. Như một khoản phí trực tiếp từ Quỹ Thu nhập quốc gia được quy định trong Hiến pháp hoặc một đạo luật của Quốc hội.

 

3. Lợi tức công bằng của mỗi tỉnh là một khoản phí trực tiếp từ Quỹ Thu nhập quốc gia. (Ngày có hiệu lực: 1/1/1998)

 

214. Thu nhập công bằng và phân bổ thu nhập

 

1. Một đạo luật của Quốc hội phải quy định về:

 

a. Sự phân chia công bằng thu nhập quốc gia giữa trung ương, cấp tỉnh và các lĩnh vực địa phương của chính quyền;

 

b. Xác định thu nhập công bằng mỗi tỉnh dựa trên sự đóng góp của mỗi tỉnh; Và

 

c. Bất cứ sự phân bổ nào cho cấp tỉnh, chính quyền địa phương hoặc đô thị từ sự đóng góp của chính phủ trung ương vào Quỹ này cũng như điều kiện các sự phân bổ này được thực hiện.

 

2. Đạo luật tham chiếu về khoản 1 chỉ có thể được ban hành sau khi chính quyền cấp tỉnh, các tổ chức của chính quyền địa phương và Ủy ban tài chính và công khố đã có sự trao đổi và bất cứ khuyến nghị nào từ Ủy ban sau khi xem xét đến:

 

a. Lợi ích quốc gia;

 

b. Bất cứ điều khoản nào quy định về vấn đề nợ quốc gia và các nghĩa vụ quốc gia khác;

 

c. Nhu cầu và lợi ích của chính phủ trung ương được xác định theo các tiêu chí khách quan;

 

d. Nhu cầu bảo đảm các tỉnh và các đô thị có thể cung cấp các dịch vụ cơ bản và thực hiện các chức năng đã được phân công;

 

e. Năng lực và hiệu lực tài chính của các tỉnh và các đô thị;

 

f. Phát triển và nhu cầu của các tỉnh, chính phủ và các đô thị;

 

g. Sự chênh lệch về về kinh tế trong phạm vi mỗi tỉnh và giữa các tỉnh;

 

h. Nghĩa vụ của các tỉnh và thành phố theo quy định của pháp luật;

 

i. Mong muốn sự ổn định và dự đoán được của nguồn thu nhập phân bổ;

 

j. Sự cần thiết linh hoạt trong việc đáp ứng các trường hợp khẩn cấp hoặc nhu cầu tạm thời khác, và các yếu tố khác dựa trên các tiêu chí khác. (Ngày có hiệu lực: 1/1/1998)

 

215. Ngân sách quốc gia, tỉnh và thành phố

 

1. Quy trình ngân sách quốc gia, tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phải thúc đẩy tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản lý hiệu quả tài chính của nền kinh tế, nợ công và khu vực công cộng.

 

2. Luật phải quy định về:

 

a. Hình thức của ngân sách quốc gia, tỉnh và thành phố;

 

b. Thời gian ngân sách quốc gia và cấp tỉnh phải đệ trình;

 

c. Ngân sách của mỗi lĩnh vực phải xác định rõ khoản chi và cách thức chi tiêu theo quy định của pháp luật.

 

3. Ngân sách của mỗi lĩnh vực quản lý phải bao gồm:

 

a. Dự kiến khoản thu và chi phí, phân biệt giữa chi phí đầu tư và chi phí hiện hành;

 

b. Đề xuất về tài chính liên quan về thâm hụt dự kiến trong khoảng thời gian ngân sách;

 

c. Một dấu hiệu về dự định vay và các trách nhiệm công khác có thể làm tăng nợ công trong năm tiếp theo. (Ngày có hiệu lực: 1/1/1998)

 

216. Kiểm soát ngân khố

 

1. Pháp luật phải quy định về thành lập kho bạc quốc gia và quy định các biện pháp nhằm bảo đảm tính minh bạch và kiểm soát chi tiêu ở mỗi lĩnh vực quản lý bằng việc đưa ra:

 

a. Thông lệ kế toán được công nhận chung;

 

b. Phân loại chi tiêu thống nhất;

 

c. Tiêu chuẩn và định mức kho bạc thống nhất.

 

2. Kho bạc quốc gia phải tuân thủ các biện pháp đã được quy định tại Khoản 1 và có thể đình chỉ việc chuyển tiền cho một cơ quan nhà nước nếu cơ quan đó có những vi phạm nghiêm trọng hoặc kéo dài những biện pháp nói trên. [Khoản 2 được thay thế bởi Điều 5 Đạo luật số 61 năm 2001]

 

3. Một quyết định đình chỉ chuyển tiền cho một tỉnh theo quy định tại Điểm b, khoản 1 Điều 214 chỉ được áp dụng trong những trường hợp được đề cập ở khoản 2 và:

 

a. Có thể không đình chỉ chuyển tiền quá 120 ngày;

 

b. Có thể áp dụng ngay lập tức nhưng sẽ bị mất hiệu lực hồi tố trừ khi Quốc hội thông qua quyết định theo một quy trình được quy định tại khoản 1 Điều 76 được quy định bởi các quy định chung và lệnh của Quốc hội. Quy trình này phải hoàn thành trong thời hạn 30 ngày từ ngày kho bạc quốc gia quyết định. [Khoản 3 được sửa đổi bởi Điều 5 Đạo luật số 61 năm 2001]

 

4. Quốc hội có thể gia hạn quyết định đình chỉ chuyển tiền nhưng không quá 120 ngày một lần và tuân theo quy trình ở khoản 3 Điều này.

 

5. Trước khi Quốc hội thông qua hoặc gia hạn một quyết định đình chỉ chuyển tiền cho một tỉnh:

 

a. Tổng Kiểm toán phải báo cáo Quốc hội;

 

b. Các tỉnh được trao cơ hội để giải trình các cáo buộc chống lại mình và nêu rõ trường hợp của mình trước một ủy ban. (Ngày có hiệu lực: 1/1/1998)

 

217. Trưng mua

 

1. Khi một cơ quan nhà nước ở trung ương, tỉnh hoặc chính quyền địa phương hoặc bất cử tổ chức nào tương tự theo quy định của pháp luật ký hợp đồng hàng hóa hoặc dịch vụ phải tuân thủ một cơ chế công bằng, minh bạch, cạnh tranh và chi phí hiệu quả.

 

2. Khoản 1 không loại trừ cơ quan nhà nước liên quan đến khoản này việc thực hiện chính sách trưng mua được quy định:

 

a. Danh mục ưu đãi trong phân bổ hợp đồng;

 

b. Việc bảo hộ hoặc vị trí của các cá nhân hoặc những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn bởi sự đối xử không công bằng.

 

3. Luật phải quy định về khuôn khổ để các chính sách liên quan đến khoản 2 được thực thi. * 1 [Khoản 3 được thay thế bởi Điều 6 Đạo luật số 61 năm 2001]

 

218. Bảo lãnh chính quyền

 

1. Cơ quan trung ương, cấp tỉnh và thành phố có thể bảo lãnh một khoản vay trong trường hợp việc bảo lãnh này phù hơp với những điều kiện do luật định.

 

2. Pháp luật liên quan đến khoản 1 Điều có thể chỉ được ban hành sau khi đã xem xét những khuyến nghị do Ủy ban tài chính và ngân sách quốc gia đưa ra.

 

3. Mỗi năm, mỗi cơ quan phải công khai về các khoản bảo lãnh đã thực hiện.

 

219. Lương của những người giữ chức vụ khu vực công

 

1. Một đạo luật của Quốc hội phải thiết lập khuôn khổ để xác định:

 

a. Tiền lương, phụ cấp và trợ cấp của đại biểu Quốc hội, đại biểu thường trực Hội đồng dân tộc của các tỉnh, thành viên nội các, thứ trưởng, các lãnh tụ truyền thống và thành viên của hội đồng các nhà lãnh đạo truyền thống.

 

b. Giới hạn trên về tiền lương, phụ cấp và trợ cấp của thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh, thành viên cơ quan điều hành và thành viên của hội đồng thành phố trong các lĩnh vực khác nhau.

 

2. Luật phải quy định thành lập một ủy ban độc lập để đưa ra các khuyến nghị liên quan đến tiền lương, phụ cấp và trợ cấp được quy định tại khoản 1.

 

3. Quốc hội có thể chỉ thông qua một văn bản quy phạm liên quan đến khoản 1 sau khi xem xét các khuyến nghị của Ủy ban được thành lập theo quy định tại khoản 2.

 

4. Cơ quan chấp hành ở trung ương, ở cấp tỉnh, thành phố và các cơ quan có thẩm quyền có thể thực hiện quy định liên quan đến khoản 1 chỉ sau khi xem xét những khuyến nghị của Ủy ban được thành lập theo quy định tại khoản 2.

 

5. Luật phải xây dựng khuôn khổ cho việc xác định tiền lương, phụ cấp và trợ cấp cho Tổng Thanh tra Nhà nước, Tổng Kiểm toán và các thành viên của các ủy ban theo quy định của Hiến pháp, bao gồm cả cơ quan quản lý phát thanh truyền hình được quy định tại Điều 192. Ủy ban tài chính và ngân khố

 

220. Tổ chức và nhiệm vụ

 

1. Một Ủy ban tài chính và ngân khố được thiết lập cho nước Cộng hòa với nhiệm vụ đưa ra những khuyến nghị được quy định trong

 

Chương này và theo quy định của pháp luật cho Quốc hội, cơ quan lập pháp cấp tỉnh và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo luật định.

 

2. Ủy ban độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật và bảo đảm sự công bằng.

 

3. Ủy ban thực hiện chức năng theo quy định của một đạo luật của

 

Quốc hội, trong quá trình thực hiện chức năng của mình phải xem xét các yếu tố liên quan, bao gồm cả những vấn đề được đề cập trong khoản 2 Điều 214.

 

221. Bổ nhiệm và nhiệm kỳ của các thành viên

 

1. Ủy ban bao gồm các thành viên được Tổng thống, người đứng đầu ngành hành pháp, bổ nhiệm:

 

a. Một chủ tịch và một phó chủ tịch;

 

b. Ba thành viên được lựa chọn sau khi hỏi ý kiến các thủ hiến từ một danh sách được xây dựng theo quy trình do luật định;

 

c. Hai thành viên được lựa chọn sau khi hỏi ý kiến với chính quyền địa phương từ một danh sách được xây dựng theo quy trình luật định.

 

d. Hai thành viên khác. [Khoản 1 đã được sửa đổi bởi Điều 2 Đạo luật số 2 năm 1999 và được thay thế bằng Điều 7 đạo luật số 61 năm 2001]

 

A. Luật liên quan đến khoản 1 phải quy định về sự tham gia của:

 

a. Các Thủ hiến trong việc xây dựng danh sách như khoản 1;

 

b. Chính quyền địa phương trong việc xây dựng danh sách như tại điểm c Khoản 1. [Điểm 1A được bổ sung bởi khoản b Điều 7 đạo luật số 61 năm 2001]

 

2. Các thành viên của Ủy ban phải có chuyên môn phù hợp.

 

3. Các thành viên làm việc trong một nhiệm kỳ theo luật định. Tổng thống có thể bãi nhiệm một thành viên vì hành vi sai trái, không đủ tư cách hoặc không đủ năng lực.

 

222. Báo cáo Ủy ban phải báo cáo thường xuyên với Quốc hội và cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

Ngân hàng Trung ương

 

223. Thành lập

 

Ngân hàng dự trữ Nam Phi là ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa và được quy định trong các điều khoản của một đạo luật của Quốc hội.

 

224. Mục tiêu chính

 

1. Mục tiêu chính của Ngân hàng Dự trữ Nam Phi là bảo vệ giá trị đồng tiền nhằm bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế cân bằng và bền vững của nước Cộng hòa.

 

2. Ngân hàng Dự trữ Nam Phi, trong việc theo đuổi mục tiêu chính của mình, phải thực hiện chức năng một cách độc lập, không thiên vị, không định kiến nhưng phải có sự trao đổi thường xuyên giữa Ngân hàng và thành viên Nội các chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính quốc gia.

 

225. Quyền hạn và nhiệm vụ

 

Quyền hạn và nhiệm vụ của Ngân hàng Dự trữ Nam Phi là thực hiện các nhiệm vụ thông thường của ngân hàng trung ương mà trong đó quyền hạn và nhiệm vụ của Ngân hàng phải được quy định trong một đạo luật của Quốc hội và phải thực hiện theo những điều kiện do đạo luật này quy định.

 

Các vấn đề tài chính tỉnh và địa phương

 

226. Quỹ thu nhập cấp tỉnh

 

1. Quỹ Thu nhập cấp tỉnh được thành lập ở mỗi tỉnh trong đó tất cả các khoản tiền nhận bởi chính quyền địa phương phải được thanh toán trừ khoản tiền được khấu trừ theo quy định bởi một đạo luật của Quốc hội.

 

2. Tiền chỉ có thể được rút ra từ Quỹ doanh thu cấp tỉnh trong các trường hợp:

 

a. Theo quy định phù hợp của một đạo luật của tỉnh;

 

b. Các khoản phí trực tiếp từ Quỹ Doanh thu cấp tỉnh đã được

 

Hiến pháp hoặc một đạo luật của tỉnh quy định.

 

3. Thu nhập được phân phối thông qua tỉnh đến chính quyền địa phương ở tỉnh đó theo quy định tại khoản 1 Điều 214 là một khoản phí trực tiếp từ Quỹ Thu nhập cấp tỉnh.

 

4. Luật có thể xác định khuôn khổ trong đó:

 

a. Một đạo luật của tỉnh theo điểm b khoản 2 có thẩm quyền rút tiền như một khoản phí trực tiếp từ Quỹ Thu nhập cấp tỉnh;

 

b. Thu nhập được phân bổ thông qua tỉnh đến chính quyền địa phương theo quy định tại khoản 3 phải được thanh toán cho các thành viên trực thuộc tỉnh. [Khoản 4 được bổ sung bởi Điều 9 đạo luật số 61 năm 2001] (Ngày có hiệu lực: 1/1/1998)

 

227. Quỹ nguồn lực quốc gia của chính quyền tỉnh và địa phương

 

1. Chính quyền địa phương và mỗi tỉnh:

 

a. Được phân bổ một khoản thu nhập công bằng từ quốc gia nhằm tạo điều kiện cung ứng các dịch vụ cơ bản và thực hiện nhiệm vụ đã được phân công.

 

b. Có thể nhận được các khoản phân bổ từ thu nhập quốc gia có điều kiện hoặc không có điều kiện.

 

2. Các khoản thu nhập bổ sung được tỉnh và thành phố huy động có thể không được khấu trừ từ thu nhập được huy động từ quốc gia hoặc từ sự phân bổ khác từ thu nhập quốc dân. Tương tự, không có một nghĩa vụ từ chính phủ đối với việc bồi thường cho tỉnh hoặc thành phố khi các đơn vị này không huy động tương xứng với năng lực tài chính và cơ sở thu thuế.

 

3. Phần thu nhập công bằng của mỗi tỉnh được huy động từ quốc gia có thể được chuyển cho tỉnh ngay lập tức mà không bị khấu trừ, trừ trường hợp việc chuyển này bị đình chỉ theo quy định tại Điều 216.

 

4. Mỗi tỉnh phải quy định về các nguồn lực mà tỉnh yêu cầu, theo những điều khoản của Hiến pháp tỉnh bổ sung thêm những yêu cầu đã được quy định trong Hiến pháp. (Ngày bắt đầu có hiệu lực: 1/1/1998)

 

228. Thuế cấp tỉnh

 

1. Cơ quan lập pháp có thể áp đặt:

 

a. Các loại thuế, thuế đánh vào hàng hóa bên cạnh thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế kinh doanh nói chung, thuế về tài sản và thuế hải quan;

 

b. Tỷ lệ cố định các loại thuế bổ sung phải theo luật định ngoài thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng, thuế tài sản hoặc thuế hải quan. [Điểm 3 được thay thế bởi Điều 9 đạo luật số 61 năm 2001]

 

2. Quyền hạn của cơ quan lập pháp tỉnh trong việc áp thuế, thuế bổ sung:

 

a. Có thể không được thực hiện theo những cách thức mang tính định kiến phi lý đối với chính sách kinh tế quốc dân, các hoạt động kinh tế qua địa giới hành chính của tỉnh hoặc việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động quốc gia.

 

b. Phải được quy định phù hợp với quy định của đạo luật của

 

Quốc hội, được ban hành sau khi xem xét các khuyến nghị của Ủy ban tài chính và ngân khố. (Ngày bắt đầu có hiệu lực: 1/1/1998)

 

229. Quyền hạn và nhiệm vụ của tài chính thành phố

 

1. Theo khoản 2,3 và 4, chính quyền thành phố có thể áp đặt:

 

a. Thuế tài sản và các khoản phụ phí đối với dịch vụ được cung ứng hoặc thay mặt chính quyền thành phố cung ứng;

 

b. Nếu pháp luật cho phép, các khoản thuế, phí phù hợp với chính quyền địa phương hoặc phù hợp với loại hình chính quyền địa phương có thể được giảm xuống nhưng không một chính quyền thành phố nào có thể áp thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế kinh doanh nói chung hoặc thuế hải quan. * 2

 

2. Quyền hạn của chính quyền thành phố trong áp thuế tài sản, phụ phí đối với các dịch vụ trực tiếp cung ứng hoặc thay mặt chính quyền thành phố cung ứng hoặc các khoản thuế khác:

 

a. Có thể không được thực thi theo cách thức có sự định kiến phi lý đối với chính sách kinh tế quốc dân, các hoạt động kinh tế qua địa giới hành chính thành phố hoặc sự lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ, vốn hoặc lao động trong phạm vi quốc gia;

 

b. Có thể được quy định bởi văn bản quy phạm pháp luật trung ương.

 

3. Khi hai thành phố có cùng quyền hạn và nhiệm vụ về tài chính với cùng địa bàn lãnh thổ tương tự, sự phân chia hợp lý quyền hạn và nhiệm vụ của mỗi thành phố phải được xác định theo luật định. Sự phân định này cần phải chú ý ít nhất những tiêu chuẩn sau:

 

a. Sự cần thiết thực hiện nguyên tắc thu thuế.

 

b. Quyền hạn và nhiệm vụ của chính quyền mỗi thành phố.

 

c. Năng lực tài chính của mỗi thành phố.

 

d. Hiệu lực và hiệu quả thu thuế.

 

e. Sự công bằng.

 

4. Không một nội dung nào trong điều này miễn trừ việc chia sẻ thu nhập huy động theo quy định của điều này giữa các thành phố có quyền hạn và nhiệm vụ tài chính trên địa bàn như nhau.

 

5. Luật cụ thể hoá nội dung trong điều khoản này chỉ có thể được ban hành sau khi chính quyền địa phương và Ủy ban tài chính và ngân khố đã trao đổi và các khuyến nghị của Ủy ban được xem xét.

 

230. Các khoản nợ của tỉnh và thành phố

 

1. Một tỉnh có thể vay để đầu tư hoặc chi tiêu hiện tại theo luật định nhưng khoản vay cho chi tiêu hiện tại chỉ được huy động khi cần thiết vì các mục tiêu bắc cầu trong năm tài chính.

 

2. Luật pháp quốc gia tham chiếu đến khoản 1 có thể được ban hành chỉ sau khi xem xét các khuyến nghị của Ủy ban Tài chính và ngân khố. [Điều 230 được thay thế bởi Điều 10 đạo luật số 61 năm 2001] (Ngày bắt đầu có hiệu lực: 1/1/1998)

 

230A. Khoản nợ của thành phố

 

1. Hội đồng thành phố có thể, theo quy định của pháp luật:

 

a. Vay nợ để đầu tư hoặc chi tiêu hiện tại của thành phố, tuy nhiên, khoản vay để chi tiêu hiện tại chỉ được huy động khi cần thiết vì các mục tiêu bắc cầu trong năm tài chính.

 

b. Ràng buộc trách nhiệm và tương lai của Hội đồng thành phố trong việc thực hiện các hoạt động lập pháp và điều hành nhằm bảo đảm các khoản vay nợ hoặc đầu tư cho thành phố.

 

2. Luật pháp quốc gia tham chiếu đến khoản 1 có thể được ban hành chỉ sau khi xem xét các khuyến nghị của Ủy ban Tài chính và ngân khố. [Điều 230A được bổ sung bởi Điều 17 đạo luật số 34 năm 2001]

 

CHƯƠNG XIV: QUY ĐỊNH CHUNG

 

Luật quốc tế

 

231. Hiệp ước quốc tế

 

1. Việc đàm phán và ký kết tất cả các hiệp ước quốc tế là trách nhiệm của cơ quan chấp hành quốc gia.

 

2. Hiệp ước quốc tế ràng buộc nước Cộng hòa chỉ sau khi được Quốc hội và Hội đồng dân tộc các tỉnh thông qua bằng một nghị quyết, trừ trường hiệp ước được quy định tại Khoản 3.

 

3. Một hiệp ước quốc tế có tính chất kỹ thuật, hành chính hoặc điều hành, hoặc một hiệp ước không yêu cầu phê chuẩn hoặc quyết định gia nhập do cơ quan chấp hành quốc gia, ràng buộc trách nhiệm của nước Cộng hòa mà không cần thông qua bởi một nghị quyết của Quốc hội và Hội đồng dân tộc các tỉnh, nhưng phải đệ trình Quốc hội và Hội đồng trong khoảng thời gian thích hợp.

 

4. Bất cứ hiệp ước nào có thể trở thành luật tại nước Cộng hòa khi hiệp ước được ban hành thành luật bởi luật định; Nhưng một điều khoản tự thực hiện của hiệp ước được Quốc hội thông qua trở thành luật trừ phi hiệp ước này trái với Hiến pháp hoặc một đạo luật của Quốc hội.

 

5. Nước Cộng hòa thực hiện các hiệp định quốc tế đã cam kết khi

 

Hiến pháp này có hiệu lực.

 

* 2. Xem Mục 6 tiểu mục 21 (4).

 

* 3. Xem Mục 6 tiểu mục 21 (6)

 

232. Tư pháp quốc tế

 

Pháp luật tập quán quốc tế là luật của nước Cộng hòa trừ khi trái với

 

Hiến pháp hoặc một đạo luật của Quốc hội.

 

233. Áp dụng luật quốc tế

 

Khi giải thích pháp luật, tất cả các tòa án phải giải thích hợp lý pháp luật phù hợp với luật pháp quốc tế thay vì giải thích khác mâu thuẫn với luật pháp quốc tế.

 

Vấn đề khác

 

234. Hiến chương Nhân quyền

 

Để làm sâu sắc thêm nền văn hóa dân chủ thiết lập bởi Hiến pháp,

 

Quốc hội có thể thông qua Hiến chương về quyền phù hợp với các quy định của Hiến pháp.

 

235. Quyền tự quyết

 

Quyền của nhân dân Nam Phi như một tổng thể có quyền tự quyết được thể hiện trong Hiến pháp này, không loại trừ trong khuôn khổ về quyền này, việc công nhận khái niệm quyền tự quyết của mỗi cộng đồng chia sẻ các giá trị văn hóa chung và di sản ngôn ngữ trong lãnh thổ của nước Cộng hòa hoặc trong những cách thức khác được xác định theo quy định của pháp luật.

 

236. Tài trợ cho các đảng chính trị

 

Để tăng cường dân chủ đa đảng, pháp luật quốc gia phải quy định về tài trợ cho các đảng chính trị tham gia vào hoạt động lập pháp ở trung ương và cấp tỉnh trên cơ sở công bằng và tương xứng.

 

237. Thực hiện mẫn cán các nghĩa vụ

 

Tất cả nghĩa vụ Hiến pháp phải được thực hiện mẫn cán và không trì hoãn.

 

238. Cơ quan và sự ủy quyền

 

Cơ quan chấp hành của các lĩnh vực quản lý có thể:

 

1. Ủy thác quyền hoặc chức năng cho cơ quan chấp hành khác của nhà nước để thực hiện các quyền hạn hoặc chức năng miễn là sự ủy quyền này phù hợp với quy định của pháp luật theo đó các quyền hạn được thực thi hoặc chức năng được thực hiện; Hoặc

 

2. Thực hiện bất kỳ quyền hạn hoặc chức năng cho các cơ quan chấp hành trên cơ sở trung gian hoặc ủy quyền.

 

239. Các định nghĩa

 

Trong Hiến pháp này, trừ ngữ cảnh có quy định khác: “Pháp luật quốc gia” bao gồm:

 

1. Văn bản dưới luật theo quy định của một đạo luật của Quốc hội; Và

 

2. Pháp luật có hiệu lực khi Hiến pháp có hiệu lực và được quản lý bởi Chính phủ; “Cơ quan nhà nước” có nghĩa là:

 

1. Bất kỳ cơ quan nào của nhà nước, nền hành chính trong phạm vị quốc gia, tỉnh và chính quyền địa phương; Hoặc

 

2. Bất kỳ người làm việc công hoặc thiết chế:

 

a. Thực hiện quyền lực hoặc thực hiện chức năng theo quy định của Hiến pháp hoặc hiến pháp cấp tỉnh; Hoặc

 

b. Thực hiện quyền lực nhà nước hoặc chức năng nhà nước theo quy định của pháp luật, nhưng không bao gồm một tòa án hoặc một viên chức tư pháp; “Pháp luật địa phương” bao gồm:

 

1. Văn bản dưới luật theo quy định của một đạo luật địa phương; Và

 

2. Pháp luật có hiệu lực khi Hiến pháp có hiệu lực và được quản lý bởi cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh.

 

240. Mâu thuẫn với các văn bản khác

 

Trong trường hợp có sự không thống nhất giữa các văn bản khác nhau của Hiến pháp thì bản tiếng Anh có ưu thế.

 

241. Sự chuẩn bị chuyển tiếp

 

Mục 6 áp dụng vào sự chuyển tiếp trật tự Hiến pháp mới bởi Hiến pháp này và các vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển giao.

 

242. Bãi bỏ pháp luật

 

Các luật được đề cập đến trong Mục 7 bị hủy bỏ theo Điều 243 và Mục: 243. Tiêu đề ngắn và sự bắt đầu có hiệu lực

 

1. Văn bản này được gọi là Hiến pháp nước Cộng hòa Nam Phi 1996 và có hiệu lực ngay sau khi Tổng thống công bố nhưng không thể muộn hơn ngày 1/7/1997.

 

2. Tổng thống có thể xác định ngày có hiệu lực trước ngày được quy định tại khoản 1 đối với các quy định khác của Hiến pháp.

 

3. Trừ khi văn bản có quy định khác, một tham chiếu trong một điều khoản của Hiến pháp đến một khoảng thời gian khi Hiến pháp có hiệu lực thì phải được hiểu tham chiếu đó chỉ có hiệu lực khi điều khoản quy định có hiệu lực.

 

4. Nếu một ngày khác được quy định cho điều khoản cụ thể của Hiến pháp theo quy định tại Khoản 2 thì bất cứ điều khoản tương ứng nào trong Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi 1993 (Đạo luật số 200 năm 1993) Được đề cập trong bản công bố thì cũng sẽ bị hủy bỏ hiệu lực kể từ ngày đó.

 

5. Các Điều 213,214,215,216,218,226,227,228,229 và 230 có hiệu lực từ ngày 1/1/1998 nhưng điều này theo quy định của Hiến pháp không làm mất hiệu lực việc thực hiện các quy định đã được ban hành trước ngày đó. Cho đến trước thời gian có hiệu lực, các điều khoản tương ứng của Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi năm 1993 vẫn có hiệu lực thi hành.

 

Mục 1 – Quốc kỳ

 

1. Quốc kỳ hình chữ nhật; Chiều dài hơn chiều rộng 1,5 lần.

 

2. Quốc kỳ gồm màu đen, màu vàng, màu xanh lá cây, màu trắng, màu đỏ tươi và màu xanh da trời.

 

3. Quốc kỳ có một dải hình chữ Y xanh lá cây bằng 1/5 chiều rộng của lá cờ. Các đường trung tâm của dải này bắt đầu ở góc trên và góc dưới, hội tụ ở trung tâm của lá cờ và tiếp tục theo chiều ngang ở phần mép tự do.

 

4. Dải xanh lá cây ở mép, trên và dưới dải này màu trắng, phần hướng về vị trí treo cờ màu vàng. Mỗi viền có độ rộng bằng một phần năm lá cờ..

 

5. Phần hình tam giác ở vị trí treo cờ màu đen.

 

6. Phía trên đường ngang là màu đỏ tươi và phía dưới của dải chạy ngang là màu xanh da trời. Các dải này có chiều rộng bằng 1/3 chiều rộng lá cờ.

 

Mục 1A - Khu vực địa lý của các tỉnh [Mục 1A được bổ sung theo Điều 4 của Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 12 năm 2007 và Đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 16 năm 2009]

 

Tỉnh Đông Cape

 

Bản đồ số 3 của Phụ lục 1 của Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 6 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 7 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 8 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 9 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 10 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 11 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bang độc lập

 

Bản đồ số 12 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 13 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 14 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 15 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 16 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Gauteng

 

Bản đồ số 4 tại Thông báo 1490 năm 2008

 

Bản đồ số 17 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 18 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 19 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 20 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 21 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh KwaZulu-Natal

 

Bản đồ số 22 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 23 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 24 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 25 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 26 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 27 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 28 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 29 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 30 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 31 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 32 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Limpopo

 

Bản đồ số 33 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 34 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 35 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 36 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 37 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Mpumalanga

 

Bản đồ số 38 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 39 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 40 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Bắc Cape

 

Bản đồ số 41 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 42 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 43 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 44 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 45 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Tây Bắc

 

Bản đồ số 5 tại Thông báo 1490 số 2008

 

Bản đồ số 46 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 47 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 48 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Tỉnh Tây Cape

 

Bản đồ số 49 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 50 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 51 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 52 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005 Bản đồ số 53 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005

 

Bản đồ số 54 của Phụ lục 2 Thông báo số 1998 năm 2005.

 

Mục 2 – Lời tuyên thệ và lời khẳng định chính thức [Mục 2 được sửa đổi theo Điều 2 của Đạo luật số 35 năm 1997 (chỉ có bản tiếng Anh) Và được thay thế bởi Điều 18 đạo luật số 34 năm 2001]

 

Lời tuyên thệ hoặc lời khẳng định chính thức của Tổng thống và Quyền Tổng thống

 

1. Tổng thống hoặc Quyền Tổng thống trước Thẩm phán tối cao hoặc thẩm phán khác do Chánh án tối cao chỉ định phải tuyên thệ hoặc khẳng định những điều dưới đây:

 

Trước sự hiện diện của mọi người tập trung ở đây và trong sự nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, gánh vác vai trò Tổng thống/Quyền Tổng thống của nước Cộng hòa Nam Phi, tôi chính thức tuyên thệ/khẳng định sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi, sẽ tuân thủ, bảo vệ và duy trì Hiến pháp và các luật khác của nước Cộng hòa và xin hứa chân thành và chính thức rằng tôi sẽ luôn luôn:

 

a. Phát huy mọi điều vì sự tiến bộ của nước Cộng hòa và chống lại mọi ảnh hưởng tiêu cực;

 

b. Bảo vệ và phát huy quyền lợi của mọi công dân Nam Phi;

 

c. Hoàn thành nhiệm vụ của tôi với tất cả sức mạnh, tài năng, kiến thức, năng lực và đúng với tiếng gọi của lương tâm;

 

d. Công bằng với tất cả; Và

 

e. Cống hiến bản thân vì một nước Cộng hòa vững mạnh và tất cả nhân dân của đất nước này. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

Lời tuyên thệ hoặc lời khẳng định chính thức của Phó Tổng thống

 

2. Phó Tổng thống trước Thẩm phán Tối cao hoặc một thẩm phán do Chánh án Tối cao chỉ định phải tuyên thệ/khẳng định như sau:

 

Trước sự hiện diện của mọi người tập trung ở đây và trong sự nhận thức đầy đủ về trách nhiệm, gánh vác vai trò Phó Tổng thống của nước Cộng hòa Nam Phi, tôi chính thức tuyên thệ/khẳng định sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi, tôi sẽ tuân thủ, bảo vệ và duy trì Hiến pháp và các luật khác của nước Cộng hòa và xin hứa chân thành và chính thức rằng tôi sẽ luôn luôn:

 

a. Phát huy mọi điều vì sự tiến bộ của nước Cộng hòa và chống lại mọi điều ảnh hưởng tiêu cực;

 

b. Bảo vệ và phát huy quyền lợi của mọi công dân Nam Phi;

 

c. Hoàn thành nhiệm vụ của tôi với tất cả sức mạnh, tài năng, kiến thức, năng lực và đúng với tiếng gọi của lương tâm;

 

d. Công bằng với tất cả; Và

 

e. Cống hiến bản thân vì một nước Cộng hòa vững mạnh và tất cả nhân dân của đất nước này. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

Lời tuyên thệ hoặc lời khẳng định chính thức của các Bộ trưởng và Thứ trưởng

 

3. Mỗi Bộ trưởng và Thứ trưởng trước Thẩm phán Tối cao phải tuyên thệ/khẳng định như sau:

 

Tôi chính thức tuyên thệ/khẳng định rằng tôi sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi và sẽ tuân thủ, tôn trọng, bảo vệ Hiến pháp và các luật của nước Cộng hòa; Và tôi sẽ đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng/Thứ trưởng với danh dự và nhân phẩm; Là một cố vấn trung thực và đáng tin cậy; Không tiết lộ trực tiếp hoặc gián tiếp đến với bất cứ vấn đề bí mật nào được giao phó cho tôi và thực hiện nhiệm vụ tận tâm và tốt nhất trong khả năng của mình. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

Lời tuyên thệ hoặc khẳng định chính thức của đại biểu Quốc hội, đại biểu thường trực của Hội đồng dân tộc của các tỉnh và thành viên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh.

 

4. (1) Đại biểu Quốc hội, đại biểu thường trực của Hội đồng dân tộc của các tỉnh và thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh trước Thẩm phán tối cao hoặc một thẩm phán do Thẩm phán tối cao chỉ định phải tuyên thệ như sau:

 

Tôi chính thức tuyên thệ/khẳng định rằng tôi sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi và sẽ tuân thủ, tôn trọng, bảo vệ Hiến pháp và các luật của nước Cộng hòa; Và tôi xin hứa sẽ đem hết khả năng thực hiện nhiệm vụ của một đại biểu Quốc hội/đại biểu thường trực của Hội đồng dân tộc của các tỉnh/ thành viên cơ quan lập pháp cấp tỉnh. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

(2) Các cá nhân được bổ nhiệm bổ sung cho vị trí khuyết của Quốc hội, đại biểu thường trực Hội đồng dân tộc của các tỉnh hoặc cơ quan lập pháp cấp tỉnh phải tuyên thệ hoặc khẳng định theo như điểm 1 trước chủ tọa Quốc hội, Hội đồng hoặc cơ quan lập pháp.

 

Lời tuyên thệ hoặc khẳng định chính thức của Thủ hiến, Quyền Thủ hiến và các thành viên Hội đồng điều hành cấp tỉnh

 

5. Thủ hiến hoặc Quyền Thủ hiến của một tỉnh hoặc mỗi thành viên của Hội đồng điều hành của một tỉnh trước Thẩm phán tối cao hoặc một thẩm phán do Thẩm phán tối cao chỉ định phải tuyên thệ/khẳng định như sau:

 

Tôi chính thức tuyên thệ/khẳng định rằng tôi sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi và sẽ tuân thủ, tôn trọng, bảo vệ Hiến pháp và các luật của nước Cộng hòa; Và tôi sẽ đảm nhiệm vị trí Thủ hiến/Quyền Thủ hiến/thành viên Hội đồng điều hành với danh dự và nhân phẩm; Là một cố vấn trung thực và đáng tin cậy; Không tiết lộ trực tiếp hoặc gián tiếp đến với bất cứ vấn đề bí mật nào được giao phó cho tôi và tận tâm, đem hết khả năng để thực hiện nhiệm vụ. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

Lời tuyên thệ hoặc khẳng định chính thức của viên chức tư pháp

 

6. (1) Mỗi thẩm phán hoặc quyền thẩm phán trước Thẩm phán tối cao hoặc một thẩm phán do Thẩm phán tối cao chỉ định phải tuyên thệ hoặc khẳng định như sau:

 

Tôi xin thề/chính thức khẳng định rằng là một thẩm phán của Tòa án Hiến pháp/Tòa án tối cao phúc thẩm/Tòa án tối cao, tôi sẽ trung thành với nước Cộng hòa Nam Phi, sẽ bảo vệ Hiến pháp và quyền con người được ghi nhận trong đó và sẽ thực thi công lý đối với mọi người không e sợ, không thiên tư, thiên vị, tuân theo Hiến pháp và pháp luật. (Trong trường hợp của một lời tuyên thệ: Vì vậy, Chúa Trời hãy giúp con!)

 

(2) Một người được bổ nhiệm vào vị trí Thẩm phán tối cao mà tại thời điểm bổ nhiệm chưa phải là thẩm phán phải thề hoặc xác nhận trước Phó Thẩm phán Tối cao, nếu không sẽ phải thề hoặc khẳng định trước một thẩm phán cấp cao của Tòa án Hiến pháp.

 

(3) Các viên chức tư pháp hoặc quyền viên chức tư pháp ngoài các thẩm phán phải tuyên thệ hoặc khẳng định theo quy định của pháp luật.

 

Mục 3 – Thủ tục bầu cử [Mục 3 được sửa đổi bởi Điều 2 Đạo luật số 3 năm 1999, bởi Điều 19 đạo luật số 34 năm 2001, điều 3 đạo luật số 21 năm 2002 và điều 5 đạo luật sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 năm 2008]

 

Phần A. Thủ tục bầu cử cho chức vụ được quy định trong Hiến pháp

 

Áp dụng

 

1. Thủ tục quy định tại mục này áp dụng bất cứ khi nào:

 

a. Quốc hội họp để bầu Chủ tịch hoặc Chủ tịch Hạ viện, Phó Chủ tịch Hạ viện của Quốc hội;

 

b. Hội đồng dân tộc của các tỉnh họp để bầu Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch; Hoặc

 

c. Cơ quan lập pháp tỉnh họp để bầu Thủ hiến, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch của cơ quan này.

 

Đề cử

 

2. Người chủ tọa một cuộc họp áp dụng theo Mục này phải yêu cầu đề cử ứng cử viên tại cuộc họp.

 

Các yêu cầu chính thức

 

3. (1) Việc đề cử phải được thực hiện theo thể thức do pháp luật quy định tại điểm 9 khoản này.

 

(2) Văn bản đề cử phải được ký tên:

 

a. Bởi hai đại biểu Quốc hội nếu Chủ tịch hay Phó Chủ tịch Quốc hội sẽ được bầu;

 

b. Thay mặt cho doàn đại biểu cấp tỉnh, nếu Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của các tỉnh sẽ được bầu; Hoặc

 

c. Bởi hai thành viên phù hợp của cơ quan lập pháp cấp tỉnh nếu Thủ hiến, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch cơ quan lập pháp sẽ được bầu.

 

(3) Một người được đề cử phải cho biết sự chấp nhận đề cử bằng việc ký tên hoặc vào văn bản đề cử hoặc vào một văn bản thừa nhận.

 

Công bố danh tính ứng cử viên

 

4. Tại cuộc họp theo thủ tục của Mục này, người chủ tọa phải công bố danh tính của ứng cử viên nhưng có thể không cho phép bất kỳ cuộc tranh luận nào. Ứng cử viên duy nhất

 

5. Nếu chỉ có duy nhất một ứng cử viên được đề cử thì người chủ tọa phải tuyên bố ứng cử viên đó được bầu.

 

Thủ tục bầu cử

 

6. Nếu có hơn một ứng cử viên được đề cử:

 

a. Một cuộc bỏ phiếu phải được thực hiện tại cuộc họp bằng hình thức bỏ phiếu kín;

 

b. Mỗi thành viên có mặt hoặc nếu đó là cuộc họp của Hội đồng dân tộc các tỉnh, mỗi tỉnh đại diện tại cuộc họp có thể bỏ một phiếu;

 

c. Người chủ tọa tuyên bố ứng cử viên nhận được đa số phiếu là người thắng cử.

 

Thủ tục loại ra

 

7. (1) Nếu không có một ứng cử viên nhận được đa số phiếu, ứng cử viên nhận được số phiếu ít nhất sẽ bị loại ra và một cuộc bỏ phiếu tiếp theo sẽ diễn ra với các ứng cử viên còn lại theo đúng quy định tại Khoản 6. Thủ tục này phải lặp lại cho đến khi một ứng viên nhận được đa số phiếu.

 

(2) Khi áp dụng quy định tại điểm 1, nếu hai hoặc nhiều hơn ứng viên có số phiếu thấp nhất, một cuộc bỏ phiếu riêng biệt phải được thực hiện đối với các ứng viên này và lặp đi lặp lại cho đến khi tìm được ứng viên bị loại ra.

 

Các cuộc họp bổ sung

 

8. (1) Trong trường hợp có hai ứng viên được đề cử hoặc còn hai ứng viên sau thủ tục loại ứng viên, hai ứng cử viên này có số phiếu ngang nhau thì một cuộc họp bổ sung phải được tổ chức trong thời gian 7 ngày, vào thời gian do người chủ tọa xác định.

 

(2) Nếu một cuộc họp được tổ chức thêm như điểm 1, thủ tục được quy định trong phần này phải được áp dụng như cuộc họp đầu tiên thảo luận về cuộc bầu cử.

 

Các quy tắc

 

9. (1) Thẩm phán Tối cao phải ban hành quy tắc quy định:

 

a. Thủ tục cho các cuộc họp mà Mục này được áp dụng;

 

b. Nhiệm vụ của người chủ tọa cuộc họp và bất kỳ ai giúp việc cho người chủ tọa;

 

c. Hình thức đề cử phải được đệ trình;

 

d. Cách thức biểu quyết được tiến hành.

 

(2) Những quy tắc này phải được công khai theo hình thức do Thẩm pháp Tối cao quyết định.

 

Phần B. Công thức xác định sự tham gia của đảng phái trong đoàn đại biểu tỉnh vào hội đồng dân tộc của các tỉnh

 

1. Số lượng đại biểu trong đoàn đại biểu cấp tỉnh tham gia Hội đồng dân tộc của các tỉnh mà mỗi đảng được phân bổ phải được xác định bằng cách nhân số ghế mà đảng đó nắm giữ trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh với 10 và chia kết quả cho số ghế trong cơ quan lập cộng thêm 1.

 

2. Nếu cách tính toán ở khoản 1 là số dư so với số đại biểu đã phân bổ cho một đảng theo khoản 1, số dư này phải cạnh tranh với số dư tương tự được dồn lại của một đảng hoặc các đảng và các đại biểu không được phân phối phải được phân bổ cho đảng có số dư cao nhất.

 

3. Nếu số dư là giống nhau theo quy định tại khoản 2, các đại biểu không được phân bổ phải được phân cho đảng hoặc các đảng có cùng số dư theo thứ tự từ đảng có số phiếu cao nhất đến đảng có số phiếu thấp nhất trong cuộc bầu cử cơ quan lập pháp cấp tỉnh trước đó.

 

4. Nếu có hơn một đảng có cùng số dư và có cùng số phiếu trong cuộc bầu cử cơ quan lập pháp cấp tỉnh trước đó, cơ quan lập pháp cần phân bổ số đại biểu không được phân bổ cho các đảng có cùng số dư trên nguyên tắc dân chủ.

 

Mục 4 – Phạm vi chức năng của thẩm quyền đồng thời cơ quan lập pháp ở trung ương và cấp tỉnh

 

Phần A

 

1. Quản lý rừng nguyên sinh

 

2. Nông nghiệp

 

3. Hàng không, sân bay quốc tế và sân bay nội địa

 

4. Kiểm soát động vật và dịch bệnh

 

5. Sòng bạc, cuộc đua, cá cược, không bao gồm xổ số và cá độ thể thao

 

6. Bảo vệ người tiêu dùng

 

7. Vấn đề văn hóa

 

8. Quản lý thiên tai, thảm họa

 

9. Giáo dục ở các bậc học, bao gồm cả giáo dục đại học

 

10. Môi trường

 

11. Dịch vụ y tế

 

12. Nhà ở

 

13. Luật bản xứ và tập quán pháp theo Chương 12 của Hiến pháp

 

14. Xúc tiến công nghiệp

 

15. Chính sách ngôn ngữ và quy định về ngôn ngữ chính thức về các điều khoản của Điều 6 Hiến pháp chuyển giao thuộc thẩm quyền cơ quan lập pháp cấp

 

16. Dịch vụ truyền thông đại chúng do chính quyền cấp tỉnh quản lý và cung cấp trực tiếp theo điều 192

 

17. Bảo tồn thiên nhiên, không bao gồm vườn quốc gia, vườn thực vật quốc gia và tài nguyên biển

 

18. Cảnh sát theo các điều khoản Chương 11 chuyển giao thuộc thẩm quyền cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

19. Kiểm soát ô nhiễm

 

20. Phát triển dân số

 

21. Phí chuyển nhượng sở hữu

 

22. Doanh nghiệp công ích cấp tỉnh trong phạm vị chức năng của

 

Mục này và Mục 5: 23. Giao thông công cộng

 

24. Công trình công cộng đáp ứng nhu cầu của chính quyền địa phương để hoàn thành nhiệm vụ quản lý được phân công theo quy định của Hiến pháp và các đạo luật khác

 

25. Quy hoạch và phát triển vùng

 

26. Quy định giao thông đường bộ

 

27. Bảo tồn đất

 

28. Du lịch

 

29. Thương mại

 

30. Lãnh đạo truyền thống, theo Chương 12 của Hiến pháp

 

31. Phát triển đô thị và nông thôn

 

32. Giấy phép lái xe

 

33. Phúc lợi xã hội

 

Phần B

 

Những vấn đề chính quyền địa phương sau đây đặt ra trong điểm a

 

Khoản 6 và khoản 7 Điều 155:

 

1. Ô nhiễm không khí

 

2. Quy định xây dựng

 

3. Hỗ trợ, chăm sóc trẻ em

 

4. Mạng lưới điện và khí sinh học (gas)

 

5. Dịch vụ cứu hỏa

 

6. Du lịch địa phương

 

7. Sân bay đô thị

 

8. Quy hoạch đô thị

 

9. Dịch vụ y tế ở đô thị

 

10. Giao thông công cộng đô thị

 

11. Công trình công cộng của đô thị nhằm đáp ứng yêu cầu của đô thị trong việc hoàn thành các nhiệm vụ được phân công theo quy định của Hiến pháp, pháp luật

 

12. Phà, bến phà, cầu cảng và bến cảng, trừ các quy định quốc gia và quốc tế về vận tải biển và những vấn đề liên quan

 

13. Hệ thống quản lý nước mưa ở khu vực nhà cửa đông đúc

 

14. Quy định về thương mại

 

15. Dịch vụ nước và vệ sinh môi trường giới hạn cho hệ thống cung cấp nước sạch, xử lý nước thải và rác thải trong nước

 

Mục 5 – Phạm vi chức năng chỉ thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp cấp tỉnh

 

Phần A

 

1. Cơ sở giết mổ

 

2. Dịch vụ xe cứu thương

 

3. Lưu trữ ngoài lưu trữ quốc gia

 

4. Thư viện ngoài thư viện quốc gia

 

5. Giấy phép rượu

 

6. Viện Bảo tàng ngoài các bảo tàng cấp quốc gia

 

7. Quy hoạch của tỉnh

 

8. Các vấn đề văn hóa của tỉnh

 

9. Vui chơi giải trí và tiện nghi của tỉnh

 

10. Thể dục thể thao của tỉnh

 

11. Giao thông của tỉnh

 

12. Dịch vụ thú ý, không bao gồm các quy định về chuyên môn, nghề nghiệp

 

Phần B

 

Những vấn đề của chính quyền địa phương đặt ra cho các tỉnh tại

 

Điểm a, khoản 6 và khoản 7 Điều 155:

 

1. Bãi biển và các cơ sở vui chơi, giải trí

 

2. Biển quảng cáo và việc trưng bày quảng cáo ở nơi công cộng

 

3. Nghĩa trang, dịch vụ tang lễ và lò hỏa táng

 

4. Tẩy rửa, nạo vét

 

5. Kiểm soát những phiền hà công cộng

 

6. Kiểm soát việc kinh doanh rượu cho công chúng

 

7. Cơ sở vật chất, cho việc nuôi, chăm sóc và chôn cất động vật

 

8. Hàng rào và hàng rào bảo vệ

 

9. Giấy phép nuôi chó

 

10. Giấy phép và kiểm soát việc bán thực phẩm cho công chúng

 

11. Cơ sở vật chất địa phương

 

12. Tiện nghi thể thao địa phương

 

13. Chợ

 

14. Các cơ sở giết mổ ở thành phố

 

15. Công viên và nơi giải trí đô thị

 

16. Đường đô thị

 

17. Ô nhiễm tiếng ồn

 

18. Đơn vị đo lường (pounds)

 

19. Nơi công cộng

 

20. Rác thải, bãi rác và chất thải rắn

 

21. Bán hàng rong

 

22. Chiếu sáng đường

 

23. Giao thông và bãi đậu xe

 

Mục 6 – Sự luân chuyển chuyển tiếp [Mục 6 được sửa đổi bởi điều 3 đạo luật số 35 năm 1997, bởi điều 5 của đạo luật số 65 năm 1998 và bởi điều 20 đạo luật số 34 năm 2001]

 

Các định nghĩa

 

1. Trong mục này, trừ trường hợp không thống nhất với ngữ cảnh: “Quê hương” nghĩa là một phần lãnh thổ của nước Cộng hòa trước khi Hiến pháp trước có hiệu lực đã được đề cập đến trong pháp luật của Nam Phi như một vùng lãnh thổ độc lập hoặc tự trị; “Hiến pháp mới” là Hiến pháp của nước Cộng hòa Nam Phi năm 1996; “Các văn bản quy phạm có tính chất lệnh, chỉ thị cũ” nghĩa là các văn bản được ban hành trước khi Hiến pháp trước Hiến pháp 1996 có hiệu lực; “Hiến pháp trước” là Hiến pháp của nước Cộng hòa Nam Phi năm 1993 (đạo luật số 200 năm 1993).

 

Hiệu lực của luật hiện có

 

2. (1) Tất cả các luật đã có hiệu lực khi Hiến pháp này có hiệu lực sẽ tiếp tục có hiệu lực tùy thuộc vào:

 

a. Bất cứ sửa đổi hoặc hủy bỏ;

 

b. Sự thống nhất với Hiến pháp mới.

 

(2) Các văn bản quy phạm cũ sẽ tiếp tục có hiệu lực theo quy định như sau:

 

a. Không áp dụng trên phạm vi rộng hơn về lãnh thổ hoặc tương tự như vậy quy định của các văn bản đó trước khi Hiến pháp có hiệu lực trừ trường hợp có sửa đổi để áp dụng rộng hơn;

 

b. Tiếp tục được quản lý bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Hiến pháp mới khi Hiến pháp mới có hiệu lực.

 

Giải thích pháp luật hiện hành

 

3. (1) Trừ trường hợp mâu thuẫn với ngữ cảnh hoặc rõ ràng không phù hợp, một tham chiếu trong bất kỳ văn bản quy phạm hiện hành nào khi Hiến pháp có hiệu lực:

 

a. Đối với Cộng hòa Nam Phi hoặc khu tự trị (ngoại trừ trường hợp tham chiếu đến một vùng lãnh thổ cụ thể) Phải được giải thích là một tham chiếu đến Cộng hòa Nam Phi theo quy định của Hiến pháp mới;

 

b. Đối với Nghị viện, Quốc hội hay Thượng nghị viện phải được giải thích là một tham chiếu đến Nghị viện, Quốc hội hoặc

 

Thượng viện hoặc Hội đồng dân tộc các tỉnh theo quy định của Hiến pháp mới;

 

c. Đối với Tổng thống, Phó Tổng thống điều hành, một Bộ trưởng, một Thứ trưởng hoặc Nội các phải được giải thích như một tham chiếu đến Tổng thống, Phó Tổng thống điều hành, một Bộ trưởng, một Thứ trưởng hoặc Nội các theo quy định của Hiến pháp mới, theo tiểu mục 9 của Mục này;

 

d. Đối với Chủ tịch Thượng viện phải được giải thích là một tham chiếu đối với Chủ tịch Hội đồng dân tộc của các tỉnh;

 

e. Đối với cơ quan lập pháp cấp tỉnh, Thủ hiến, Quyền Thủ hiến hoặc thành viên của Hội đồng điều hành của một tỉnh phải được giải thích là một tham chiếu đến cơ quan lập pháp cấp tỉnh, Thủ hiến, Quyền Thủ hiến hoặc thành viên của Hội đồng điều hành theo quy định của Hiến pháp mới, theo tiểu mục 12 của Mục này; Hoặc

 

f. Đối với ngôn ngữ hoặc các ngôn ngữ chính thức phải được giải thích là một tham chiếu đến bất cứ ngôn ngữ chính thức nào theo quy định của Hiến pháp mới.

 

(2) Trừ phi mâu thuẫn với ngữ cảnh hoặc hoàn toàn không phù hợp, một tham chiếu trong bất cứ nội dung văn bản quy phạm pháp luật nào trước Hiến pháp cũ:

 

a. Đối với Nghị viện, một viện của Nghị viện hoặc cơ quan lập pháp hoặc cơ quan của nước Cộng hòa hoặc một khu tự trị phải được giải thích theo thẩm quyền giải quyết:

 

i. Nghị viện theo quy định của Hiến pháp mới, nếu thẩm quyền lập pháp đã được phân giao theo quy định của Hiến pháp cũ hoặc theo mục này cho cơ quan điều hành trung ương; Hoặc

 

ii. Cơ quan lập pháp cấp tỉnh, nếu thẩm quyền lập pháp đã được phân giao theo Hiến pháp cũ hoặc theo mục này về cơ quan điều hành ở cấp tỉnh; Hoặc

 

b. Đối với Chủ tịch nước, Bộ trưởng trọng yếu, nhà quản trị hoặc nhà quản trị cấp cao, nội các, Hội đồng các bộ trưởng hoặc Hội đồng điều hành của nước Cộng hòa hoặc của vùng tự trị phải được giải thích là một tham chiếu đến:

 

i. Tổng thống theo Hiến pháp mới nếu thẩm quyền theo văn bản hiện hành này đã phân giao theo quy định của Hiến pháp cũ hoặc Mục này cho cơ quan điều hành quốc gia; Hoặc

 

ii. Thủ hiến của một tỉnh theo Hiến pháp mới nếu thẩm quyền theo văn bản hiện hành đã phân công trên cơ sở quy định của Hiến pháp cũ hoặc mục này cho cơ quan điều hành cấp tỉnh.

 

Quốc hội

 

4. (1) Bất cứ cá nhân nào đã là đại biểu Quốc hội vào thời điểm Hiến pháp mới có hiệu lực thì sẽ vẫn là đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp mới và tiếp tục làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội theo quy định của Hiến pháp mới.

 

(2) Quốc hội đã được thành lập theo quy định tại tiết 1 phải được xem như được bầu theo Hiến pháp mới cho nhiệm kỳ sẽ kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1999.

 

(3) Quốc hội gồm 400 đại biểu trong suốt nhiệm kỳ sẽ kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1999 tùy thuộc vào khoản 4 Điều 49 của Hiến pháp mới.

 

(4) Các quy tắc và thủ tục của Quốc hội đang có hiệu lực khi Hiến pháp mới có hiệu lực sẽ tiếp tục có hiệu lực tùy thuộc vào việc có quy định sửa đổi hoặc hủy bỏ hay không.

 

Những công việc chưa hoàn thành của Nghị viện

 

5. (1) Bất cứ công việc nào chưa hoàn thành trước khi Quốc hội mới thành lập khi Hiến pháp mới có hiệu lực thì vẫn tiếp tục thực hiện theo quy định của Hiến pháp mới.

 

(2) Bất cứ công việc nào chưa hoàn thành trước đó của Thượng viện khi Hiến pháp mới có hiệu lực thì phải chuyển giao cho Hội đồng dân tộc các tỉnh và Hội đồng sẽ phải tiếp tục thực hiện các công việc đó theo quy định của Hiến pháp mới.

 

Bầu cử Quốc hội

 

6. (1) Không có một cuộc bầu cử Quốc hội nào được tổ chức trước ngày 30 tháng 9 năm 1999 trừ khi Quốc hội bị giải tán theo khoản 2 Điều 50 sau khi có bản kiến nghị bất tín nhiệm đối với Tổng thống theo khoản 2 Điều 102 của Hiến pháp mới.

 

(2) Khoản 1 Điều 50 của Hiến pháp mới sẽ không được thực hiện cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1999.

 

(3) Mặc dù hủy bỏ Hiến pháp trước, Mục 2 của Hiến pháp đó như đã được sửa đổi bởi phụ A của Mục này, áp dụng:

 

a. Với cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên theo Hiến pháp mới;

 

b. Đối với việc mất tư cách đại biểu Quốc hội trong những trường hợp ngoài những quy định tại khoản 3 Điều 47 Hiến pháp mới; Và

 

c. Đối việc bổ sung đại biểu Quốc hội và sự bổ sung, xem xét và sử dụng danh sách các đảng cho việc bổ sung đại biểu, cho đến cuộc bầu Quốc hội lần thứ 2 theo quy định của Hiến pháp mới.

 

(4) Khoản 4 Điều 47 của Hiến pháp mới sẽ không được thực hiện cho đến cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ hai theo Hiến pháp mới.

 

Hội đồng dân tộc các tỉnh

 

7. (1) Cho giai đoạn kết thúc ngay lập tức trước khi cuôc họp đầu tiên của cơ quan lập pháp cấp tỉnh được tổ chức sau cuộc bầu cử đầu tiên cơ quan này theo Hiến pháp mới:

 

a. Tỷ lệ đại diện của các đảng trong đoàn đại biểu của các tỉnh đến Hội đồng dân tộc các tỉnh phải tương tự như tỷ lệ 10 thượng nghị sĩ được chỉ định cho mỗi tỉnh theo quy định tại

 

Điều 48 của Hiến pháp mới.

 

b. Sự phân bổ các đại biểu thường trực và đại biểu đặc biệt cho mỗi đảng đại diện trong cơ quan lập pháp cấp tỉnh như sau:

 

Tỉnh Đại biểu thường trực Đại biểu đặc biệt

 

1. Đông Cape ANC 5

 

NP 1

 

2. Bang độc lập ANC 4 FF 1 NP 1

 

3. Tỉnh Gauteng ANC 3 DP 1 FF 1 NP 1

 

4. Tỉnh KwaZulu-Natal ANC 1

 

DP 1

 

IFP 3

 

NP 1

 

5. Tỉnh Mpumalanga ANC 4 FF 1 NP 1

 

6. Bắc Cape ANC 3 FF 1 NP 2

 

ANC 4

 

ANC 4

 

ANC 3

 

NP 1

 

ANC 2

 

IFP 2

 

ANC 4

 

ANC 2

 

NP 2

 

7. Tỉnh miền Bắc ANC 6 ANC 4

 

8. Tây Bắc ANC 4

 

FF 1

 

NP 1

 

9. Tây Cape ANC 2 DP 1

 

NP 3

 

ANC 4

 

ANC 1