Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share hiến pháp nước cộng hòa liên bang đức lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

hiến pháp nước cộng hòa liên bang đức

Lượt xem: 878 Tin đăng ngày: 23/05/1949 Bởi:

Hiến pháp nước cộng hòa liên bang Đức được ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1949, được sửa đổi vào ngày 20 tháng 12 năm 1993. Luật Cơ bản này, kể từ khi nước Đức được thống nhất và tự do, sẽ áp dụng cho toàn bộ nhân dân Đức và sẽ ngưng áp dụng vào ngày mà một bản hiến pháp tự do được thông qua bởi nhân dân Đức có hiệu lực thi hành.

HIẾN PHÁP

 

CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC, 1949

 

 

[-] Mục Lục

 

 

 

 

LUẬT CƠ BẢN

 

CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC (Được ban hành ngày 23 tháng 5 năm 1949, được sửa đổi vào ngày 20 tháng 12 năm 1993)

 

LỜI NÓI ĐẦU

 

Ý thức về trách nhiệm của mình trước Thiên Chúa và con người. Lấy cảm hứng từ sự quan tâm thúc đẩy hòa bình thế giới như một đối tác bình đẳng trong Châu Âu thống nhất, người dân Đức bằng việc thực thi quyền lực của mình đã thông qua Luật cơ bản này.

 

Người dân Đức từ các bang BadenưWürttemberg, Bavaria, Berlin,Brandenburg, Bremen, Hamburg, Hesse, Lower Saxony, Mecklenburgư Western Pomerania, Bắc RhineưWestphalia, RhinelandưPalatinate,Saarland, Saxony, SaxonyưAnhalt, SchleswigưHolstein và Thuringia đã đạt được sự thống nhất và tự do của nước Đức với quyền tự quyết. Vì vậy, Luật Cơ bản này áp dụng cho toàn bộ người dân Đức.

 

I. CÁC QUYỀN CƠ BẢN

 

Điều 1 [Nhân phẩm – nhân quyền – giá trị pháp lý của các quyền cơ bản]

 

(1) Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước.

 

(2) Nhân dân Đức do đó thừa nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là cơ sở của mọi cộng đồng, của hòa bình và công lý trên thế giới.

 

(3) Các quyền cơ bản sau đây sẽ ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp như luật có thể áp dụng trực tiếp.

 

Điều 2 [Tự do cá nhân]

 

(1) Mọi người đều có quyền phát triển nhân cách của mình tự do chừng nào người ấy không vi phạm quyền của người khác hoặc vi phạm do chống lại trật tự hiến pháp hoặc luân lý.

 

(2) Mọi người đều có quyền sống và toàn vẹn về thể chất. Tự do thân thể là bất khả xâm phạm. Những quyền này có thể bị giới hạn chỉ khi theo quy định của pháp luật.

 

Điều 3 [Bình đẳng trước pháp luật]

 

(1) Tất mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

 

(2) Nam và nữ có quyền bình đẳng. Nhà nước thúc đẩy việc thực hiện thực tế quyền bình đẳng cho phụ nữ và nam giới và thực hiện các bước để loại sự yếu thế hiện còn tồn tại.

 

(3) Không ai được ưu tiên hoặc bị kỳ thị vì giới tính, huyết thống, chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, đức tin, hoặc quan điểm tôn giáo hay chính trị. Không ai bị kỳ thị vì khuyết tật.

 

Điều 4 [Tự do tín ngưỡng và lương tâm]

 

(1) Tự do đức tin và lương tâm, tự do tuyên xưng một tôn giáo hay tư tưởng là bất khả xâm phạm.

 

(2) Việc thực hành tôn giáo không bị can thiệp được bảo đảm.

 

(3) Không ai bị bắt buộc làm trái lương tâm của mình để thực hiện nghĩa vụ quân sự liên quan đến việc sử dụng vũ khí. Nội dung chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 5 [Tự do ngôn luận]

 

(1) Mọi người đều có quyền tự do biểu đạt và phổ biến các quan điểm của mình bằng lời nói, chữ viết, hình ảnh và không bị trở ngại khi tiếp cận các nguồn thông tin có thể truy cập. Tự do báo chí và tự do truyền thông bằng các phương tiện phát sóng và phim ảnh sẽ được đảm bảo. Không có sự kiểm duyệt.

 

(2) Các quyền này có thể bị giới hạn trong các quy định của pháp luật nói chung, trong các quy định để bảo vệ trẻ em và để tôn trọng danh dự cá nhân.

 

(3) Nghệ thuật, khoa học, nghiên cứu và giảng dạy được tự do.

 

Quyền tự do giảng dạy không miễn trừ cho bất kỳ người nào khỏi việc phải trung thành với hiến pháp.

 

Điều 6 [Hôn nhân - gia đình - trẻ em]

 

(1) Hôn nhân và gia đình được sự bảo vệ đặc biệt của nhà nước.

 

(2) Việc chăm sóc và giáo dục trẻ em là quyền tự nhiên của cha mẹ và trách nhiệm vụ chủ yếu của họ. Nhà nước có trách nhiệm giám sát cha mẹ thực hiện trách nhiệm này.

 

(3) Trẻ em chỉ có thể bị tách ra khỏi gia đình chúng trái với ý muốn của cha mẹ hoặc người giám hộ theo quy định của luật, và chỉ khi cha mẹ hoặc người giám hộ không thực thi nhiệm vụ của mình hoặc đứa trẻ có nguy cơ bị bỏ bê nghiêm trọng.

 

(4) Mỗi người mẹ được hưởng sự bảo vệ và chăm sóc của cộng đồng.

 

(5) Trẻ em sinh ra ngoài hôn nhân được pháp luật quy định có cùng cơ hội phát triển thể chất và tinh thần, vị trí của chúng trong xã hội được hưởng như những em sinh ra trong hôn nhân.

 

Điều 7 [Hệ thống giáo dục]

 

(1) Toàn bộ hệ thống trường học được đặt dưới sự giám sát của nhà nước.

 

(2) Cha mẹ và người giám hộ có quyền quyết định xem liệu trẻ em có nhận được sự hướng dẫn về tôn giáo hay không.

 

(3) Hướng dẫn về tôn giáo sẽ là một phần của chương trình giảng dạy thường xuyên trong các trường học nhà nước, ngoại trừ các trường học phi giáo phái. Không làm ảnh hưởng đến quyền giám sát của nhà nước, hướng dẫn tôn giáo được thực hiện phù hợp với các nguyên lý của cộng đồng tôn giáo có liên quan. Giáo viên không bị bắt buộc thực hiện việc hướng dẫn tôn giáo nếu họ không muốn.

 

(4) Quyền thành lập các trường tư thục được bảo đảm. Trường học tư thục hoạt động như là lựa chọn thay thế cho các trường học nhà nước đòi hỏi phải có sự chấp thuận của nhà nước và phải tuân thủ luật của Bang. Sẽ được chấp thuận nếu các trường tư thục không thua kém các trường công lập về mục tiêu giáo dục, cơ sở vật chất, hoặc đội ngũ giảng viên được đào tạo chuyên nghiệp, và không khuyến khích sự phân biệt học sinh theo điều kiện của cha mẹ. Sự chấp thuận sẽ bị thu hồi lại nếu các điều kiện kinh tế và pháp lý của đội ngũ giảng viên không đảm bảo đầy đủ.

 

(5) Một trường tiểu học tư thục sẽ được chấp thuận chỉ khi cơ quan quản lý giáo dục thấy rằng nó phục vụ một lợi ích sư phạm đặc biệt, hoặc nếu, theo đề nghị của cha mẹ hoặc người giám hộ, được thành lập như là một trường theo đạo hay theo nhiều đạo, hoặc như một trường được dựa trên một triết lý riêng và không có trường tiểu học nhà nước loại hình đó tồn tại trong khu vực.

 

(6) Các trường dự bị sẽ tiếp tục bị bãi bỏ.

 

Điều 8 [Tự do hội họp]

 

(1) Tất cả người Đức có quyền hội họp hòa bình và không vũ trang mà không cần thông báo trước hoặc cho phép.

 

(2) Trong trường hợp hội họp ngoài trời, quyền này có thể được hạn chế bởi hoặc theo một đạo luật.

 

Điều 9 [Tự do lập hội]

 

(1) Tất cả người Đức có quyền thành lập các tập đoàn và hiệp hội khác.

 

(2) Hiệp hội có mục đích hoặc hoạt động trái với luật hình sự, hoặc là chống lại trật tự hiến pháp hay các giá trị được quốc tế tôn trọng, sẽ bị cấm.

 

(3) Quyền thành lập hiệp hội để bảo vệ và cải thiện điều kiện làm việc và kinh tế được bảo đảm cho mỗi cá nhân và tất cả các công việc hoặc nghề nghiệp. Các thỏa thuận hạn chế hoặc làm suy giảm quyền này là vô hiệu, các biện pháp nhắm đến đạt được mục tiêu này là bất hợp pháp. Các biện pháp thực hiện theo Điều 12a, khoản (2) và (3),Điều 35, khoản (4), Điều 87A, hoặc Điều 91 không thể trực tiếp chống lại các tranh chấp lao động tham gia bởi các hiệp hội trong phạm vi ý nghĩa của câu đầu tiên của khoản này nhằm bảo vệ và cải thiện các điều kiện kinh tế và lao động.

 

Điều 10 [Bảo mật thư tín, bưu chính và viễn thông]

 

(1) Sự riêng tư của thư tín, bưu chính và viễn thông là bất khả xâm phạm.

 

(2) Các hạn chế có thể được đưa ra chỉ khi theo quy định của luật.

 

Nếu hạn chế nhằm bảo vệ trật tự tự do dân chủ cơ bản, sự tồn tại, an ninh của Liên bang hoặc của một Bang, luật có thể quy định rằng người bị ảnh hưởng sẽ không được thông báo về sự hạn chế và quyền khởi kiện ra Toà án được thay thế bằng việc xem xét vụ việc bởi một cơ quan và cơ quan bổ trợ được cơ quan lập pháp chỉ định.

 

Điều 11 [Tự do đi lại]

 

(1) Tất cả người Đức có quyền đi lại tự do trên toàn lãnh thổ liên bang.

 

(2) Quyền này có thể được hạn chế chỉ bởi hoặc theo một đạo luật, và chỉ trong các trường hợp thiếu phương tiện hỗ trợ đầy đủ sẽ khiến tạo ra gánh nặng đặc biệt cho cộng đồng, hoặc hạn chế như vậy là cần thiết để ngăn chặn sự nguy hiểm trước mắt cho sự tồn tại hoặc trật tự tự do dân chủ cơ bản của Liên bang hoặc của một Bang, để chống lại các nguy hiểm của bệnh dịch, để đối phó với một tai nạn nghiêm trọng hoặc thiên tai, để bảo vệ trẻ em khỏi bị bỏ bê nghiêm trọng, hoặc để ngăn chặn tội phạm.

 

Điều 12 [Tự do nghề nghiệp]

 

(1) Tất cả người Đức có quyền tự do lựa chọn công việc hoặc nghề nghiệp, nơi làm việc và nơi đào tạo của họ. Việc thực hành một công việc hoặc nghề nghiệp có thể được quy định bởi hoặc theo một đạo luật.

 

(2) Không ai có thể bị buộc thực hiện một loại công việc cụ thể, ngoại trừ trong khuôn khổ một nghĩa vụ truyền thống của cộng đồng áp dụng phổ biến và bình đẳng cho tất cả mọi người.

 

(3) Lao động cưỡng bức chỉ có thể áp dụng đối với người đã bị tước tự do bởi phán quyết của tòa án.

 

Điều 12a [Nghĩa vụ quân sự bắt buộc và nghĩa vụ dân sự thay thế]

 

(1) Nam giới đến tuổi 18 có thể bị yêu cầu phục vụ trong Lực lượng vũ trang, Cảnh sát biên giới Liên bang, hoặc trong một tổ chức dân phòng.

 

(2) Bất kỳ người nào, trên cơ sở của lương tâm, từ chối làm nghĩa vụ quân sự liên quan đến sử dụng vũ khí có thể được yêu cầu thực hiện những nghĩa vụ thay thế. Thời hạn của nghĩa vụ thay thế không được vượt quá nghĩa vụ quân sự. Nội dung chi tiết được quy định bởi luật, không được can thiệp đến tự do quyết định theo mệnh lệnh của lương tâm, và cũng đề ra các khả năng về nghĩa vụ thay thế không liên quan đến các đơn vị của Lực lượng vũ trang hoặc của Cảnh sát biên giới Liên bang.

 

(3) Những người phải thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc mà không phải là người bị triệu tập thực hiện nghĩa vụ theo khoản (1) hoặc (2) điều này có thể, khi có tình trạng phòng vệ, được chỉ định bởi hoặc theo một đạo luật làm công việc liên quan đến nghĩa vụ dân sự cho các mục đích quốc phòng, bao gồm cả việc bảo vệ dân thường; họ có thể được giao làm công việc chỉ với mục đích hỗ trợ chức năng cảnh sát hoặc các chức năng khác quản lý hành chính, những công việc chỉ có thể thực hiện được bằng cách tham gia vào công vụ. Công việc nêu tại câu đầu tiên của khoản này có thể bao gồm các nghĩa vụ trong lực lượng vũ trang, việc cung cấp vật tư quân sự, hoặc với các cơ quan hành chính công; việc hỗ trợ và phục vụ dân thường sẽ chỉ được phép nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của họ hoặc để đảm bảo sự an toàn của họ.

 

(4) Nếu, trong trạng thái phòng vệ, nhu cầu về các dịch vụ dân sự trong các hệ thống y tế dân sự hoặc trong bệnh viện quân sự không thể được đáp ứng trên cơ sở tự nguyện, phụ nữ trong độ tuổi từ 18 đến 55 có thể được triệu tập để thực hiện công việc bởi hoặc theo quy định của luật. Không trường hợp nào buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ liên quan đến việc sử dụng vũ khí.

 

(5) Trước khi hiện diện trạng thái phòng vệ, yêu cầu thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của khoản (3) điều này có thể được thực hiện nếu các yêu cầu của khoản (1) của Điều 80a được đáp ứng. Để chuẩn bị cho việc thực hiện nghĩa vụ theo khoản (3) của Điều này mà đòi hỏi các kiến thức hoặc kỹ năng đặc biệt, việc phải tham gia vào các khóa đào tạo cần được yêu cầu bởi hoặc theo quy định của luật. Trong trường hợp đó, câu đầu tiên của khoản này sẽ không áp dụng.

 

(6) Nếu trong tình trạng phòng vệ, nhu cầu cần công nhân trong các khu vực quy định tại các câu thứ hai của khoản (3) Điều này không thể được đáp ứng trên cơ sở tự nguyện, quyền công dân Đức từ bỏ nghề nghiệp hoặc nơi làm việc của họ có thể bị hạn chế bởi hoặc theo một đạo luật nhằm đáp ứng nhu cầu này. Trước khi sự tồn tại của tình trạng phòng vệ, câu đầu tiên của đoạn (5) của Điều này được áp dụng với những sửa đổi thích hợp.

 

Điều 13 [Bất khả xâm phạm nhà riêng]

 

(1) Nhà riêng là bất khả xâm phạm.

 

(2) Việc khám xét chỉ có thể được phép bởi một thẩm phán, hoặc vào thời điểm cấp thiết, bởi các cơ quan khác được luật cho phép và chỉ có thể được thực hiện theo cách thức luật đó quy định.

 

(3) Nếu các dữ kiện cụ thể củng cố nghi ngờ rằng một người nào nào đó đã phạm một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được một luật quy định cụ thể, các phương tiện kỹ thuật giám sát âm thanh ngôi nhà mà nghi can đang ở có thể được sử dụng theo quyết định của cơ quan tư pháp với mục đích truy tố hành vi phạm tội, với điều kiện các phương pháp điều tra thay thế khác là quá mức khó khăn hoặc không hiệu quả. Quyết định cho phép phải có thời hạn. Quyết định được đưa ra bởi một hội đồng gồm 3 Thẩm phán. Khi thời gian gấp rút, nó cũng có thể do một thẩm phán đưa ra.

 

(4) Để ngăn chặn mối nguy hiểm cho an toàn công cộng, đặc biệt là nguy hiểm đến tính mạng hoặc đối với công chúng, các phương tiện kỹ thuật giám sát nhà riêng có thể được sử dụng theo quyết định của cơ quan tư pháp. Khi thời gian gấp rút, các biện pháp như vậy cũng có thể được quyết định bởi các cơ quan khác được luật cho phép, quyết định của cơ quan tư pháp được đưa ra sau đó một cách nhanh chóng.

 

(5) Nếu phương tiện kỹ thuật đã được dự tính chỉ nhằm bảo vệ người chính thức ở trong một ngôi nhà, biện pháp này có thể được quyết định bởi một cơ quan được luật định. Các thông tin thu được qua đó có thể sử dụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để tránh nguy hiểm, chỉ khi tính hợp pháp của biện pháp này đã được xác định bởi một thẩm phán; khi thời gian gấp rút, quyết định của cơ quan tư pháp được đưa ra sau đó một cách nhanh chóng.

 

(6) Chính phủ Liên bang có trách nhiệm báo cáo Hạ viện hàng năm về việc sử dụng kỹ thuật phù hợp với khoản (3) trong phạm vi thẩm quyền của Liên bang, phù hợp với khoản (4) và, trong chừng mực quyết định tư pháp là cần thiết, phù hợp với khoản (5) của Điều này. Một ủy ban do Hạ viện bầu ra sẽ thực hiện sự kiểm soát của quốc hội trên cơ sở báo cáo này. Một sự kiểm soát của quốc hội tương tự sẽ được thực hiện ở cấp Bang.

 

(7) Các can thiệp và hạn chế khác chỉ được cho phép để ngăn chặn một nguy hiểm cho công chúng hoặc cho tính mạng của một cá nhân, hoặc theo quy định của một đạo luật, để đối phó với nguy hiểm đe dọa an toàn và trật tự công cộng, đặc biệt là để giảm bớt tình trạng thiếu hụt nhà ở, chống lại sự nguy hiểm của dịch bệnh, hoặc để bảo vệ những trẻ em bị đe dọa.

 

Điều 14 [Tài sản - thừa kế - tước quyền sở hữu]

 

(1) Tài sản và quyền thừa kế được đảm bảo. Nội dung và giới hạn của chúng được các luật quy định.

 

(2) Tài sản đi kèm với các nghĩa vụ. Việc sử dụng nó cũng nhằm phục vụ lợi ích chung.

 

(3) Việc tịch thu tài sản chỉ được phép thực hiện vì lợi ích chung. Điều đó chỉ có thể được quyết định bởi hoặc theo một đạo luật xác định tính chất và mức độ bồi thường. Sự bồi thường này được xác định bằng việc tạo lập một sự cân bằng giữa lợi ích công cộng và lợi ích của người bị ảnh hưởng. Trong trường hợp tranh chấp phát sinh liên quan đến bồi thường, việc truy đòi có thể đưa ra các tòa án bình thường.

 

Điều 15 [Xã hội hóa]

 

Đất đai, tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất vì mục đích xã hội hoá có thể được chuyển sang sở hữu nhà nước hoặc các hình thức doanh nghiệp nhà nước bởi một đạo luật xác định tính chất và mức độ bồi thường. Liên quan đến sự bồi thường đó, câu thứ ba và thứ tư của khoản (3) của Điều 14 sẽ được áp dụng với những sửa đổi thích hợp.

 

Điều 16 [Quốc tịch - dẫn độ]

 

(1) Không người Đức nào có thể bị tước tư cách công dân của mình. Quốc tịch chỉ có thể bị mất theo một đạo luật và trái với ý muốn của người bị ảnh hưởng chỉ khi việc đó không khiến người đó trở thành người không quốc tịch.

 

(2) Người Đức có thể bị dẫn độ tới một quốc gia nước ngoài. Luật có thể quy định khác về dẫn độ đến một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu hoặc một tòa án quốc tế, với điều kiện nguyên tắc pháp quyền được tôn trọng.

 

Điều 16a [Quyền tị nạn]

 

(1) Những người bị bức hại vì lý do chính trị sẽ có quyền tị nạn.

 

(2) Khoản (1) của Điều này không thể được viện dẫn bởi một người đi vào lãnh thổ liên bang từ một quốc gia thành viên của Cộng đồng châu Âu hoặc từ một nước thứ ba khác mà việc áp dụng Công ước liên quan đến địa vị của người tị nạn và Công ước về bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản được bảo đảm. Các quốc gia ngoài Cộng đồng Châu Âu mà áp dụng các tiêu chí của câu đầu tiên của khoản này sẽ được quy định chi tiết bởi một đạo luật có sự chấp thuận của Thượng viện. Trong các trường hợp quy định trong câu đầu tiên của khoản này, các biện pháp để chấm dứt sự lưu trú của người nộp đơn có thể được thực hiện mà không cần quan tâm đến bất kỳ thách thức pháp lý nào có thể đã được lập chống lại họ.

 

(3) Bằng một đạo luật có sự chấp thuận của Thượng viện, các quốc gia có thể quy định cụ thể trong đó trên cơ sở của luật, thực tiễn thi hành các điều kiện chính trị nói chung, có thể kết luận rằng không có sự đàn áp chính trị hay trừng phạt hoặc đối xử vô nhân đạo hoặc hạ nhục. Người nước ngoài từ quốc gia như vậy được coi là không bị đàn áp, trừ khi anh ta đưa ra bằng chứng chứng minh kết luận, trái với giả định này, là người đó đã bị bức hại vì lý do chính trị.

 

(4) Trong các quy định bởi khoản (3) Điều này và trong các trường hợp khác rõ ràng là vô căn cứ hoặc không có cơ sở, việc thực hiện các biện pháp chấm dứt sự lưu trú của người xin tỵ nạn có thể được đình chỉ do tòa án chỉ khi có sự nghi ngờ thực sự về tính hợp pháp; phạm vi xem xét có thể được hạn chế và các phản đối chậm trễ có thể được bỏ qua. Các chi tiết được xác định theo quy định của luật.

 

(5) Khoản (1) đến khoản (4) của Điều này không loại trừ việc ký kết các thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia thành viên Cộng đồng Châu Âu với nhau hoặc với những quốc gia thứ ba, có sự quan tâm đến các nghĩa vụ phát sinh từ Công ước liên quan địa vị của người tị nạn và Công ước bảo vệ nhân quyền và tự do cơ bản, việc thi hành các công ước này phải được đảm bảo tại các quốc gia ký kết thỏa thuận, thông qua các quy tắc trao thẩm quyền quyết định về đơn xin tị nạn, bao gồm việc công nhận có đi có lại các quyết định tị nạn.

 

Điều 17 [Quyền khởi kiện]

 

Mọi người đều có quyền, cá nhân mình hoặc cùng với những người khác, gửi văn bản đề nghị hoặc khiếu nại đến cấp có thẩm quyền và cơ quan lập pháp.

 

Điều 17a [Hạn chế quyền cơ bản trong các trường hợp cụ thể]

 

(1) Các luật liên quan đến nghĩa vụ quân sự và nghĩa vụ thay thế có thể quy định rằng các quyền cơ bản của các thành viên lực lượng vũ trang và nghĩa vụ thay thế tự do biểu đạt và phổ biến ý kiến của mình bằng lời nói, chữ viết và hình ảnh (đoạn thứ nhất khoản (1) Điều 5), quyền hội họp (Điều 8) và quyền khởi kiện (Điều 17) liên quan đến việc nộp yêu cầu hoặc khiếu nại tập thể bị hạn chế trong thời kỳ tham gia nghĩa vụ quân sự hoặc nghĩa vụ thay thế.

 

(2) Các luật liên quan đến quốc phòng, bao gồm cả việc bảo vệ dân thường, có thể quy định việc hạn chế các quyền cơ bản về tự do đi lại (Điều 11) và bất khả xâm phạm của nhà riêng (Điều 13).

 

Điều 18 [Tước quyền cơ bản]

 

Bất cứ người nào lạm dụng quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí (khoản (1) Điều 5), tự do giảng dạy (khoản (3) Điều 5), tự do hội họp (Điều 8), tự do lập hội (Điều 9), bí mật thư tín, bưu chính và viễn thông (Điều 10), quyền tài sản (Điều 14) hoặc quyền tị nạn (Điều 16a) để chống lại trật tự tự do dân chủ sẽ bị tước những quyền cơ bản.

 

Việc tước quyền này và mức độ của nó được phán quyết bởi Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

Điều 19 [Hạn chế các quyền cơ bản – các cơ chế pháp lý]

 

(1) Theo quy định của Luật cơ bản này, một quyền cơ bản có thể bị hạn chế bởi hoặc theo một đạo luật, luật đó phải áp dụng phổ biến và không chỉ đối với một trường hợp duy nhất. Ngoài ra, luật phải xác định các quyền cơ bản bị ảnh hưởng và điều luật quy định nó.

 

(2) Không khi nào mà bản chất của một quyền cơ bản có thể bị ảnh hưởng.

 

(3) Các quyền cơ bản cũng được áp dụng đối với các pháp nhân trong nước trong phạm vi bản chất của quyền cho phép điều đó.

 

(4) Nếu quyền của bất kỳ người nào bị vi phạm bởi cơ quan công quyền, người đó có thể nhờ tòa án bảo vệ. Nếu không có cơ chế pháp lý nào khác đã được thiết lập, vụ việc được đưa ra các tòa án bình thường. Câu thứ hai của khoản (2) Điều 10 sẽ không bị ảnh hưởng bởi khoản này.

 

II. LIÊN BANG VÀ CÁC TIỂU BANG

 

Điều 20 [Những nguyên tắc hiến định - bảo vệ trật tự hiến pháp]

 

(1) Cộng hòa Liên bang Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và xã hội.

 

(2) Mọi quyền lực của các cơ quan nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Quyền lực đó được thực hiện bởi nhân dân thông qua bầu cử, việc bỏ phiếu và thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cụ thể.

 

(3) Cơ quan lập pháp sẽ bị ràng buộc bởi trật tự hiến pháp, hành pháp và tư pháp theo quy định của pháp luật và công lý.

 

(4) Tất cả người Đức có quyền chống lại bất kỳ kẻ nào tìm cách xóa bỏ trật tự hiến pháp này, nếu không còn biện pháp khắc phục khác.

 

Điều 20a [Bảo vệ các nền tảng tự nhiên của sự sống và các động vật]

 

Với ý thức về trách nhiệm của mình đối với thế hệ tương lai, nhà nước có trách nhiệm bảo vệ các nền tảng tự nhiên của sự sống và các loài động vật bằng lập pháp, theo quy định của pháp luật và công lý, bằng hoạt động của các cơ quan hành chính và tư pháp trong khuôn khổ của trật tự hiến pháp.

 

Điều 21 [Đảng phái chính trị]

 

(1) Các đảng chính trị tham gia vào sự hình thành của ý chí chính trị của nhân dân. Chúng được tự do thành lập. Tổ chức nội bộ của các đảng phải phù hợp với nguyên tắc dân chủ. Các đảng chính trị phải chịu trách nhiệm công khai về tài sản, các nguồn lực và việc sử dụng các quỹ của mình.

 

(2) Các đảng chính trị, do các mục tiêu hoặc hành vi của thành viên, tìm cách làm suy yếu hoặc xóa bỏ trật tự tự do dân chủ hoặc gây nguy hiểm cho sự tồn tại của Cộng hòa Liên bang Đức là không hợp hiến. Tòa án Hiến pháp Liên bang phán quyết về vấn đề không hợp hiến.

 

(3) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 22 [Thủ đô - quốc kỳ]

 

(1) Berlin là thủ đô của Cộng hòa Liên bang Đức. Liên bang chịu trách nhiệm đại diện cho toàn bộ quốc gia tại thủ đô. Các chi tiết sẽ được luật liên bang quy định.

 

(2) Lá cờ liên bang sẽ có màu đen, đỏ và vàng.

 

Điều 23 [Liên minh châu Âu]

 

(1) Để thiết lập một châu Âu thống nhất, Cộng hòa Liên bang Đức sẽ tham gia vào sự phát triển của Liên minh châu Âu, tuân thủ các nguyên tắc dân chủ, xã hội, và liên bang, nguyên tắc pháp quyền, nguyên tắc tương hỗ, và đảm bảo một mức độ bảo vệ các quyền cơ bản tương đương với quy định của Luật cơ bản này. Vì mục tiêu này, Liên bang có thể chuyển giao các quyền chủ quyền bằng một đạo luật với sự đồng ý của Thượng viện. Việc thành lập Liên minh châu Âu, cũng như những thay đổi trong điều ước quốc tế và các quy định tương tự sửa đổi hoặc bổ sung Luật cơ bản này, hoặc sửa đổi, bổ sung nếu có phải tuân thủ khoản (2) và (3) của Điều 79. (1a) Hạ viện và Thượng viện có quyền khởi kiện ra trước Tòa án Công lý Liên minh châu Âu để khiếu nại về quyết định lập pháp của Liên minh đã vi phạm nguyên tắc tương hỗ. Hạ viện có nghĩa vụ thực hiện việc khiếu kiện đó khi có yêu cầu của 1/4 thành viên. Bằng một đạo luật cần có sự đồng ý của Thượng viện, các ngoại lệ đối với câu đầu tiên của khoản (2) Điều 42 và câu đầu tiên của khoản (2) Điều 52, có thể được ủy quyền để thực hiện các quyền trao cho Hạ viện và Thượng viện theo các thỏa thuận làm cơ sở thiết lập Liên minh châu Âu.

 

(2) Hạ viện và, thông qua Thượng viện, các Bang sẽ tham gia các vấn đề liên quan đến Liên minh châu Âu. Chính phủ Liên bang sẽ thông tin cho Hạ viện và Thượng viện một cách toàn diện và sớm nhất có thể.

 

(3) Trước khi tham gia vào các quyết định lập pháp của Liên minh châu Âu, Chính phủ Liên bang sẽ tạo điều kiện để Hạ viện nêu rõ quan điểm của mình. Chính phủ Liên bang sẽ cân nhắc quan điểm Hạ viện trong quá trình đàm phán. Các chi tiết được quy định bởi luật.

 

(4) Thượng viện sẽ tham gia vào quá trình ra quyết định của Liên bang khi nó có khả năng tham gia tương tự như một vấn đề trong nước, hoặc trong khi vấn đề nằm trong thẩm quyền trong nước của các Bang.

 

(5) Trong một lĩnh vực thuộc thẩm quyền tuyệt đối của Liên bang, lợi ích của các Bang bị ảnh hưởng, và trong các vấn đề khác, trong chừng mực Liên bang có quyền lập pháp, Chính phủ Liên bang sẽ xem xét quan điểm của Thượng viện. Khi quyền lập pháp của các Bang, cấu trúc của các cơ quan thuộc Bang, hoặc thủ tục hành chính Bang bị ảnh hưởng, quan điểm của Thượng viện sẽ được tôn trọng nhiều nhất có thể khi xác định quan điểm của Liên bang phù hợp với các trách nhiệm của Liên bang cho cả quốc gia. Liên quan đến các vấn đề có thể dẫn đến tăng chi phí hoặc giảm doanh thu cho Liên bang, cần phải được sự đồng ý của Chính phủ Liên bang.

 

(6) Khi thẩm quyền lập pháp tuyệt đối thuộc về Bang liên quan đến các vấn đề trường học, văn hóa hay phát sóng bị ảnh hưởng lớn, việc thực hiện các quyền thuộc Cộng hòa Liên bang Đức với tư cách một quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu sẽ được giao bởi Liên bang cho một đại diện của Bang được chỉ định bởi Thượng viện. Những quyền này được thực hiện với sự tham gia và đồng thuận của Chính phủ Liên bang; việc thực thi chúng phải phù hợp với trách nhiệm của Liên bang đối với cả quốc gia.

 

(7) Chi tiết liên quan đến các khoản (4) đến (6) điều này được quy định bởi một đạo luật có sự đồng ý của Thượng viện.

 

Điều 24 [Chuyển giao quyền chủ quyền – hệ thống an ninh tập thể]

 

(1) Liên bang, theo quy định của một đạo luật, có thể chuyển giao quyền chủ quyền cho các tổ chức quốc tế. (1a) Trong phạm vi các Bang có thẩm quyền và chức năng nhà nước, chúng có thể, với sự đồng ý của Chính phủ Liên bang, chuyển giao các quyền chủ quyền cho các tổ chức quốc tế ở các khu vực lân cận.

 

(2) Nhằm duy trì hòa bình, Liên bang có thể gia nhập vào một hệ thống an ninh tương hỗ tập thể, khi làm như vậy, nó sẽ chấp nhận những giới hạn đối với quyền chủ quyền để đạt được và bảo đảm một nền hòa bình lâu dài ở châu Âu và giữa các quốc gia trên thế giới.

 

(3) Đối với việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia, Liên bang sẽ gia nhập các hiệp định quy định về trọng tài quốc tế chung, toàn diện và có tính bắt buộc.

 

Điều 25 [Ưu thế của luật quốc tế]

 

Các quy tắc chung của luật quốc tế sẽ là một phần không thể tách rời của luật liên bang. Chúng sẽ được ưu tiên hơn các luật và trực tiếp tạo ra các quyền và nghĩa vụ cho dân cư trên lãnh thổ liên bang.

 

Điều 26 [Bảo đảm hoà bình quốc tế]

 

(1) Các hành vi dự tính và thực hiện với ý định phá hoại các mối quan hệ hòa bình giữa các quốc gia, đặc biệt là để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh xâm lược, sẽ là không hợp hiến. Chúng bị coi là tội phạm hình sự.

 

(2) Vũ khí được thiết kế cho chiến tranh chỉ có thể được sản xuất, vận chuyển, hoặc bán trên thị trường khi có sự cho phép của Chính phủ Liên bang. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 27 [Đội tàu buôn]

 

Tất cả các tàu buôn của Đức cấu thành một đội tàu buôn nhất.

 

Điều 28 [Hiến pháp Bang – Tự quản địa phương]

 

(1) Trật tự hiến pháp tại các Bang phải phù hợp với các nguyên tắc của nhà nước cộng hòa dân chủ và xã hội, theo nguyên tắc pháp quyền, trong phạm vi nội dung của Luật cơ bản này. Tại mỗi Bang, quận hạt và thành phố, người dân được đại diện bởi một cơ quan được lựa chọn từ cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Tại các cuộc bầu cử quận hạt và thành phố, người có quốc tịch của bất kỳ quốc gia thành viên nào của Cộng đồng châu Âu cũng đủ điều kiện bỏ phiếu và được bầu phù hợp với luật Cộng đồng châu Âu. Tại các thành phố, một hội đồng địa phương có thể thay thế vị trí của cơ quan dân cử.

 

(2) Các thành phố phải được bảo đảm quyền quy định tất cả các công việc của địa phương về trách nhiệm của mình, trong giới hạn theo quy định của luật. Trong phạm vi chức năng của mình được luật định, các hiệp hội thành phố cũng sẽ có quyền tự trị phù hợp với pháp luật. Việc bảo đảm quyền tự chủ được mở rộng trên cơ sở tự chủ tài chính; cơ sở này bao gồm quyền của thành phố đối với nguồn thu thuế dựa trên khả năng kinh tế và quyền thiết lập tỷ lệ đánh thuế các nguồn này.

 

(3) Liên bang có trách nhiệm đảm bảo rằng trật tự hiến pháp của các Bang phù hợp với các quyền cơ bản và các quy định của khoản (1) và (2) của Điều này.

 

Điều 29 [Phân định lại lãnh thổ Liên bang]

 

(1) Việc phân chia lãnh thổ liên bang thành các Bang có thể được điều chỉnh lại để đảm bảo rằng mỗi Bang có kích thước và khả năng thực hiện các chức năng của mình một cách hiệu quả. Sự quan tâm thích đáng sẽ dành cho các mối liên hệ khu vực, lịch sử, văn hóa, hiệu quả kinh tế, các yêu cầu quy hoạch địa phương và khu vực.

 

(2) Việc điều chỉnh hiện trạng phân chia thành các Bang được thực hiện bởi một đạo luật liên bang, phải được xác nhận bằng cách trưng cầu dân ý. Các Bang bị ảnh hưởng có quyền trình bày quan điểm.

 

(3) Trưng cầu dân ý được tổ chức tại các Bang mà từ đó lãnh thổ hoặc bộ phận lãnh thổ một Bang mới hoặc Bang được xác định lại ranh giới được thành lập (Bang bị ảnh hưởng). Vấn đề được bỏ phiếu là liệu Bang bị ảnh hưởng sẽ duy trì như hiện trạng hay nên thành lập Bang mới hoặc xác định lại ranh giới Bang. Đề xuất thành lập một Bang mới hoặc xác định lại ranh giới Bang sẽ có hiệu lực nếu việc điều chỉnh được chấp thuận bởi đa số dân cư tại lãnh thổ tương lai của Bang đó và đa số tại vùng lãnh thổ hoặc bộ phận của lãnh thổ của Bang bị ảnh hưởng. Đề xuất sẽ không có hiệu lực nếu trong phạm vi lãnh thổ của Bang bị ảnh hưởng đa số từ chối việc thay đổi; tuy nhiên, sự từ chối như vậy sẽ không có giá trị nếu tại bất kỳ phần nào của lãnh thổ có liên kết với Bang bị ảnh hưởng được thay đổi bởi đa số 2/3 chấp thuận sự thay đổi, trừ khi nó bị từ chối bởi đa số 2/3 lãnh thổ của Bang bị ảnh hưởng như một chỉnh thể.

 

(4) Nếu tại bất kỳ khu vực dân cư và kinh tế xác định rõ ràng và tiếp giáp nhau nằm trong hai hoặc nhiều Bang và có ít nhất một triệu dân, mà 1/10 của số người đó có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Hạ viện, kiến nghị gộp khu vực đó vào một Bang, một luật liên bang quy định chi tiết trong vòng 2 năm về việc có thực hiện thay đổi theo quy định của khoản (2) Điều này hoặc tổ chức trưng cầu dân ý tại Bang bị ảnh hưởng.

 

(5) Việc trưng cầu tư vấn sẽ xác lập việc liệu những thay đổi mà luật đề xuất có được sự chấp thuận của các cử tri. Luật không thể đưa ra nhiều hơn hai đề xuất để để lấy ý kiến cử tri. Nếu đa số chấp thuận một đề xuất thay đổi việc phân chia các Bang hiện tại, một luật liên bang quy định chi tiết trong vòng 2 năm việc liệu có thực hiện thay đổi theo khoản (2) của Điều này hay không. Nếu đề nghị được chấp thuận phù hợp với câu thứ ba và thứ tư của khoản (3) Điều này, một luật liên bang quy định thành lập Bang được đề nghị sẽ được ban hành trong vòng 2 năm sau khi bỏ phiếu trưng cầu và sẽ không cần sự xác nhận bằng cách trưng cầu dân ý.

 

(6) Đa số trong một cuộc trưng cầu dân ý hoặc trong một cuộc trưng cầu tư vấn sẽ bao gồm phần lớn số phiếu bầu, với điều kiện tối thiểu là 1/4 số người có quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Hạ viện. Các chi tiết khác liên quan đến trưng cầu dân ý, kiến nghị và trưng cầu tư vấn được quy định bởi luật liên bang, trong đó cũng có thể quy định rằng cùng một kiến nghị không thể nộp nhiều hơn một lần trong khoảng thời hạn 5 năm.

 

(7) Các thay đổi khác liên quan lãnh thổ của các Bang có thể được thực hiện bởi các thỏa thuận giữa các Bang có liên quan hoặc bằng một đạo luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện, nếu lãnh thổ bị thay đổi có hơn 50.000 cư dân. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện và đa số thành viên Hạ viện. Luật phải quy định cho thành phố và các quận bị ảnh hưởng cơ hội trình bày quan điểm.

 

(8) Các Bang có thể thay đổi việc phân chia lãnh thổ hiện hoặc các bộ phận lãnh thổ của họ theo thỏa thuận mà không có liên quan đến các quy định của khoản (2) đến khoản (7) Điều này. Thành phố và các quận bị ảnh hưởng có cơ hội để trình bày quan điểm. Thỏa thuận cần được xác nhận bằng cách trưng cầu dân ý ở mỗi Bang liên quan. Nếu sửa đổi chỉ ảnh hưởng đến một phần của lãnh thổ Bang, trưng cầu dân ý có thể được giới hạn ở các khu vực bị ảnh hưởng; đoạn 2 của câu thứ năm không được áp dụng. Trong một cuộc trưng cầu theo quy định của khoản này, đa số phiếu bầu sẽ có giá trị quyết định, với điều kiện có tối thiểu 1/4 số người được quyền bỏ phiếu trong cuộc bầu cử Hạ viện; các chi tiết được quy định bởi luật liên bang. Thỏa thuận cần có sự đồng ý của Hạ viện.

 

Điều 30 [Quyền chủ quyền của các Bang]

 

Trừ khi có quy định khác hoặc cho phép bởi Luật cơ bản này, việc thực hiện quyền lực và các chức năng nhà nước là một vấn đề thuộc về các Bang.

 

Điều 31 [Tính tối cao của luật liên bang]

 

Luật liên bang sẽ được ưu tiên hơn luật các Bang.

 

Điều 32 [Quan hệ đối ngoại]

 

(1) Mối quan hệ với các quốc gia nước ngoài được thực hiện bởi Liên bang.

 

(2) Trước khi thỏa thuận một hiệp ước ảnh hưởng đến các điều kiện cụ thể của một Bang, Bang đó sẽ được tham vấn kịp thời.

 

(3) Trong phạm vi lĩnh vực mà các Bang có quyền lập pháp, chúng có thể ký kết các điều ước quốc tế với nước ngoài với sự đồng ý của Chính phủ Liên bang.

 

Điều 33 [Bình đẳng công dân – công vụ]

 

(1) Người Đức tại tất cả các Bang có các quyền và nghĩa vụ chính trị như nhau.

 

(2) Mỗi người Đức được bình đẳng về điều kiện tham gia vào bất kỳ cơ quan nhà nước nào theo năng lực, trình độ và thành tích chuyên môn của mình.

 

(3) Việc hưởng quyền dân sự và chính trị, hay điều kiện tham gia vào cơ quan quản lý nhà nước không phụ thuộc vào tôn giáo. Không ai phải chịu thiệt thòi vì lý do tuân thủ hoặc không tuân thủ một tôn giáo hoặc tư tưởng triết học nào.

 

(4) Việc thực hiện quyền chủ quyền một cách thường xuyên, như một quy luật, được trao cho các thành viên cơ quan nhà nước, những người công tác nhằm phục vụ và có sự tận tụy như luật định.

 

(5) Luật điều chỉnh các dịch vụ công cộng được quy định và phát triển với sự quan tâm đầy đủ các nguyên tắc truyền thống của hành chính công chuyên nghiệp.

 

Điều 34 [Trách nhiệm do vi phạm công vụ]

 

Nếu bất kỳ người nào, khi thực thi công quyền, vi phạm công vụ đối với một bên thứ ba, trách nhiệm sẽ chủ yếu thuộc về nhà nước hoặc các cơ quan nhà nước quản lý anh ta. Trong trường hợp hành vi sai trái cố ý hoặc cẩu thả, quyền truy đòi đối với cá nhân viên chức đó được bảo lưu. Các tòa án thường không được từ chối các yêu cầu bồi thường hoặc đền bù.

 

Điều 35 [Trợ giúp pháp lý và hành chính, trợ giúp trong thảm họa]

 

(1) Tất cả các cơ quan Liên bang và Bang có trách nhiệm hỗ trợ pháp lý và hành chính với nhau.

 

(2) Để duy trì hoặc khôi phục lại an ninh, trật tự công cộng, một Bang trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có thể kêu gọi nhân lực và các cơ sở của Cảnh sát biên giới Liên bang để hỗ trợ cảnh sát Bang khi không có sự hỗ trợ như vậy, cảnh sát không thể thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, hoặc gặp khó khăn rất lớn. Để đối phó một tai nạn hoặc một thảm họa tự nhiên nghiêm trọng, Bang có thể kêu gọi sự hỗ trợ của lực lượng cảnh sát của các Bang khác hoặc của nhân lực và các cơ sở từ các cơ quan hành chính khác, từ các lực lượng vũ trang, hoặc từ Cảnh sát biên giới Liên bang.

 

(3) Nếu thiên tai hoặc tai nạn đe dọa lãnh thổ của nhiều Bang,Chính phủ liên bang, trong chừng mực cần thiết chống lại các nguy hiểm, có thể hướng dẫn các chính quyền Bang cho phép lực lượng cảnh sát thuộc quyền sử dụng của Bang khác, và có thể triển khai các đơn vị Cảnh sát biên giới Liên bang hoặc các lực lượng vũ trang để hỗ trợ cảnh sát. Các biện pháp được thực hiện bởi Chính phủ Liên bang theo câu đầu tiên của đoạn này sẽ được huỷ bỏ bất cứ lúc nào theo yêu cầu của Thượng viện và ngay khi sự nguy hiểm không còn tồn tại.

 

Điều 36 [Nhân sự chính quyền liên bang]

 

(1) Công chức làm việc cho chính quyền liên bang ở cấp cao nhất được tuyển từ tất cả các Bang theo tỷ lệ thích hợp. Những người làm việc tại các cơ quan khác của liên bang, như một quy luật, được tuyển từ Bang mà họ phục vụ.

 

(2) Luật pháp liên quan đến nghĩa vụ quân sự cũng sẽ xem xét đến việc phân chia Liên bang thành các Bang và tính địa phương của người dân.

 

Điều 37 [Hành chính liên bang]

 

(1) Nếu một Bang không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật cơ bản này hoặc các luật liên bang khác, Chính phủ Liên bang, với sự đồng ý của Thượng viện, có thể thực hiện các bước cần thiết để buộc Bang thực hiện đúng theo nghĩa vụ của mình.

 

(2) Với mục đích thực hiện các biện pháp cưỡng chế đó, Chính phủ Liên bang hoặc đại diện của nó có quyền ban hành các hướng dẫn đến tất cả các Bang và các cơ quan của nó.

 

III. HẠ VIỆN (BUNDESTAG)

 

Điều 38 [Bầu cử]

 

(1) Thành viên của Hạ viện Đức (Bundestag) được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Họ đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình.

 

(2) Mọi người đã đến tuổi 18 sẽ được quyền bỏ phiếu, người nào đã đạt tuổi trưởng thành đều được bầu.

 

(3) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 39 [Nhiệm kỳ - Triệu tập]

 

(1) Hạ viện được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ viện mới được triệu tập. Cuộc bầu cử mới được tổ chức không sớm hơn 46 tháng và không muộn hơn 48 tháng sau khi thời hạn bầu cử bắt đầu. Nếu Hạ viện bị giải thể, cuộc bầu cử mới được tổ chức trong vòng 60 ngày.

 

(2) Hạ viện sẽ triệu tập chậm nhất là ngày thứ 30 sau ngày tổ chức bầu cử.

 

(3) Hạ viện xác định thời điểm hoãn và tiếp tục các phiên họp. Chủ tịch Hạ viện có thể triệu tập vào ngày sớm hơn. Chủ tịch có nghĩa vụ triệu tập khi 1/3 thành viên Hạ viện, Tổng thống Liên bang hoặc Thủ tướng Liên bang có yêu cầu.

 

Điều 40 [Chủ tịch - Quy tắc thủ tục]

 

(1) Hạ viện sẽ bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký. Hạ viện thông qua các quy tắc về thủ tục.

 

(2) Chủ tịch Hạ viện thực thi toàn quyền quản lý và bảo vệ trong tòa nhà Hạ viện. Không được khám xét hoặc thu giữ tại các cơ sở của Hạ viện khi chưa có sự cho phép của Chủ tịch.

 

Điều 41 [Giám sát các cuộc bầu cử]

 

(1) Việc giám sát các cuộc bầu cử là trách nhiệm của Hạ viện. Hạ viện cũng quyết định việc một thành viên phải rời vị trí của mình.

 

(2) Các khiếu nại chống lại quyết định như vậy của Hạ viện có thể được nộp cho Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

(3) Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang.

 

Điều 42 [Họp công khai – quyết định đa số]

 

(1) Các kỳ họp của Hạ viện tổ chức công khai. Theo đề nghị của 1/10 thành viên Hạ viện hoặc theo đề nghị của Chính phủ Liên bang, với quyết định của đa số 2/3 thành viên Hạ viện, người dân sẽ không được phép tham dự. Đề nghị đó được biểu quyết tại một phiên họp kín.

 

(2) Các quyết định của Hạ viện cần được đa số phiếu ủng hộ, trừ khi Luật cơ bản này có quy định khác. Các quy tắc thủ tục có thể cho phép ngoại lệ đối với các cuộc bầu cử tiến hành bởi Hạ viện.

 

(3) Các báo cáo trung thực về phiên họp công khai của Hạ viện và các ủy ban của nó không làm phát sinh bất kỳ trách nhiệm nào.

 

Điều 43 [Quyền yêu cầu có mặt, quyền tiếp cận và quyền trình bày]

 

(1) Hạ viện và các ủy ban của nó có thể yêu cầu sự hiện diện của bất kỳ thành viên nào của Chính phủ Liên bang.

 

(2) Các thành viên của Thượng viện và của Chính phủ Liên bang cũng như các đại diện của họ có thể tham dự tất cả các phiên họp của Hạ viện và các phiên họp của ủy ban Hạ viện. Họ có quyền trình bày vào bất kỳ lúc nào.

 

Điều 44 [Ủy ban điều tra]

 

(1) Hạ viện sẽ có quyền, theo đề nghị của 1/4 thành viên, thiết lập một ủy ban điều tra, cơ quan này thực hiện việc thu thập bằng chứng cần thiết tại các buổi điều trần công khai. Công chúng có thể không được tham dự.

 

(2) Các quy tắc tố tụng hình sự được áp dụng với những sửa đổi thích hợp để thu thập bằng chứng. Bí mật thư tín và liên lạc không bị ảnh hưởng.

 

(3) Toà án và các cơ quan hành chính được yêu cầu phải cung cấp trợ giúp pháp lý và hành chính.

 

(4) Các quyết định của ủy ban điều tra không bị xem xét lại theo thủ tục tư pháp. Các tòa án sẽ được tự do đánh giá và phán quyết dựa trên các dữ kiện là đối tượng của cuộc điều tra.

 

Điều 45 [Ủy ban về Liên minh châu Âu]

 

Hạ viện chỉ định một Ủy ban về Liên minh châu Âu. Nó có thể ủy quyền cho Ủy ban này thực hiện các quyền của Hạ viện theo Điều 23 cùng với Chính phủ Liên bang. Nó cũng có thể trao cho Ủy ban các quyền được trao cho Hạ viện theo các thỏa ước với Liên minh châu Âu.

 

Điều 45a [Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng]

 

(1) Hạ viện chỉ định một Ủy ban Đối ngoại và một Ủy ban Quốc phòng.

 

(2) Ủy ban Quốc phòng cũng có quyền hạn của một ủy ban điều tra. Theo đề nghị của 1/4 thành viên của mình, Ủy ban có trách nhiệm điều tra một vấn đề cụ thể.

 

(3) Khoản (1) Điều 44 không áp dụng đối với các vấn đề quốc phòng.

 

Điều 45b [Ủy viên Quốc hội về lực lượng vũ trang]

 

Một Ủy viên Quốc hội về lực lượng vũ trang sẽ được chỉ định để bảo đảm các quyền cơ bản và để hỗ trợ Hạ viện trong việc thực hiện kiểm soát quốc hội đối với các lực lượng vũ trang. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang.

 

Điều 45c [Ủy ban Dân nguyện]

 

(1) Hạ viện chỉ định một Ủy ban Dân nguyện để thụ lý các yêu cầu và khiếu nại gửi đến Hạ viện theo Điều 17.

 

(2) Quyền hạn xem xét khiếu nại của Ủy ban được quy định bởi một đạo luật liên bang.

 

Điều 46 [Miễn trách nhiệm của thành viên]

 

(1) Thành viên Hạ viện không thể bị truy cứu trước tòa án, phải chịu biện pháp kỷ luật hay phải chịu trách nhiệm ngoài Hạ viện về lý do bỏ phiếu, trình bày hay tranh luận tại Hạ viện hoặc tại bất kỳ ủy ban nào của Hạ viện. Quy định này không áp dụng đối với những lời lăng mạ có tính cách phỉ báng.

 

(2) Thành viên Hạ viện không thể bị triệu tập hoặc bị bắt vì một tội phạm hình sự khi chưa có sự cho phép của Hạ viện, trừ khi người đó bị bắt ngay khi đang phạm tội hoặc ngay vào ngày hôm sau.

 

(3) Cũng cần có sự cho phép của Hạ viện đối với bất kỳ hạn chế tự do thân thể của thành viên Hạ viện hoặc khởi tố đối với một thành viên theo quy định tại Điều 18.

 

(4) Bất kỳ thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục tố tụng khác theo Điều 18 hoặc việc giam giữ, hạn chế tự do thân thể khác đối với một thành viên Hạ viện sẽ phải ngưng theo yêu cầu của Hạ viện.

 

Điều 47 [Quyền từ chối đưa ra bằng chứng]

 

Các thành viên Hạ viện có thể từ chối đưa ra bằng chứng liên quan đến những người đã chia sẻ thông tin cho họ với tư cách là thành viên Hạ viện, hoặc đến những người họ đã chia sẻ với tư cách đó, cũng như những chứng cứ liên quan đến chính những thông tin đó. Chừng nào mà quyền từ chối này áp dụng, không ai được phép ra lệnh tịch thu tài liệu.

 

Điều 48 [Ứng cử viên – bảo vệ tư cách thành viên]

 

(1) Mọi ứng cử viên tranh cử vào Hạ viện sẽ được phép nghỉ việc nếu cần thiết cho chiến dịch vận động bầu cử của mình.

 

(2) Không ai có thể bị cản trở nhận hoặc thực thi nhiệm vụ thành viên Hạ viện. Không ai có thể bị sa thải hoặc buộc thôi việc dựa trên lý do này.

 

(3) Các thành viên được hưởng đầy đủ điều kiện vật chất để đảm bảo độc lập. Họ có quyền sử dụng các phương tiện giao thông công cộng miễn phí. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang.

 

Điều 49 [Đã được hủy bỏ]

 

IV. THƯỢNG VIỆN (BUNDESRAT)

 

Điều 50 [Các chức năng]

 

Các Bang sẽ tham gia, thông qua Thượng viện, vào hoạt động lập pháp, hành chính của Liên bang và các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu.

 

Điều 51 [Thành phần]

 

(1) Thượng viện sẽ bao gồm các thành viên của chính quyền các Bang, các Bang bổ nhiệm và triệu hồi các thành viên đó. Các thành viên khác của các chính quyền đó có thể hoạt động thay thế.

 

(2) Mỗi Bang sẽ có tối thiểu 3 phiếu bầu; các Bang có hơn 2 triệu dân sẽ có 4 phiếu, các Bang có hơn 6 triệu dân sẽ có 5 phiếu, và các Bang hơn 7 triệu dân sẽ có 6 phiếu.

 

(3) Mỗi Bang bổ nhiệm số thành viên tương đương với số phiếu của mình. Các phiếu của mỗi Bang chỉ được bỏ một lần như một đơn vị và chỉ bởi các thành viên có mặt hoặc người thay thế họ.

 

Điều 52 [Chủ tịch – quyết định - các quy tắc thủ tục]

 

(1) Thượng viện sẽ bầu ra Chủ tịch Thượng viện với nhiệm kỳ một năm.

 

(2) Chủ tịch sẽ triệu tập Thượng viện. Chủ tịch phải triệu tập Thượng viện nếu đại diện từ tối thiểu 2 Bang hoặc Chính phủ Liên bang yêu cầu.

 

(3) Các quyết định của Thượng viện sẽ cần đa số thành viên thông qua. Thượng viện sẽ thông qua các quy tắc thủ tục. Các kỳ họp được tổ chức công khai. Công chúng có thể vào nghe.

 

(3a) Đối với các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu, Thượng viện có thể thiết lập một Ủy ban về các vấn đề châu Âu để đưa ra các quyết định được coi như của Thượng viện; số phiếu được bỏ bởi các Bang được quy định bởi đoạn (2) Điều 51.

 

(4) Các thành viên hoặc đại diện khác của chính quyền Bang có thể tham gia vào các ủy ban của Thượng viện.

 

Điều 53 [Tham dự của các thành viên Chính phủ Liên bang]

 

Các thành viên Chính phủ Liên bang có quyền, khi có nhu cầu, tham gia vào các kỳ họp của Thượng viện và các ủy ban Thượng viện. Họ có quyền trình bày quan điểm vào bất kỳ lúc nào. Chính phủ Liên bang sẽ thông báo cho Thượng viện liên quan đến các hoạt động này.

 

IVa. ỦY BAN HỖN HỢP

 

Điều 53a [Thành phần - Các quy tắc thủ tục]

 

(1) Ủy ban Hỗn hợp sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và các thành viên Thượng viện; Hạ viện có 2/3 thành viên và Thượng viện có 1/3 thành viên trong ủy ban. Hạ viện sẽ chỉ định các thành viên tỷ lệ với các nhóm khác nhau trong nghị viện; họ không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ Liên bang. Mỗi Bang sẽ được đại diện bởi một thành viên Thượng viện do họ chọn; các thành viên này sẽ không chịu sự chỉ đạo nào. Việc thành lập Ủy ban Hỗn hợp và các thủ tục sẽ được quy định bằng các quy tắc thủ tục được thông qua bởi Hạ viện và cần được sự phê chuẩn bởi Thượng viện.

 

(2) Chính phủ Liên bang sẽ thông báo cho Ủy ban Hỗn hợp về kế hoạch phòng vệ quốc gia. Các quyền của Hạ viện và các ủy ban theo đoạn (1) của Điều 43 sẽ không bị ảnh hưởng bởi các quy định trong đoạn này.

 

V. TỔNG THỐNG LIÊN BANG

 

Điều 54 [Bầu cử]

 

(1) Tổng thống Liên bang sẽ được bầu bởi Hội nghị Liên bang mà không qua tranh luận. Bất kỳ công dân Đức đủ điều kiện bầu cử Hạ viện và đủ 40 tuổi có thể ứng cử.

 

(2) Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang là 5 năm. Việc tái cử một nhiệm kỳ liên tiếp chỉ được phép một lần.

 

(3) Hội nghị Liên bang sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và một số tương đương thành viên được bầu bởi nghị viện các Bang trên cơ sở đại diện tỷ lệ.

 

(4) Hội nghị Liên bang sẽ họp không muộn hơn 30 ngày trước khi nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang hết hoặc, trong trường hợp kết thúc sớm, không muộn hơn 30 ngày sau ngày đó. Hội nghị sẽ được triệu tập bởi Chủ tịch Hạ viện.

 

(5) Sau khi hết nhiệm kỳ lập pháp, thời hạn nêu chi tiết trong câu đầu của đoạn (4) của Điều này sẽ bắt đầu khi Hạ viện họp phiên đầu tiên.

 

(6) Người nhận được đa số phiếu của Hội nghị Liên bang sẽ được bầu chọn. Nếu sau hai lần bỏ phiếu không ai nhân được đa số phiếu, người nhận được số phiếu lớn nhất trong lần bỏ phiếu tiếp theo sẽ được bầu chọn.

 

(7) Các chi tiết sẽ được quy định cụ thể trong luật của liên bang.

 

Điều 55 [Xung đột lợi ích]

 

(1) Tổng thống Liên bang không thể là thành viên của chính phủ hoặc là thành viên của cơ quan lập pháp Liên bang hoặc Bang.

 

(2) Tổng thống Liên bang không thể nắm giữ một vị trí hưởng lương hoặc tham gia nghề nghiệp hay kinh doanh, hoặc tham gia vào quản lý hoặc ban kiểm soát của bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh thu lợi nào.

 

Điều 56 [Tuyên thệ nhậm chức]

 

Khi nhậm chức, Tổng thống Liên bang sẽ tuyên thệ như sau trước các thành viên Hạ viện và Thượng viện: “Tôi thề rằng tôi sẽ cống hiến các nỗ lực của mình cho hạnh phúc của người dân Đức, thúc đẩy an sinh của họ, bảo vệ họ khỏi những đe dọa, duy trì và bảo vệ Luật Cơ bản và các luật của Liên bang, thực thi các nghĩa vụ của tôi một cách toàn tâm và bảo đảm công lý cho tất cả mọi người. Xin Thiên Chúa phù hộ tôi.”

 

Lời tuyên thệ cũng có thể được thực hiện mà không cần xác tín về tôn giáo.

 

Điều 57 [Mất khả năng hoặc bỏ trống]

 

Nếu Tổng thống Liên bang không thể thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc ghế đó bị trống, Chủ tịch Thượng viện sẽ thực thi quyền hạn Tổng thống.

 

Điều 58 [Ký phó thự]

 

Các lệnh và chỉ thị của Tổng thống Liên bang để có hiệu lực cần có chữ ký của Thủ tướng Liên bang hoặc Bộ trưởng Liên bang có thẩm quyền. Điều khoản này không áp dụng đối việc bổ nhiệm hoặc phế truất Thủ tướng Liên bang, việc giải tán Hạ viện theo Điều 63, hoặc một đề nghị thực thi theo đoạn (3) Điều 69.

 

Điều 59 [Đại diện của Liên bang]

 

(1) Tổng thống Liên bang sẽ là người đại diện Liên bang phù hợp với luật quốc tế ký kết các điều ước với nước ngoài. Tổng thống bổ nhiệm và tiếp nhận các đại diện ngoại giao.

 

(2) Các điều ước quy định về quan hệ chính trị của Liên bang hoặc liên quan đến các vấn đề thuộc thẩm quyền của lập pháp liên bang cần sự chấp thuận hoặc tham gia, dưới hình thức một đạo luật liên bang, của các cơ quan chịu trách nhiệm về việc thông qua một luật liên bang. Trong trường hợp các điều ước về quản lý thì các điều khoản liên quan đến quản lý liên bang sẽ áp dụng tương tự.

 

Điều 59a [Đã được hủy bỏ]

 

Điều 60 [Bổ nhiệm và miễn nhiệm các thẩm phán liên bang, công chức liên bang và sỹ quan quân đội; đặc xá]

 

(1) Tổng thống Liên bang sẽ bổ nhiệm và miễn nhiệm các thẩm phán liên bang, các công chức liên bang, các sỹ quan của quân đội, trừ khi có luật quy định khác.

 

(2) Tổng thống Liên bang thực thi quyền đặc xá đối với các cá nhân phạm tội nhân danh Liên bang.

 

(3) Tổng thống Liên bang có thể ủy nhiệm cho cơ quan khác thực hiện quyền trên.

 

(4) Các khoản (2) đến (4) của Điều 46 được áp dụng tương tự đối với Tổng thống Liên bang.

 

Điều 61 [Luận tội trước Tòa án Hiến pháp Liên bang]

 

(1) Hạ viện hoặc Thượng viện có thể luận tội Tổng thống Liên bang trước Tòa án Hiến pháp Liên bang vì đã cố ý vi phạm Luật Cơ bản này hoặc bất kỳ luật liên bang nào khác. Việc khởi động luận tội phải được sự ủng hộ của ít nhất 1/4 thành viên Hạ viện hoặc 1/4 số phiếu của Thượng viện. Nghị quyết về việc luận tội phải được thông qua với đa số 2/3 thành viên của Hạ viện hoặc 2/3 số phiếu của Thượng viện. Trường hợp luận tội sẽ được đưa ra trước Tòa án Hiến pháp Liên bang bởi một người được ủy quyền bởi cơ quan luận tội.

 

(2) Tòa án Hiến pháp Liên bang phán quyết rằng Tổng thống Liên bang đã cố ý vi phạm Luật Cơ bản này hoặc bất kỳ luật liên bang nào khác, tòa có thể tuyên bố ông ta đã bị tước khỏi vị trí. Sau khi Tổng thống Liên bang đã bị luận tội, Tòa án có thể ban hành một chỉ thị lâm thời cấm Tổng thống thực hiện thẩm quyền của mình.

 

VI. CHÍNH PHỦ LIÊN BANG

 

Điều 62 [Thành phần]

 

Chính phủ Liên bang bao gồm Thủ tướng Liên bang và các Bộ trưởng Liên bang.

 

Điều 63 [Bầu cử Thủ tướng Liên bang]

 

(1) Thủ tướng Liên bang sẽ được bầu chọn bởi Hạ viện mà không có sự tranh luận theo đề nghị của Tổng thống Liên bang.

 

(2) Người nhận được đa số phiếu của thành viên Hạ viện sẽ được chọn. Người được bầu chọn sẽ được bổ nhiệm bởi Tổng thống Liên bang.

 

(3) Nếu người được đề nghị bởi Tổng thống Liên bang không được bầu chọn, Hạ viện có thể bầu một Thủ tướng Liên bang trong vòng 14 ngày sau khi đã bỏ phiếu bởi hơn 1/2 thành viên Hạ viện.

 

(4) Nếu Thủ tướng Liêng bang không được bầu trong thời hạn đó, một cuộc bầu cử mới sẽ diễn ra không chậm trễ, trong đó người nhận được số phiếu lớn nhất được bầu. Nếu người được bầu nhận được số phiếu biểu quyết của đa số các thành viên của Hạ viện, Tổng thống Liên bang phải bổ nhiệm trong thời hạn 7 ngày sau cuộc bầu cử. Nếu người được bầu không nhận được đa số phiếu, thì trong thời hạn 7 ngày Tổng thống Liên bang sẽ bổ nhiệm người đó hoặc giải tán Hạ viện.

 

Điều 64 [Bổ nhiệm và miễn nhiệm Bộ trưởng Liên bang – Tuyên thệ]

 

(1) Bộ trưởng Liên bang sẽ được bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm bởi Tổng thống Liên bang theo đề nghị của Thủ tướng Liên bang.

 

(2) Người nhậm chức Thủ tướng Liên bang và các Bộ trưởng Liên bang sẽ tuyên thệ theo quy định tại Điều 56 Hiến pháp Liên bang trước Hạ viện.

 

Điều 65 [Quyền xác định các chính sách hướng dẫn]

 

Thủ tướng Liên bang xác định và chịu trách nhiệm về những hướng dẫn chung đối với các chính sách. Trong những giới hạn này, các Bộ trưởng Liên bang thực hiện các công việc của ngành mình một cách độc lập và trách nhiệm. Chính phủ Liên bang sẽ giải quyết khác biệt ý kiến giữa các Bộ trưởng Liên bang. Thủ tướng Liên bang có trách nhiệm thực thi các thủ tục của Chính phủ Liên bang phù hợp với các quy tắc thủ tục đã được Chính phủ thông qua và Tổng thống Liên bang phê duyệt.

 

Điều 65a [Chỉ huy các lực lượng vũ trang]

 

(1) Việc chỉ huy các lực lượng vũ trang được trao cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên bang.

 

(2) (Đã được hủy bỏ)

 

Điều 66 [Xung đột lợi ích]

 

Thủ tướng Liên bang hay Bộ trưởng Liên bang đều không được kiêm nhiệm bất kỳ một công việc hưởng lương nào khác, hoặc tham gia vào bất kỳ hoạt động thương mại hoặc công tác quản lý, hoặc hội đồng quản trị của một doanh nghiệp khi không có sự đồng ý của Hạ viện.

 

Điều 67 [Bỏ phiếu bất tín nhiệm]

 

(1) Hạ viện chỉ có thể bày tỏ sự thiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu ra một người kế nhiệm qua việc biểu quyết của đa số thành viên Hạ viện và yêu cầu Tổng thống Liên bang phế truất Thủ tướng Liên bang. Tổng thống Liên bang phải tuân thủ yêu cầu đó và chỉ định người được bầu.

 

(2) Có một thời hạn 48 giờ giữa lúc đề nghị và biểu quyết.

 

Điều 68 [Bỏ phiếu tín nhiệm]

 

(1) Nếu một đề nghị của Thủ tướng Liên bang cho một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm không được hỗ trợ bởi đa số thành viên của Hạ viện,Tổng thống Liên bang có thể giải tán Hạ viện trong vòng 21 ngày theo đề nghị của Thủ tướng Liên bang. Quyền giải tán sẽ mất hiệu lực ngay khi Hạ viện bầu ra một Thủ tướng Liên bang khác bằng biểu quyết của đa số thành viên Hạ viện.

 

(2) Có một thời hạn 48 giờ giữa lúc đề nghị và biểu quyết.

 

Điều 69 [Phó Thủ tướng Liên bang - nhiệm kỳ]

 

(1) Thủ tướng Liên bang có trách nhiệm chỉ định một Bộ trưởng Liên bang làm Phó cho mình.

 

(2) Nhiệm kỳ của Thủ tướng Liên bang hoặc mỗi Bộ trưởng Liên bang sẽ kết thúc trong bất cứ trường hợp nào khi Hạ viện mới được triệu tập; nhiệm kỳ của mỗi Bộ trưởng Liên bang cũng sẽ kết thúc vào bất cứ trường hợp nào khác mà Thủ tướng Liên bang không còn giữ chức vụ.

 

(3) Theo yêu cầu của cả Tổng thống Liên bang và Thủ tướng Liên bang, hoặc theo yêu cầu của Thủ tướng Liên bang hoặc của Tổng thống Liên bang, một Bộ trưởng Liên bang có nghĩa vụ tiếp tục quản lý các công việc của mình cho đến khi người kế nhiệm được bổ nhiệm.

 

VII. LẬP PHÁP LIÊN BANG VÀ THỦ TỤC LẬP PHÁP

 

Điều 70 [Phân chia thẩm quyền lập pháp của Liên bang và Bang]

 

(1) Bang sẽ có quyền lập pháp đối với những lĩnh vực mà Hiến pháp Liên bang không xác định là thuộc thẩm quyền lập pháp của Liên bang.

 

(2) Việc phân chia thẩm quyền lập pháp giữa Liên bang và Bang sẽ được điều chỉnh bởi các quy định của Hiến pháp Liên bang liên quan đến thẩm quyền tuyệt đối và song trùng.

 

Điều 71 [Định nghĩa thẩm quyền lập pháp tuyệt đối của Liên bang]

 

Về các vấn đề thuộc thẩm quyền tuyệt đối của Liên bang, Bang sẽ chỉ có quyền lập pháp khi và đến mức độ được ủy quyền một cách rõ ràng bởi một đạo luật Liên bang.

 

Điều 72 [Định nghĩa thẩm quyền lập pháp song trùng]

 

(1) Đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp song trùng, các Bang sẽ có quyền lập pháp, miễn là trong phạm vi Liên bang đã không thực hiện quyền lập pháp của mình bằng cách ban hành một đạo luật.

 

(2) Liên bang có quyền lập pháp về những vấn đề nêu tại các khoản 4,7, 11,13,15,19a, 20,22,25 và 26 của đoạn (1) Điều 74, nếu và trong chừng mực việc thiết lập các điều kiện sống bình đẳng trên toàn lãnh thổ Liên bang hoặc để duy trì sự thống nhất pháp luật hoặc kinh tế góp phần tạo ra quy định liên bang cần thiết vì lợi ích quốc gia.

 

(3) Nếu Liên bang đã sử dụng quyền lập pháp của mình, các Bang có thể ban hành những luật trái với luật Liên bang liên quan đến:

 

1. Săn bắn (trừ luật về cấp phép săn bắn);

 

2. Bảo vệ tự nhiên và quản lý thắng cảnh (trừ các nguyên tắc chung đối với việc bảo vệ tự nhiên, luật về bảo vệ các loài thực vật và động vật hoặc luật bảo vệ sinh vật biển);

 

3. Phân bổ đất đai;

 

4. Kế hoạch vùng;

 

5. Quản lý các nguồn nước (trừ các quy định liên quan đến cơ sở vật chất);

 

6. Cho phép thành lập các cơ sở giáo dục đại học và các điều kiện để tốt nghiệp các trường đó. Các luật Liên bang về các vấn đề này sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ khi được thông qua, trừ khi có quy định khác với sự chấp thuận của Thượng viện. Đối với mối quan hệ giữa luật Liên bang và luật của các Bang, luật có hiệu lực muộn nhất sẽ có ưu thế liên quan đến các vấn đề như nêu tại câu đầu tiên.

 

(4) Một luật Liên bang có thể quy định rằng lập pháp Liên bang là không cần thiết, trong phạm vi định nghĩa của khoản (2) Điều này, có thể bị phủ quyết bằng luật của Bang.

 

Điều 73 [Các vấn đề thuộc thẩm quyền tuyệt đối của Liên bang]

 

(1) Liên bang sẽ có quyền tuyệt đối về các vấn đề liên quan đến:

 

1. Ngoại giao và quốc phòng, bao gồm việc bảo vệ thường dân;

 

2. Quy chế công dân Liên bang;

 

3. Tự do đi lại, hộ chiếu, đăng ký thường trú và chứng minh thư, nhập cư, di dân và dẫn độ;

 

4. Tiền tệ, tiền giấy và tiền đúc, trọng lượng, các biện pháp cân đo và xác định tiêu chuẩn thời gian;

 

5. Sự thống nhất của hải quan và khu vực kinh doanh, điều ước quốc tế liên quan đến thương mại và hàng hải, di chuyển tự do hàng hóa và trao đổi hàng hóa, các khoản thanh toán với nước ngoài, bao gồm cả hải quan và bảo vệ biên giới;

 

5a. Bảo vệ các di sản văn hóa Đức khỏi bị vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia;

 

6. Vận tải hàng không;

 

6a. Hoạt động của đường sắt hoàn toàn hoặc chủ yếu thuộc sở hữu của Liên bang (đường sắt liên bang), xây dựng, bảo trì, và hoạt động của các tuyến đường sắt liên bang cũng như áp đặt phí cho việc sử dụng các tuyến đường đó;

 

7. Các dịch vụ bưu chính và viễn thông;

 

8. Các quan hệ pháp lý giữa những người làm việc cho Liên bang và tại các tập đoàn liên bang theo luật định;

 

9. Quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và xuất bản;

 

9a. Sự bảo vệ bởi Văn phòng Cảnh sát Hình sự Liên bang chống lại các mối nguy hiểm từ khủng bố quốc tế khi một đe dọa vượt quá biên giới một Bang, khi thẩm quyền tư pháp của cảnh sát một Bang không thể đầy đủ, hoặc khi cơ quan cao nhất của một Bang cần đến trách nhiệm của Liên bang;

 

10. Hợp tác giữa Liên bang và các Bang liên quan đến:

 

(a) Hoạt động của cảnh sát hình sự;

 

(b) Bảo vệ nền tảng trật tự tự do dân chủ, sự tồn tại và an ninh của Liên bang hoặc của một Bang (bảo vệ Hiến pháp);

 

(c) Bảo vệ chống lại các hoạt động trên lãnh thổ Liên bang bằng việc sử dụng vũ lực hoặc chuẩn bị sử dụng vũ lực, gây nguy hiểm cho lợi ích bên ngoài nước Cộng hòa Liên bang Đức, cũng như việc thành lập Văn phòng Cảnh sát Hình sự Liên bang và các hành động quốc tế chống tội phạm;

 

11. Hoạt động thống kê cho các mục đích của liên bang;

 

12. Luật về vũ khí và chất nổ;

 

13. Hỗ trợ cho thương binh và thân nhân của các nạn nhân chiến tranh, cựu tù binh chiến tranh;

 

14. Việc sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân vì các mục đích hòa bình, xây dựng và hoạt động các cơ sở phục vụ các mục đích đó, bảo vệ chống lại nguy hiểm phát sinh từ việc tán phát năng lượng hạt nhân hoặc từ bức xạ ion hóa và việc xử lý các chất phóng xạ.

 

(2) Các luật được ban hành phù hợp với đoạn 9a của khoản 1 đòi hỏi sự chấp thuận của Thượng viện.

 

Điều 74 [Các vấn đề thuộc thẩm quyền song trùng]

 

(1) Quyền lập pháp song trùng được thực hiện đối với các lĩnh vực sau đây:

 

1. Luật dân sự, luật hình sự, tổ chức và thủ tục tố tụng tòa án, nghề luật sư, công chứng viên và tư vấn pháp lý;

 

2. Đăng ký khai sinh, khai tử và hôn nhân;

 

3. Luật về lập hội;

 

4. Luật có liên quan đến cư trú và địa vị của người nước ngoài; 4a. (đã bãi bỏ)

 

5. (đã bãi bỏ)

 

6. Các vấn đề liên quan đến những người tị nạn và những người bị trục xuất;

 

7. Phúc lợi công cộng (trừ luật về nhà ở xã hội);

 

8. (đã bãi bỏ)

 

9. Bồi thường chiến tranh và thiệt hại;

 

10. Bia mộ chiến tranh và bia mộ của các nạn nhân khác của chiến tranh hoặc của chế độ độc tài;

 

11. Luật liên quan đến các vấn đề kinh tế (khai thác mỏ, công nghiệp, năng lượng, thủ công mỹ nghệ, thương mại, ngân hàng, thị trường chứng khoán và bảo hiểm tư nhân), trừ quy định về thời gian đóng cửa hàng, khách sạn, các nơi vui chơi, triển lãm và hội chợ;

 

11a. (đã bãi bỏ)

 

12. Luật lao động, bao gồm việc tổ chức các doanh nghiệp, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, tuyển dụng, cũng như an sinh xã hội, bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp;

 

13. Quy định về việc tài trợ cho giáo dục, đào tạo và thúc đẩy nghiên cứu;

 

14. Luật về tước đoạt quyền sở hữu, trong phạm vi có liên quan đến những vấn đề được liệt kê tại các Điều 73 và Điều 74;

 

15. Chuyển nhượng đất đai, các tài nguyên thiên nhiên, các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu công cộng hoặc các hình thức doanh nghiệp nhà nước khác;

 

16. Phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực kinh tế;

 

17. Thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp (trừ luật về đất đai), bảo đảm cung cấp thực phẩm đầy đủ, nhập khẩu và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp và lâm nghiệp, đánh cá ngoài khơi và ven biển, bảo quản các bờ biển;

 

18. Luật về giao dịch bất động sản, về đất đai (trừ các luật liên quan đến các loại lệ phí phát triển), các vấn đề liên quan đến trợ giá, hỗ trợ các khoản vay cũ, cho vay xây dựng nhà ở;

 

19. Các biện pháp để chống lại các dịch bệnh trên người và động vật có thể gây nguy hiểm cho cộng đồng, việc hành nghề y tế hoặc các ngành nghề phụ trợ, cũng như các luật về các loại thuốc, sản phẩm y tế, ma túy và chất độc;

 

19a. Khả năng dễ tiếp cận của các bệnh viện về quy định viện phí;

 

20. Luật về lương thực, thực phẩm bao gồm các động vật làm thực phẩm, luật về đồ uống và thuốc lá, các mặt hàng và đồ ăn thiết yếu, cũng như các biện pháp bảo vệ liên quan đến tiếp thị các hạt giống nông nghiệp, lâm nghiệp và cây con, bảo vệ cây trồng chống lại dịch bệnh và sâu bệnh, cũng như bảo vệ các động vật;

 

21. Vận tải hàng hải và ven biển, cũng như hỗ trợ định vị, định hướng nội địa, dịch vụ khí tượng, đường biển và đường thủy nội địa được sử dụng cho giao thông nói chung;

 

22. Giao thông đường bộ, xe vận tải, việc xây dựng và bảo trì các đường cao tốc khoảng cách dài, cũng như thu phí sử dụng đối với các xe sử dụng đường cao tốc công cộng và phân bổ doanh thu;

 

23. Đường sắt không phải thuộc liên bang, ngoại trừ đường sắt trên núi;

 

24. Xử lý chất thải, kiểm soát ô nhiễm không khí và giảm bớt tiếng ồn (trừ việc ngăn chặn tiếng ồn đi kèm với các hoạt động của con người);

 

25. Trách nhiệm của nhà nước;

 

26. Thụ tinh nhân tạo đối với con người, phân tích và sửa đổi, bổ sung thông tin di truyền, cũng như các quy định về cấy ghép mô và các cơ quan;

 

27. Các quyền và nghĩa vụ của công chức các Bang, đô thị và các cơ quan nhà nước, các thẩm phán của các Bang, quy định về nghề nghiệp, lương và lương hưu của họ;

 

28. Săn bắn;

 

29. Bảo vệ tự nhiên và quản lý thắng cảnh;

 

30. Phân bổ đất đai;

 

31. Lập kế hoạch vùng;

 

32. Quản lý các nguồn nước;

 

33. Cấp phép lại các trường đại học và các điều kiện tốt nghiệp các trường đó.

 

(2) Các luật được thông qua theo quy định tại điểm 25 và 27 của khoản (1) Điều này cần có sự đồng ý của Thượng viện.

 

Điều 74a (được bãi bỏ)

 

Điều 75 (được bãi bỏ)

 

Điều 76 [Các dự án luật]

 

(1) Các dự án luật có thể đệ trình ra trước Hạ viện bởi Chính phủ Liên bang, bởi Thượng viện hoặc từ chính Hạ viện.

 

(2) Các dự án luật của Chính phủ liên bang trước hết sẽ được đệ trình đến Thượng viện. Thượng viện có quyền nhận xét về dự luật đó trong vòng 6 tuần. Nếu vì lý do quan trọng đặc biệt do phạm vi của dự luật, Thượng viện có thể yêu cầu gia hạn thời gian đến 9 tuần. Nếu trong trường hợp đặc biệt, Chính phủ Liên bang đệ trình một dự luật đến Thượng viện và tuyên bố nó là đặc biệt khẩn cấp, Chính phủ có thể trình dự luật ra Hạ viện sau 3 tuần, nếu Thượng viện đã yêu cầu kéo dài thời hạn theo câu thứ ba của đoạn này, sau 6 tuần, ngay cả khi chưa nhận được ý kiến của Thượng viện; sau khi nhận được ý kiến như vậy; nó sẽ chuyển đến Hạ viện không chậm trễ. Trong trường hợp dự án luật nhằm sửa đổi Hiến pháp Liên bang hoặc chuyển giao chủ quyền theo Điều 23 hoặc Điều 24, giai đoạn lấy ý kiến là 9 tuần và câu thứ tư của khoản này không được áp dụng.

 

(3) Dự luật của Thượng viện phải được gửi đến Hạ viện bởi Chính phủ Liên bang trong vòng 6 tuần. Khi đệ trình dự luật, Chính phủ Liên bang phải nêu quan điểm riêng của mình. Nếu vì lý do quan trọng, đặc biệt là do phạm vi của dự luật, Chính phủ Liên bang có thể yêu cầu kéo dài thời hạn tăng lên đến 9 tuần. Nếu trong trường hợp đặc biệt,Thượng viện tuyên bố một dự luật là đặc biệt khẩn cấp, thời hạn sẽ là 3 tuần hoặc, nếu Chính phủ Liên bang đã yêu cầu kéo dài thời hạn theo câu thứ ba của đoạn này, là 6 tuần. Trong trường hợp dự án luật sửa đổi Hiến pháp Liên bang hoặc chuyển giao quyền chủ quyền theo Điều 23 hoặc Điều 24, giai đoạn lấy ý kiến là 9 tuần và câu thứ tư của khoản này không được áp dụng. Hạ viện sẽ xem xét và biểu quyết về dự luật trong một thời gian hợp lý.

 

Điều 77 [Trình tự lập pháp - Ủy ban hòa giải]

 

(1) Các luật liên bang được thông qua bởi Hạ viện. Sau khi thông qua, Chủ tịch Hạ viện sẽ nhanh chóng đệ trình chúng lên Thượng viện.

 

(2) Trong thời hạn 3 tuần sau khi nhận được một dự luật đã thông qua, Thượng viện có quyền yêu cầu triệu tập một ủy ban để xem xét về dự án luật, bao gồm các thành viên Hạ viện và Thượng viện. Thành phần và thủ tục tố tụng của Ủy ban này được quy định bởi các quy tắc thủ tục được thông qua bởi Hạ viện và có sự đồng ý của Thượng viện. Các thành viên của Thượng viện vào ủy ban này không bị ràng buộc bởi các hướng dẫn. Khi sự đồng ý của các Thượng viện là cần thiết để lập một dự luật trở thành luật, Hạ viện và Chính phủ Liên bang có thể yêu cầu triệu tập một ủy ban tương tự như vậy. Nếu ủy ban đề nghị bất kỳ sửa đổi nào đối với dự luật đã được thông qua, Hạ viện bỏ phiếu về nó lần thứ hai.

 

(2a) Khi sự đồng ý của Thượng viện là cần thiết để một dự luật trở thành luật, nếu không có yêu cầu đã được thực hiện theo câu đầu tiên của đoạn (2) Điều này và việc hòa giải kết thúc mà không có một đề xuất sửa đổi dự luật, Thượng viện sẽ bỏ phiếu về dự luật trong một thời gian hợp lý.

 

(3) Khi sự đồng ý của Thượng viện là không cần thiết để một dự luật trở thành luật, một khi thủ tục tố tụng theo quy định của khoản (2) Điều này được hoàn tất, Thượng viện có thể phản đối một dự luật đã được thông qua bởi Hạ viện trong vòng 2 tuần. Thời hạn phản đối sẽ bắt đầu, trong trường hợp được mô tả trong câu cuối của đoạn (2) Điều này cho rằng thủ tục tố tụng của Ủy ban đã kết thúc.

 

(4) Nếu phản đối được thông qua bởi đa số phiếu biểu quyết của Thượng viện, Nó có thể bị từ chối bởi một quyết định của đa số các thành viên của Hạ viện. Nếu Thượng viện thông qua phản đối bởi đa số trong ít nhất 2/3 tổng số phiếu của nó, sự từ chối bởi Hạ viện đòi hỏi phải có đa số 2/3 tổng số phiếu của nó, bao gồm ít nhất là đa số thành viên Hạ viện.

 

Điều 78 [Thông qua các luật liên bang]

 

Một dự luật được thông qua bởi Hạ viện sẽ trở thành luật nếu Thượng viện đồng ý, hoặc không đưa ra một yêu cầu theo quy định tại khoản (2) Điều 77, hoặc không đưa ra một phản đối trong khoảng thời hạn quy định tại khoản (3) Điều 77, hoặc rút phản đối như vậy, hoặc nếu phản đối bị phủ quyết bởi Hạ viện.

 

Điều 79 [Sửa đổi Hiến pháp Liên bang]

 

(1) Hiến pháp Liên bang chỉ có thể được sửa đổi bởi một đạo luật có nội dung quy định rõ về việc sửa đổi hay bổ sung văn bản Hiến pháp Liên bang. Trong trường hợp một điều ước quốc tế liên quan đến giải quyết hòa bình, chuẩn bị một điều ước giải quyết hoà bình, hoặc kết thúc chế độ chiếm đóng, hoặc thiết kế nhằm thúc đẩy quốc phòng của Cộng hòa Liên bang, với mục đích làm rõ các quy định của Hiến pháp Liên bang không ngoại trừ việc ký kết và có hiệu lực của điều ước quốc tế, chỉ cần thêm ngôn ngữ vào Hiến pháp Liên bang để làm rõ điều này.

 

(2) Bất kỳ Đạo luật nào như vậy cần 2/3 thành viên Hạ viện và 2/3 phiếu số phiếu của Thượng viện.

 

(3) Các sửa đổi đối với Hiến pháp Liên bang này ảnh hưởng đến sự phân chia Liên bang thành các Bang, sự tham gia của các Bang trên nguyên tắc vào quá trình lập pháp, hoặc các nguyên tắc đã được nêu trong Điều 1 và Điều 20 sẽ không thể được chấp nhận.

 

Điều 80 [Ban hành các văn kiện hướng dẫn luật]

 

(1) Chính phủ Liên bang, Bộ trưởng Bộ Liên bang hoặc chính quyền các Bang có thể được ủy quyền bởi một đạo luật ban hành các văn bản hướng dẫn luật. Nội dung, mục đích và phạm vi của ủy quyền được quy định chi tiết trong luật. Mỗi văn kiện hướng dẫn luật phải có một tuyên bố cơ sở pháp lý của nó. Nếu luật quy định rằng thẩm quyền này có thể tiếp tục được ủy quyền, việc ủy quyền tiếp theo như vậy sẽ được thực hiện theo văn kiện hướng dẫn luật.

 

(2) Trừ khi có một luật liên bang quy định khác, cần có sự đồng ý của Thượng viện đối với các văn bản hướng dẫn luật do Chính phủ Liên bang, Bộ trưởng Liên bang ban hành liên quan đến các khoản lệ phí hoặc các nguyên tắc cơ bản cho việc sử dụng các cơ sở bưu chính và viễn thông, các nguyên tắc cơ bản về đánh thuế đối với việc sử dụng các phương tiện đường sắt liên bang, hoặc việc xây dựng và hoạt động của đường sắt, cũng như các văn bản hướng dẫn luật được ban hành phù hợp với các luật liên bang đòi hỏi phải có sự đồng ý của Thượng viện hoặc được thực thi bởi các Bang theo ủy quyền của liên bang hoặc theo quyền của các Bang.

 

(3) Thượng viện có thể trình Chính phủ Liên bang các sự thảo văn bản hướng dẫn luật đòi hỏi phải có sự đồng ý của nó.

 

(4) Trong phạm vi chính quyền các Bang được ủy quyền hoặc phù hợp với các đạo luật liên bang để ban hành các văn bản hướng dẫn luật, các Bang cũng được trao quyền quy định các vấn đề của một đạo luật.

 

Điều 80a [Tình trạng khẩn cấp]

 

(1) Nếu Hiến pháp Liên bang hoặc một đạo luật liên bang liên quan đến quốc phòng, bao gồm việc bảo vệ thường dân, với điều kiện rằng các khoản pháp lý đó chỉ được áp dụng phù hợp với điều này, trừ khi đã có việc công bố tình trạng phòng vệ, việc áp dụng chúng sẽ chỉ được phép sau khi Hạ viện đã quyết định rằng một tình trạng khẩn cấp được ban bố hoặc đã thông qua cụ thể đề nghị đó. Việc phán quyết về tình trạng khẩn cấp và việc thông qua cụ thể các trường hợp được nêu tại câu thứ nhất của đoạn (5) và câu thứ hai của đoạn (6) Điều 12a sẽ cần đa số trong 2/3 tổng số phiếu.

 

(2) Bất kỳ biện pháp nào thực hiện thep quy định của khoản (1) Điều này phải được hủy bỏ bất cứ khi nào Hạ viện yêu cầu.

 

(3) Không phụ thuộc vào khoản (1) Điều này, việc áp dụng các quy định pháp lý như vậy cũng được phép trên cơ sở và phù hợp với một quyết định được thực hiện bởi một tổ chức quốc tế trong khuôn khổ của một hiệp ước liên minh với sự chấp thuận của Chính phủ Liên bang. Bất kỳ biện pháp nào được thực hiện theo quy định tại khoản này phải được hủy bỏ bất cứ khi nào hạ viện yêu cầu bằng việc bỏ phiếu của đa số thành viên.

 

Điều 81 [Lập pháp khẩn cấp]

 

(1) Nếu, trong các trường hợp như được mô tả tại Điều 68, Hạ viện không bị giải thể, Tổng thống Liên bang, theo yêu cầu của Chính phủ Liên bang và với sự đồng ý của Thượng viện, có thể tuyên bố tình trạng lập pháp khẩn cấp đối với một dự luật, nếu Hạ viện bác bỏ dự luật mặc dù Chính phủ liên bang đã tuyên bố nó là cần gấp. Điều tương tự cũng được áp dụng nếu dự luật đã bị từ chối dù Thủ tướng Liên bang đã đưa nó ra theo đề xuất như quy định tại Điều 68.

 

(2) Nếu, sau khi đã được tuyên bố tình trạng lập pháp khẩn cấp, Hạ viện một lần nữa bác bỏ dự luật hoặc thông qua dưới dạng mà Chính phủ Liên bang thấy không thể chấp nhận được, dự luật sẽ được coi là đã trở thành pháp luật trong phạm vi được sự đồng ý của Thượng viện. Điều tương tự cũng được áp dụng nếu Hạ viện không thông qua dự luật trong vòng 4 tuần sau khi được đưa trở lại.

 

(3) Trong nhiệm kỳ của một Thủ tướng Liên bang, bất kì dự luật đã bị từ chối bởi Hạ viện có thể trở thành luật phù hợp với khoản (1) và (2) Điều này trong vòng 6 tháng sau khi có tuyên bố tình trạng lập pháp khẩn cấp đầu tiên. Sau khi hết thời hạn này, không thể tuyên bố một tình trạng lập pháp khẩn cấp nào nữa trong cùng nhiệm kỳ Thủ tướng Liên bang.

 

(4) Hiến pháp Liên bang không thể bị sửa đổi hoặc bãi bỏ, đình chỉ toàn bộ hay một phần bởi một đạo luật ban hành theo khoản (2) của Điều này.

 

Điều 82 [Ký ban hành, xuất bản và bắt đầu hiệu lực]

 

(1) Luật được ban hành theo quy định của Luật Cơ bản, sau khi ký phó thự, có xác nhận của Tổng thống Liên bang và ban hành Công báo Liên bang. Văn bản pháp luật được xác nhận của cơ quan đưa ra chúng, trừ khi pháp luật có quy định khác, sẽ được ban hành trong Công báo Liên bang.

 

(2) Mỗi pháp luật hoặc công cụ pháp lý quy định cụ thể ngày có hiệu lực. Trong trường hợp không cung cấp như vậy, nó sẽ có hiệu lực vào ngày thứ 14 sau ngày mà Công báo Liên bang có chứa nó được xuất bản.

 

VIII. THỰC THI CÁC LUẬT LIÊN BANG VÀ HÀNH CHÍNH LIÊN BANG

 

Điều 83 [Phân bổ quyền hạn giữa Liên bang và Bang]

 

Các Bang sẽ thực thi các luật Liên bang theo thẩm quyền của mình chừng nào Luật cơ bản này không có quy định khác.

 

Điều 84 [Hành chính các Bang - Giám sát liên bang]

 

(1) Khi thực thi các luật Liên bang theo thẩm quyền của mình, các Bang quy định việc thành lập các cơ quan và thủ tục hành chính của chúng. Nếu các luật liên bang quy định khác, các Bang có thể ban hành quy định có sự khác biệt. Nếu một Bang ban hành một đạo luật theo câu thứ hai, các luật liên bang ban hành sau đó về tổ chức cơ quan nhà nước và thủ tục hành chính của chúng sẽ không được ban hành trong vòng 6 tháng sau khi công bố chúng, với điều kiện là không có quyết định nào khác được Thượng viện đưa ra. Câu thứ ba của khoản (2) Điều 72 sẽ áp dụng tương ứng. Trong các trường hợp ngoại lệ, do nhu cầu đặc biệt nhằm thống nhất pháp luật Liên bang, Liên bang có thể quy định thủ tục hành chính không cho phép tách rời các quy định của Bang. Các luật như vậy cần có sự đồng ý của Thượng viện. Các luật Liên bang không thể quy định nghĩa vụ cho các đô thị hay hiệp hội đô thị.

 

(2) Chính phủ Liên bang, với sự đồng ý của Thượng viện, có thể ban hành quy định hành chính nói chung.

 

(3) Chính phủ Liên bang thực hiện giám sát để đảm bảo các Bang thực thi pháp luật liên bang theo quy định của luật. Nhằm thực hiện mục đích này, Chính phủ Liên bang có thể gửi đặc phái viên đến các cơ quan cao nhất của Bang, khi có sự đồng ý của họ hoặc khi bị từ chối thì cần sự đồng ý của Thượng viện, hoặc đến các cơ quan cấp dưới khác.

 

(4) Nếu những thiếu sót của Bang trong việc thực hiện luật Liên bang đã bị Chính phủ Liên bang xác định mà không được sửa chữa, theo đệ trình của Chính phủ Liên bang hay của Bang có liên quan,Thượng viện quyết định việc Bang đó có vi phạm Pháp luật hay không. Quyết định của Thượng viện có thể bị khởi kiện ra Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

(5) Nhằm thực hiện các luật liên bang, Chính phủ Liên bang có thể được ủy quyền bởi một luật Liên bang với sự đồng ý của Thượng viện, ban hành các hướng dẫn trong trường hợp đặc biệt. Các hướng dẫn đó sẽ được gửi đến các cơ quan cao nhất của Bang, trừ khi Chính phủ Liên bang xem xét vấn đề khẩn cấp.

 

Điều 85 [Bang thi hành theo ủy quyền của liên bang]

 

(1) Trường hợp các Bang thực thi các luật liên bang theo ủy quyền liên bang, việc thành lập các cơ quan chức năng vẫn sẽ là mối quan tâm của các Bang, trừ khi luật liên bang được ban hành với sự đồng ý của Thượng viện có quy định khác. Các luật liên bang không thể quy định nghĩa vụ cho các đô thị hay hiệp hội đô thị.

 

(2) Chính phủ Liên bang, với sự đồng ý của Thượng viện, có thể ban hành các quy định hành chính nói chung. Chính phủ có thể triển khai việc đào tạo thống nhất các công chức và các nhân viên làm công ăn lương khác. Người đứng đầu cơ quan trung gian được bổ nhiệm với sự chấp thuận của Chính phủ.

 

(3) Các nhà chức trách Bang được hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Liên bang. Hướng dẫn này sẽ được gửi đến các cơ quan cao nhất của Bang, trừ khi Chính phủ Liên bang xem xét các vấn đề khẩn cấp. Việc thực hiện các hướng dẫn được bảo đảm bởi các cơ quan cao nhất của Bang.

 

(4) Giám sát của Liên bang nhắm đến tính hợp pháp và hợp lý của việc thi hành. Nhằm mục đích này, Chính phủ Liên bang có thể yêu cầu nộp báo cáo, tư liệu và gửi các đặc phái viên đến các cơ quan chức năng.

 

Điều 86 [Hành chính Liên bang]

 

Trường hợp Liên bang thực thi các luật thông qua cơ quan hành chính của mình hoặc thông qua các doanh nghiệp hoặc các tổ chức Liên bang được thành lập theo quy định của pháp luật, Chính phủ Liên bang có trách nhiệm, khi luật liên quan không có quy định đặc biệt, ban hành các quy tắc hành chính chung. Chính phủ Liên bang quy định việc thành lập các cơ quan trong phạm vi luật liên quan không có quy định khác.

 

Điều 87 [Các lĩnh vực thuộc sự điều hành trực tiếp Liên bang]

 

(1) Quản lý ngành ngoại giao, tài chính liên bang và theo quy định của Điều 89, quản lý đường thủy và vận chuyển Liên bang phải được thực hiện bởi các cơ quan hành chính Liên bang qua cơ quan hành chính các cấp. Một đạo luật liên bang có thể thiết lập các cơ quan cảnh sát, biên giới liên bang, các cơ quan phục vụ thông tin và truyền thông, cảnh sát, cảnh sát hình sự, thu thập dữ liệu cho mục đích bảo vệ Hiến pháp và bảo vệ chống lại các hoạt động trong lãnh thổ Liên bang gây nguy hại cho lợi ích bên ngoài Cộng hòa Liên bang Đức thông qua việc sử dụng vũ lực hoặc chuẩn bị sử dụng vũ lực.

 

(2) Các tổ chức bảo hiểm xã hội có thẩm quyền vượt ra ngoài lãnh thổ của một Bang duy nhất được quản lý như các doanh nghiệp liên bang theo quy định của Pháp luật. Các tổ chức bảo hiểm xã hội có thẩm quyền vượt ra ngoài lãnh thổ của một Bang nhưng không quá 3 Bang, bất kể câu đầu tiên của khoản này, được quản lý như các doanh nghiệp của Bang theo quy định của pháp luật, nếu các Bang liên quan có quy định cụ thể Bang nào thực hiện thẩm quyền giám sát.

 

(3) Ngoài ra, các cơ quan tự trị liên bang cao hơn cũng như các doanh nghiệp và các tổ chức liên bang theo quy định của pháp luật có thể được thành lập bởi một luật liên bang về các vấn đề mà Liên bang có quyền lập pháp. Khi Liên bang phải đối diện với trách nhiệm mới liên quan đến những vấn đề mà nó có quyền lập pháp, các cơ quan liên bang ở cấp trung gian và cấp thấp có thể được thành lập trong trường hợp nhu cầu cấp thiết với sự đồng ý của Thượng viện và của đa số thành viên Hạ viện.

 

Điều 87a [Các lực lượng vũ trang]

 

(1) Liên bang sẽ thành lập các Lực lượng vũ trang vì các mục đích quốc phòng. Quân số và cơ cấu tổ chức tổng quát của nó phải được thể hiện trong ngân sách.

 

(2) Ngoài việc quốc phòng, các Lực lượng vũ trang chỉ có thể được sử dụng trong phạm vi Hiến pháp Liên bang cho phép rõ ràng.

 

(3) Trong một tình trạng phòng vệ hoặc tình trạng khẩn cấp, các Lực lượng vũ trang có quyền bảo vệ tài sản dân sự và thực hiện các chức năng kiểm soát giao thông đến mức độ cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng của họ. Hơn nữa, trong một tình trạng phòng vệ hoặc tình trạng khẩn cấp, các lực lượng vũ trang cũng có thể được ủy quyền hỗ trợ cảnh sát để bảo vệ tài sản dân sự; trong trường hợp này, các Lực lượng vũ trang phải phối hợp với các cơ quan chức năng.

 

(4) Nhằm tránh một mối nguy hiểm sắp xảy ra đối với sự tồn tại hoặc trật tự tự do dân chủ cơ bản của Liên bang hoặc của một Bang,Chính phủ Liên bang, nếu hội đủ các điều kiện nêu tại khoản (2) Điều 91 và nếu lực lượng cảnh sát, Cảnh sát Biên giới Liên bang không đủ khả năng, có thể sử dụng các lực lượng vũ trang để hỗ trợ cảnh sát và Cảnh sát Biên giới Liên bang trong việc bảo vệ tài sản dân sự và đấu tranh chống quân nổi dậy vũ trang có tổ chức. Hành động đó của các Lực lượng vũ trang sẽ phải chấm dứt nếu Hạ viện hoặc Thượng viện có yêu cầu.

 

Điều 87b [Quốc phòng Liên bang]

 

(1) Cơ quan Quốc phòng Liên bang sẽ được triển khai như một cơ quan hành chính liên bang với bộ máy hành chính của mình. Cơ quan này có thẩm quyền về các vấn đề nhân sự và bảo đảm nhu cầu mua sắm của các Lực lượng vũ trang. Trách nhiệm liên quan đến lương bổng cho những người bị thương hoặc thi công xây dựng công trình có thể được giao cho Cơ quan Quốc phòng Liên bang bằng một đạo luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện. Bất kỳ luật nào trao quyền cho Cơ quan Quốc phòng Liên bang can thiệp vào quyền của các bên thứ ba cũng cần sự đồng ý như vậy; yêu cầu này, tuy nhiên, không được áp dụng trong trường hợp các luật về vấn đề nhân sự.

 

(2) Ngoài ra, các luật liên bang liên quan đến quốc phòng, bao gồm tuyển người thực hiện nghĩa vụ quân sự và bảo vệ dân thường, có thể, với sự đồng ý của Thượng viện, quy định rằng chúng được thực thi toàn bộ hoặc một phần, bởi cơ quan hành chính liên bang với bộ máy hành chính của mình hoặc bởi các Bang theo ủy quyền của Liên bang. Nếu luật đó được thực hiện bởi các Bang theo ủy quyền liên bang, họ có thể, với sự đồng ý của Thượng viện, quy định rằng các quyền hạn thuộc về Chính phủ Liên bang hoặc cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Liên bang theo Điều 85 được chuyển toàn bộ hoặc một phần cho chính quyền liên bang cao nhất; trong trường hợp này, luật có thể quy định rằng các cơ quan đó không cần phải có sự đồng ý của Thượng viện trong việc ban hành quy định hành chính chung theo câu đầu tiên của đoạn (2) Điều 85.

 

Điều 87c [Quản lý sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân]

 

Các luật ban hành theo đoạn 14 của khoản (1) Điều 74 có thể, với sự đồng ý của Thượng viện, quy định rằng chúng sẽ được thực hiện bởi các Bang theo ủy quyền của liên bang.

 

Điều 87d [Quản lý vận tải hàng không]

 

(1) Quản lý giao thông vận tải hàng không được thực hiện bởi chính quyền liên bang. Dịch vụ định vị hàng không cũng có thể thực hiện bởi các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được ủy quyền phù hợp với luật của Cộng đồng châu Âu.

 

(2) Bằng một đạo luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện, trách nhiệm quản lý vận tải hàng không có thể được ủy quyền cho các Bang bởi Liên bang.

 

Điều 87e [Quản lý đường sắt liên bang]

 

(1) Quản lý đường sắt liên bang được thực hiện bởi chính quyền liên bang. Trách nhiệm quản lý vận tải đường sắt có thể được phân cấp bởi một đạo luật liên bang cho các Bang thực hiện.

 

(2) Liên bang không phải chịu trách nhiệm quản lý vận tải đường sắt, theo đạo luật liên bang đã quy định, ngoài những việc liên quan đến đường sắt liên bang.

 

(3) Đường sắt liên bang hoạt động như các doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Chúng tiếp tục là tài sản của Liên bang trong phạm vi liên quan đến việc xây dựng, bảo trì và hoạt động của các tuyến đường. Việc chuyển nhượng cổ phần của liên bang trong các doanh nghiệp này theo câu thứ hai của khoản này được thực hiện theo một đạo luật; Liên bang sẽ giữ lại cổ phần lớn. Các chi tiết sẽ được quy định bởi luật liên bang.

 

(4) Liên bang có trách nhiệm đảm bảo rằng trong việc phát triển và duy trì hệ thống đường sắt liên bang cũng như trong việc cung cấp dịch vụ của hệ thống này, ngoài các dịch vụ vận tải hành khách địa phương, cần có sự quan tâm đến lợi ích và đặc biệt là nhu cầu giao thông của công chúng. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

(5) Các luật ban hành phù hợp với khoản (1) đến khoản (4) Điều này đòi hỏi phải có sự đồng ý của Thượng viện. Cũng cần có sự đồng ý của Thượng viện đối với các luật liên quan đến giải thể, sáp nhập, phân chia các doanh nghiệp đường sắt liên bang, việc chuyển giao các tuyến đường sắt liên bang cho bên thứ ba, hoặc từ bỏ các tuyến như vậy, hoặc việc làm ảnh hưởng đến các dịch vụ vận tải hành khách địa phương.

 

Điều 87f [Bưu chính và viễn thông]

 

(1) Phù hợp với một đạo luật liên bang được sự đồng ý của Thượng viện, Liên bang chịu trách nhiệm đảm bảo sự tiện dụng và chất lượng của dịch vụ bưu chính và viễn thông trên toàn lãnh thổ liên bang.

 

(2) Các dịch vụ nêu tại khoản (1) Điều này được quy định như là một vấn đề của doanh nghiệp tư nhân kế thừa Deutsche Bundespost (Công ty Bưu chính Đức) và bởi các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân khác. Thẩm quyền trong lĩnh vực bưu chính viễn thông được trao cho cơ quan hành chính liên bang.

 

(3) Không phụ thuộc vào câu thứ hai của khoản (2) Điều này, liên bang thông qua các cơ quan liên bang theo quy định của pháp luật thực thi trách nhiệm liên quan đến công ty kế thừa Deutsche Bundespost theo quy định của luật liên bang.

 

Điều 88 [Ngân hàng Liên bang]

 

Liên bang sẽ thành lập ngân hàng phát hành tiền tệ là Ngân hàng Liên bang. Trong khuôn khổ của Liên minh Châu Âu, trách nhiệm và quyền hạn của nó có thể được chuyển giao cho Ngân hàng Trung ương Châu Âu - ngân hàng độc lập và cam kết với mục tiêu đảm bảo ổn định giá cả.

 

Điều 89 [Đường thủy liên bang]

 

(1) Liên bang là chủ sử hữu của hệ thống đường thủy của Đế chế cũ.

 

(2) Liên bang có trách nhiệm quản lý đường thủy liên bang thông qua các cơ quan riêng của mình. Nó thực hiện những chức năng nhà nước liên quan đến vận chuyển nội địa mở rộng ra ngoài lãnh thổ của một Bang duy nhất và những chức năng liên quan đến vận tải thủy theo quy định của luật. Khi tuyến đường thủy liên bang nằm trong lãnh thổ một Bang duy nhất, Liên bang có thể ủy quyền quản lý chúng cho Bang theo đề nghị. Nếu đường thủy nằm trên lãnh thổ của nhiều bang, Liên bang có thể ủy quyền cho Bang được chỉ định bởi các Bang cùng liên quan.

 

(3) Trong quản lí phát triển và xây dựng mới các tuyến đường thủy, việc cải tạo đất và quản lý nước phải được bảo đảm có sự thống nhất với Bang.

 

Điều 90 [Đường cao tốc liên bang]

 

(1) Liên bang là chủ sở hữu của hệ thống xa lộ và đường cao tốc của Đế chế cũ.

 

(2) Các Bang, hoặc các cơ quan có thẩm quyền tự quản theo quy định của pháp luật Bang, điều hành các tuyến xa lộ liên bang và các đường cao tốc liên bang khác phục vụ cho giao thông đường dài theo ủy quyền của liên bang.

 

(3) Theo đề nghị của Bang, Liên bang có thể nhận lấy việc quản lý xa lộ liên bang và các đường cao tốc liên bang khác phục vụ giao thông đường dài trong chừng mực chúng nằm trong lãnh thổ của Bang đó.

 

Điều 91 [Tình trạng khẩn cấp]

 

(1) Để ngăn chặn một nguy hiểm sắp xảy ra đối với sự tồn tại hoặc trật tự tự do dân chủ cơ bản của liên bang hoặc của một Bang, Bang có thể kêu gọi sự hỗ trợ của lực lượng cảnh sát các Bang khác hoặc nhân viên và cơ sở vật chất của các cơ quan hành chính khác và của Cảnh sát biên giới liên bang.

 

(2) Nếu bản thân Bang nơi nguy hiểm sắp xảy ra không sẵn sàng hoặc có khả năng chống lại các nguy hiểm, Chính phủ Liên bang có thể chỉ huy cảnh sát của Bang đó và lực lượng cảnh sát của các Bang khác và triển khai các đơn vị Cảnh sát biên giới liên bang. Việc chỉ huy như vậy phải được hủy bỏ khi nguy hiểm không còn, hoặc tại bất kỳ thời gian nào mà Thượng viện có yêu cầu. Nếu những nguy cơ vượt ra ngoài lãnh thổ của một Bang, trong chừng mực cần thiết để chống lại nguy hiểm như vậy, Chính phủ Liên bang có thể ban hành hướng dẫn cho các chính quyền Bang, câu đầu tiên và thứ hai của khoản này không bị ảnh hưởng bởi quy định này.

 

VIIIa. CÁC NHIỆM VỤ CHUNG

 

Điều 91a [Các nhiệm vụ chung - Trách nhiệm chi tiêu]

 

(1) Trong các lĩnh vực sau đây, Liên bang sẽ cùng tham gia thực hiện nhiệm vụ của các Bang, với điều kiện các nhiệm vụ này là quan trọng cho toàn thể xã hội và việc tham gia của Liên bang là cần thiết cho việc cải thiện điều kiện sống (các nhiệm vụ chung):

 

1. Thúc đẩy cấu trúc kinh tế khu vực.

 

2. Thúc đẩy cơ cấu nông nghiệp và bảo tồn bờ biển.

 

(2) Các luật liên bang được sự đồng ý của Thượng viện sẽ quy định chi tiết các nhiệm vụ chung và các chi tiết của việc hợp tác.

 

(3) Trong trường hợp đoạn 1 của khoản (1) Điều này được áp dụng,Liên bang sẽ tài trợ một nửa chi phí tại mỗi Bang. Trong trường hợp đoạn 2 của khoản (1) Điều này được áp dụng, Liên bang có trách nhiệm tài chính ít nhất là một nửa chi phí, và tỷ lệ sẽ là giống nhau cho tất cả các Bang. Các chi tiết được quy định bởi luật. Việc cung cấp kinh phí được trích trong ngân sách của Liên bang và các Bang.

 

(4) (Đã được hủy bỏ)

 

(5) (Đã được hủy bỏ)

 

Điều 91b [Các chương trình giáo dục và thúc đẩy nghiên cứu]

 

(1) Liên bang và các Bang có thể cùng nhau thỏa thuận hợp tác trong các trường hợp đặc biệt quan trọng để thúc đẩy:

 

1. Nghiên cứu và các dự án ngoài các cơ sở giáo dục đại học;

 

2. Các dự án khoa học và nghiên cứu tại các trường đại học;

 

3. Xây dựng cơ sở vật chất tại các cơ sở giáo dục đại học, bao gồm các cơ sở khoa học lớn. Các thỏa thuận theo đoạn 2 của khoản (1) cần có sự chấp thuận của tất cả các Bang.

 

(2) Liên bang và các Bang có thể cùng nhau hợp tác đánh giá thực tiễn hoạt động của hệ thống giáo dục với sự so sánh quốc tế và soạn thảo các báo cáo và kiến nghị.

 

(3) Tỷ lệ chi phí sẽ được quy định trong thỏa thuận.

 

Điều 91c [Các hệ thống công nghệ thông tin]

 

(1) Liên bang và các Bang có thể hợp tác lên kế hoạch, xây dựng và hoạt động của các hệ thống công nghệ thông tin khi cần thiết.

 

(2) Liên bang và các Bang có thể thỏa thuận về các chi tiết tiêu chuẩn và an ninh cần thiết cho việc trao đổi giữa các hệ thống thông tin. Các thỏa thuận liên quan đến các cơ sở của việc hợp tác như câu đầu tiên có thể quy định, rằng các quy định chi tiết sẽ được thông qua bởi đa số của Liên bang và các Bang như thỏa thuận để xác định các trách nhiệm cá nhân.

 

(3) Các bang cũng có thể chấp thuận về hoạt động liên kết của các hệ thống thông tin cùng với việc thiết lập hệ thống máy móc cho mục đích đó.

 

(4) Để liên kết các mạng lưới thông tin của Liên bang và các Bang,Liên bang sẽ thiết lập một mạng lưới kết nối. Các chi tiết liên quan đến việc thiết lập và hoạt động của các mạng lưới kết nối sẽ được quy định bởi một luật liên bang với sự chấp thuận của Thượng viện.

 

Điều 91d [So sánh hoạt động]

 

Nhằm bảo đảm và thúc đẩy hoạt động của bộ máy hành chính, Liên bang và các Bang có thể thực hiện các nghiên cứu so sánh và xuất bản các kết quả đó.

 

Điều 91 [Hợp tác liên quan đến việc hỗ trợ những người tìm việc làm]

 

(1) Khi thực thi các luật Liên bang trong lĩnh vực hỗ trợ cơ bản cho những người tìm việc làm, Liên bang và các Bang hoặc các cộng đồng hay hiệp hội cộng đồng chịu trách nhiệm tuân theo luật của Bang sẽ hợp tác với nhau.

 

(2) Liên bang có thể ủy quyền cho một cộng đồng hay hiệp hội cộng đồng, theo yêu cầu của họ và với sự chấp thuận của cơ quan cao nhất của Bang, để thực hiện các nhiệm vụ nêu tại khoản (1). Trong trường hợp này, Liên bang sẽ gánh các chi phí cần thiết bao gồm các chi phí hành chính cho việc thực thi các nhiệm vụ đúng ra phải do Liên bang thực hiện các luật theo khoản (1).

 

(3) Các chi tiết sẽ được quy định bởi một luật liên bang với sự chấp thuận của Thượng viện.

 

IX. TƯ PHÁP

 

Điều 92 [Tổ chức Tòa án]

 

Quyền lực tư pháp được trao cho các thẩm phán; quyền lực đó được thực thi bởi Tòa án Hiến Pháp Liên bang, các tòa án liên bang được quy định trong Luật Cơ bản này và các tòa án của Bang.

 

Điều 93 [Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp Liên bang]

 

(1) Tòa án Hiến pháp Liên bang ra các phán quyết sau đây:

 

1. Về việc giải thích Hiến pháp Liên bang trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến phạm vi các quyền và nghĩa vụ của một cơ quan liên bang tối cao hoặc của các bên khác được trao quyền theo Hiến pháp Liên bang hoặc theo các quy tắc thủ tục của một cơ quan tối cao Liên bang;

 

2. Trong trường hợp bất đồng hoặc nghi ngờ liên quan đến sự phù hợp về hình thức hoặc nội dung của luật Liên bang hoặc luật Bang với Hiến pháp, hoặc sự phù hợp của luật Bang với luật khác của Liên Bang theo đề nghị của Chính phủ Liên bang hoặc một chính phủ Bang, hoặc của 1/4 thành viên Thượng viện;

 

2a. Trong trường hợp bất đồng về việc một đạo luật có đáp ứng các đòi hỏi của đoạn (2) Điều 72, áp dụng đề nghị của Thượng viện hoặc của Chính phủ, hoặc cơ quan lập pháp của một Bang;

 

3. Trong trường hợp bất đồng liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của Liên bang và các Bang, đặc biệt là trong việc thi hành luật liên bang bởi các Bang và trong việc thực thi giám sát liên bang;

 

4. Tranh chấp khác liên quan đến luật công giữa Liên bang và các Bang, giữa các Bang khác nhau, hoặc trong các Bang, trừ khi có cơ chế giải quyết của Tòa án khác;

 

4a. Về các khiếu nại Hiến pháp có thể được nộp bởi bất kỳ người nào cáo buộc rằng một trong những quyền cơ bản của mình hoặc một trong những quyền của mình theo khoản (4) của Điều 20 hoặc của Điều 33,38,101, hay 104 đã bị xâm phạm bởi cơ quan công quyền;

 

4b. Về các khiếu nại hiến pháp đệ trình bởi các cộng đồng hoặc hiệp hội các cộng đồng khi thấy rằng quyền về chế độ tự trị theo Điều 28 đã bị xâm phạm bởi một đạo luật; trong trường hợp sự xâm phạm bởi một đạo luật Bang, thì chỉ khi luật đó không thể bị xem xét bởi tòa án hiến pháp của Bang;

 

5. Trong các trường hợp khác được quy định tại Luật cơ bản này.

 

(2) Theo yêu cầu của Thượng viện, một chính phủ hoặc Nghị viện của Bang, Tòa án Hiến pháp Liên bang cũng phán quyết về việc liệu trong các trường hợp thuộc khoản (4) Điều 72 sự cần thiết quy định bởi luật liên bang không còn nữa hoặc trong các trường hợp nêu tại điểm 1 của khoản (2) Điều 125a luật Liên bang không thể được ban hành nữa. Phán quyết của Tòa án rằng sự cần thiết đã không còn tồn tại, hoặc luật liên bang đó không thể được ban hành để thay thế một đạo luật liên bang theo như khoản (4) Điều 72 hoặc câu thứ hai của khoản (2) Điều 125a đã bị bác bỏ bởi Thượng viện Đức, hoặc nếu có không được xem xét và phán quyết trong vòng một năm, hoặc nếu một dự luật tương tự đã bị bác bỏ bởi Thượng viện.

 

(3) Tòa án Hiến pháp Liên bang cũng quyết định các vấn đề khác được trao cho nó bởi một đạo luật Liên bang.

 

Điều 94 [Thành phần Tòa án Hiến Pháp Liên bang]

 

(1) Tòa án Hiến pháp Liên bang bao gồm các thẩm phán liên bang và các thành viên khác. Một nửa số thành viên của Tòa án Hiến pháp Liên bang được bầu bởi Thượng viện và một nửa bởi Hạ viện. Họ không được là thành viên của Thượng viện, Hạ viện, Chính phủ Liên bang, hoặc của bất kỳ cơ quan tương tự nào của Bang.

 

(2) Việc tổ chức và thủ tục của Tòa án Hiến pháp Liên bang được quy định bởi luật liên bang, theo đó sẽ chỉ rõ các trường hợp phán quyết của mình có hiệu lực như luật. Luật có thể yêu cầu rằng tất cả các cơ chế pháp lý khác phải được sử dụng hết trước khi nộp đơn khiếu nại Hiến pháp và có thể quy định một tiến trình riêng biệt để xác định khả năng thụ lý khiếu nại.

 

Điều 95 [Các tòa án liên bang tối cao]

 

(1) Liên bang sẽ thành lập Tòa án Tư pháp Liên bang, Tòa án Hành chính Liên bang, Tòa án Tài chính Liên bang, Tòa án Lao động Liên bang và Tòa án Xã hội Liên bang với tư cách là các tòa án tối cao có thẩm quyền thông thường và thẩm quyền về hành chính, về tài chính, về lao động và về xã hội.

 

(2) Thẩm phán của các tòa án này cùng được lựa chọn bởi Bộ trưởng Liên bang có thẩm quyền và một Ủy ban cho lựa chọn thẩm phán bao gồm các Bộ trưởng Bang và một số lượng tương ứng các thành viên được Thượng viện bầu.

 

(3) Trụ sở của các tòa án quy định tại khoản (1) Điều này được thiết lập để bảo vệ sự thống nhất của các phán quyết. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 96 [Các tòa án liên bang khác]

 

(1) Liên bang có thể thiết lập một tòa án liên bang về các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.

 

(2) Liên bang có thể thành lập một Tòa án Liên bang về tội phạm quân sự cho các lực lượng vũ trang. Những tòa án này chỉ có thể thực hiện thẩm quyền xét xử hình sự khi trong tình trạng phòng vệ, hoặc đối với các thành viên của lực lượng vũ trang phục vụ ở nước ngoài hoặc trên tàu chiến. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang. Những Tòa án này được sự bảo trợ của Bộ trưởng Tư pháp Liên bang. Những Thẩm phán làm việc toàn thời gian là những người đủ điều kiện thực hiện công việc tư pháp.

 

(3) Tòa án phúc thẩm cho các tòa án nêu tại khoản (1) và khoản (2) Điều này sẽ là Tòa án Tư pháp Liên bang.

 

(4) Liên bang có thể thiết lập các tòa án liên bang để xem xét kỷ luật đối với những người trong bộ máy hành chính liên bang, cũng như xem xét các khiếu nại của họ.

 

(5) Được sự đồng ý của Thượng viện, một luật liên bang có thể quy định rằng các tòa án của các Bang thực hiện thẩm quyền tư pháp liên bang về tố tụng hình sự trong các vấn đề sau đây:

 

1 Tội diệt chủng;

 

2. Tội ác chống nhân loại theo luật hình sự quốc tế;

 

3. Tội phạm chiến tranh;

 

4. Các hành vi nhắm tới và thực hiện với ý định làm xáo trộn quan hệ hòa bình giữa các quốc gia (khoản (1) Điều 26);

 

5. An ninh quốc gia.

 

Điều 97 [Độc lập tư pháp]

 

(1) Các thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

 

(2) Các thẩm phán được bổ nhiệm vĩnh viễn cho vị trí toàn thời gian để chỉ có thể bị sa thải vĩnh viễn hoặc tạm thời, luân chuyển hoặc nghỉ hưu trước khi hết hạn nhiệm kỳ theo quyết định của cơ quan tư pháp và chỉ do những lý do và cách thức được luật quy định. Cơ quan lập pháp có thể thiết lập giới hạn tuổi nghỉ hưu của các thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời. Trong trường hợp có sự thay đổi trong cơ cấu của tòa án hoặc ở các khu vực, các thẩm phán có thể được luân chuyển tới tòa án khác hoặc bị bãi miễn, miễn là giữ nguyên tiền lương đầy đủ của họ.

 

Điều 98 [Địa vị pháp lý của thẩm phán – việc buộc tội]

 

(1) Tư cách pháp lý của thẩm phán liên bang được quy định bởi một đạo luật liên bang.

 

(2) Nếu một thẩm phán liên bang vi phạm các nguyên tắc của Hiến pháp Liên bang hoặc trật tự hiến pháp của Bang bằng nghề nghiệp chính thức của mình hoặc một cách không chính thức, Tòa án Hiến pháp Liên bang, theo đề nghị của 2/3 thành viên Thượng viện yêu cầu thẩm phán phải bị luân chuyển hoặc nghỉ hưu. Trong trường hợp vi phạm do cố ý, Tòa án có thể ra lệnh miễn nhiệm thẩm phán.

 

(3) Tư cách pháp lý của thẩm phán tại các Bang sẽ được quy định bởi các đạo luật cụ thể của Bang nếu điểm 27 của khoản (1) Điều 74 không có quy định khác.

 

(4) Các Bang phải quy định rằng các thẩm phán bang được chọn mang tính phối hợp bởi Bộ trưởng Tư pháp bang và Ủy ban tuyển chọn thẩm phán.

 

(5) Các Bang có thể ban hành các quy định về thẩm phán Bang tương ứng với các quy định tại khoản (2) Điều này. Hiến pháp Liên bang hiện hành sẽ không bị ảnh hưởng. Các phán quyết trong trường hợp luận tội tư pháp thuộc về Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

Điều 99 [Tranh chấp về hiến pháp trong Bang]

 

Luật của Bang có thể trao việc phán quyết về tranh chấp trong hiến pháp trong một Bang cho Tòa án Hiến pháp Liên bang, và phán quyết cuối cùng về các vấn đề liên quan đến áp dụng luật Bang cho các tòa án tối cao quy định tại khoản (1) Điều 95.

 

Điều 100 [Giám sát tư pháp cụ thể]

 

(1) Nếu một tòa án kết luận rằng một đạo luật mà nó phải dựa vào để ra phán quyết là trái với Hiến pháp, tiến trình tố tụng phải được hoãn lại để tòa án Bang có thẩm quyền xét xử tranh chấp hiến pháp ra phán quyết khi kết luận là hiến pháp Bang đã bị vi phạm, hoặc Tòa án Hiến pháp Liên bang ra phán quyết khi Hiến pháp Liên bang đã bị vi phạm. Quy định này cũng được áp dụng khi một luật Bang vi phạm Hiến pháp Liên bang và khi một luật Bang trái với luật liên bang.

 

(2) Nếu trong quá trình tố tụng, có sự nghi ngờ rằng một quy tắc của luật pháp quốc tế là một phần không tách rời của luật liên bang và liệu nó có trực tiếp tạo ra các quyền và nghĩa vụ cá nhân (Điều 25), thì tòa án phải xin quyết định của Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

(3) Nếu tòa án hiến pháp của một Bang, khi giải thích Hiến pháp Liên bang, dự kiến quyết định khác với phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang hay của tòa án hiến pháp của Bang khác, phải xin quyết định từ Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

Điều 101 [Cấm các tòa án đặc biệt]

 

(1) Không tồn tại các tòa án đặc biệt. Không ai có thể bị tước quyền được phán xét bởi các thẩm phán hợp pháp.

 

(2) Các tòa án trong các lĩnh vực pháp luật cụ thể chỉ có thể được thiết lập bởi một đạo luật.

 

Điều 102 [Xóa bỏ hình phạt tử hình]

 

Hình phạt tử hình được bãi bỏ

 

Điều 103 [Xét xử công bằng]

 

(1) Trước các tòa án, mọi người đều được xét xử đúng theo quy định của luật.

 

(2) Một hành vi chỉ có thể bị trừng phạt nếu một đạo luật đã xác định nó là một hành vi phạm tội hình sự trước khi hành vi đó diễn ra.

 

(3) Không ai có thể bị trừng phạt nhiều hơn một lần đối với một hành vi theo luật hình sự chung.

 

Điều 104 [Tước tự do]

 

(1) Tự do của con người chỉ có thể bị hạn chế phù hợp với một luật tố tụng và phù hợp với các thủ tục quy định trong đó. Những người bị giam giữ không thể bị ngược đãi về tinh thần hoặc thể chất.

 

(2) Chỉ thẩm phán mới có thể ra phán quyết để chấp nhận hoặc tiếp tục việc tước quyền tự do. Nếu việc tước quyền tự do không dựa vào một quyết định của tư pháp thì quyết định đó phải được thu hồi ngay lập tức. Cảnh sát không thể tạm giữ một người quá một ngày. Các chi tiết được quy định bởi luật.

 

(3) Một người bị tạm giữ do nghi ngờ phạm một tội phải được đưa ra trước thẩm phán trong vòng một ngày sau khi bị bắt; thẩm phán có trách nhiệm thông báo cho nghi can về những lý do của việc bắt giữ, lấy lời khai và để người đó có cơ hội để lên tiếng phản đối. Thẩm phán, không chậm trễ, đưa ra một lệnh bắt giữ bằng văn bản nêu lên các lý do hoặc yêu cầu trả tự do cho nghi can.

 

(4) Một người thân thích hoặc một người được người bị tạm giam tin cậy phải được thông báo không chậm trễ về quyết định tư pháp áp dụng hoặc tiếp tục bị tước quyền tự do.

 

X. TÀI CHÍNH

 

Điều 104a [Phân bổ chi phí – hệ thống tài chính – trách nhiệm]

 

(1) Liên bang và các Bang chi tiêu độc lập để thực hiện các nghĩa vụ của mình khi Luật Cơ bản này không có quy định khác.

 

(2) Trường hợp các Bang hành động theo ủy quyền của Liên bang,Liên bang sẽ trả các khoản chi phí phát sinh.

 

(3) Các luật liên bang về các khoản tiền tài trợ được quản lý bởi các Bang có thể quy định rằng Liên bang có trách nhiệm trả toàn bộ hoặc một phần số tiền tài trợ đó. Nếu luật đó quy định rằng Liên bang sẽ tài trợ một nửa hoặc nhiều hơn, nó sẽ được thực hiện bởi các Bang theo ủy quyền Liên bang.

 

(4) Các luật Liên bang xác lập nghĩa vụ của các Bang về cung cấp tiền trợ cấp, các tài sản có giá trị quy đổi được thành tiền hoặc các dịch vụ có giá trị tương tự đối với bên thứ ba và do các Bang thực thi theo thẩm quyền của mình hoặc theo ủy quyền của Liên bang theo câu thứ hai của khoản (3), cần phải có sự đồng ý của Thượng viện nếu các bang phải chịu các khoản chi phát sinh từ các hoạt động đó.

 

(5) Liên bang và các Bang cấp kinh phí cho các khoản chi tiêu hành chính phát sinh từ các cơ quan chức năng của mình và cùng nhau chịu trách nhiệm để đảm bảo quản lý thích hợp. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện.

 

(6) Căn cứ vào việc phân công nhiệm vụ và thẩm quyền, Liên bang và các Bang chịu trách nhiệm đối với các khoản chi phí do vi phạm các nghĩa vụ quốc tế của Đức. Trong các trường hợp có sự điều chỉnh tài chính của Liên minh châu Âu vượt ra ngoài khuôn khổ của một bang thì Liên bang và các Bang chịu trách nhiệm về các khoản chi phí này theo tỷ lệ 15 và 85. Trong các trường hợp này, toàn bộ khoản chi của các bang với sự liên kết là 35% của toàn bộ khoản chi,50 % của toàn bộ khoản chi do các bang gây ra các khoản chi này chịu trách nhiệm theo tỷ lệ phù hợp với mức tài chính đã nhận được. Các chi tiết được quy định bởi một đạo luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện.

 

Điều 104 b [Hỗ trợ tài chính cho đầu tư]

 

(1) Liên bang, trong chừng mực Luật Cơ bản này trao cho thẩm quyền lập pháp, có thể bảo đảm cho các Bang sự hỗ trợ tài chính cho các dự án đầu tư đặc biệt có ý nghĩa của các Bang và các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng) mà các dự án là cần thiết để:

 

1. Ngăn chặn sự mất cân đối của toàn bộ nền kinh tế;

 

2. Bù đắp cho khả năng kinh tế khác nhau trong lãnh thổ liên bang;

 

3. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khác với quy định tại câu thứ nhất, Liên bang cũng có thể bảo đảm sự hỗ trợ kinh phí mà không cần có thẩm quyền lập pháp trong trường hợp thiên tai hoặc tình huống đặc biệt khẩn cấp ngoài tầm kiểm soát của chính quyền và có tác hại nghiêm trọng đối với tài chính nhà nước.

 

(2) Các chi tiết cụ thể, đặc biệt là về các hình thức thúc đẩy đầu tư, được quy định bởi luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện hoặc trên cơ sở của luật ngân sách liên bang. Các khoản này có thời hạn nhất định và được kiểm tra thường xuyên. Việc hỗ trợ tài chính phải được phân bổ theo thời gian với các khoản bổ sung hàng năm.

 

(3) Hạ viện, Chính phủ liên bang và Thượng viện phải được thông báo, khi có yêu cầu, về việc thực hiện các biện pháp đó và những tiến bộ đạt được.

 

Điều 105 [Phân quyền liên quan đến luật thuế]

 

(1) Liên bang có toàn quyền lập pháp đối với thuế hải quan và độc quyền tài chính.

 

(2) Liên bang có quyền lập pháp song trùng đối với tất cả các loại thuế khác trong đó doanh thu từ tích lũy toàn bộ hoặc một phần mà các điều kiện quy định tại khoản (2) Điều 72 được áp dụng. (2a) Các Bang có quyền lập pháp đối với các loại thuế chi tiêu và tiêu thụ tại địa phương, chừng nào loại thuế này không cùng loại với loại thuế đã được luật liên bang quy định. Các Bang có quyền xác định mức thuế suất thuế chuyển nhượng bất động sản.

 

(3) Luật liên bang liên quan đến thuế mà việc thu thuế do các Bang hoặc các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng) đảm nhận, cần phải có sự đồng ý của Thượng viện.

 

Điều 106 [Phân chia thuế và lợi nhuận độc quyền tài chính]

 

(1) Các lợi nhuận từ độc quyền tài chính và doanh thu từ thuế sau đây thuộc về Liên bang:

 

1. Thuế hải quan;

 

2. Thuế tiêu thụ trong chừng mực chúng không thuộc về các Bang theo khoản (2), hoặc cùng thuộc về Liên bang và các Bang theo quy định của khoản (3), hoặc Cộng đồng theo khoản (6) Điều này;

 

3. Thuế vận tải hàng hóa đường bộ, thuế xe cơ giới, và các loại thuế khác về giao dịch liên quan đến xe cơ giới;

 

4. Các loại thuế đánh vào các giao dịch vốn, bảo hiểm và hối phiếu;

 

5. Các khoản thu về tài sản không định kỳ và sự cân bằng các khoản thu thuế;

 

6. Thu nhập và thuế lợi tức lũy tiến của công ty;

 

7. Các khoản thu áp đặt trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu.

 

(2) Doanh thu từ các loại thuế sau đây thuộc về các Bang:

 

1. Thuế tài sản;

 

2. Thuế thừa kế;

 

3. Thuế xe cơ giới;

 

4. Thuế về giao dịch không thuộc về Liên bang theo quy định tại khoản (1) hoặc cùng thuộc về Liên bang và các Bang theo quy định ở khoản (3) Điều này;

 

5. Thuế bia;

 

6. Thuế về việc thành lập cơ sở cờ bạc.

 

(3) Các khoản thu từ thuế thu nhập, thuế công ty và thuế doanh thu cùng thuộc về Liên bang và các Bang (Thuế chung) chừng nào thuế thu nhập và thuế doanh thu không được phân bổ cho thành phố tự trị theo khoản (5) và (5a) của Điều này. Liên bang và các bang chia sẻ bình đẳng doanh thu từ thuế thu nhập và thuế công ty. Phần thu của Liên bang và các Bang từ thuế được xác định bởi luật liên bang với sự đồng ý của Thượng viện. Việc xác định như vậy được dựa trên các nguyên tắc sau đây:

 

1. Liên bang và các Bang sẽ có quyền ngang nhau về nguồn thu bù cho các khoản chi cần thiết. Phạm vi của các chi tiêu đó sẽ được quyết định với sự quan tâm đúng mức đến kế hoạch tài chính nhiều năm.

 

2. Các nhu cầu tài chính của Liên bang và các Bang sẽ được điều phối để có sự cân bằng, tránh tạo gánh nặng lớn cho người đóng thuế, bảo đảm công bằng về mức sống trên khắp lãnh thổ liên bang.

 

Điều 106A [Liên bang trợ cấp cho giao thông công cộng địa phương]

 

Từ ngày 1 tháng 1 năm 1996, các Bang có quyền nhận phân bổ khoản thu thuế liên bang vì các mục đích giao thông công cộng địa phương. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang với sự tán thành của Thượng viện. Phân bổ được thực hiện theo câu đầu tiên của Điều này không cần xem xét khi xác định khả năng tài chính của một Bang theo khoản (2) Điều 107.

 

Điều 106b [Các Bang cùng hưởng thuế xe cơ giới]

 

Từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, sau khi nộp thuế xe cơ giới cho Liên bang, các Bang được hưởng một khoản thu từ nguồn thuế của Liên bang. Các tin chi tiết được quy định bởi luật liên bang với sự tán thành của Thượng viện.

 

Điều 107 [Phân bổ thuế - cân bằng tài chính giữa các bang – trợ cấp bổ sung]

 

(1) Nguồn thu thuế của bang và phần của bang trong nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp được trao cho từng bang trong chừng mực các thuế được cơ quan tài chính thu trong lãnh thổ của họ (nguồn thu của địa phương). Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế đối với lương, việc phân định cũng như cách thức và phạm vi phân bổ nguồn thu của địa phương được quy định chi tiết trong một luật liên bang có sự đồng ý của Thượng viện. Đạo luật đó cũng có thể quy định về việc phân định và phân bổ nguồn thu các thuế khác của địa phương. Phần của các Bang trong nguồn thu từ thuế doanh thu được chuyển cho từng bang căn cứ vào số lượng dân cư của Bang; một luật liên bang có sự đồng ý của Thượng viện có thể chuyển một phần bổ sung, không quá 1/4 phần của Bang cho các bang mà phần thu của họ từ thuế bang, thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định tại Điều 106b dưới mức trung bình của tất cả các Bang; đối với thuế chuyển nhượng bất động sản, cần cân nhắc đến khả năng nộp thuế.

 

(2) Luật như vậy cần bảo đảm rằng năng lực tài chính của các Bang phải được điều chỉnh hợp lý, có sự quan tâm đến năng lực tài chính và nhu cầu của các cộng đồng (hiệp hội cộng đồng). Luật cụ thể hóa các điều kiện cho phép các Bang yêu cầu cân đối các khoản chi trả và các trách nhiệm của các Bang cũng như các tiêu chí xác định các khoản chi trả đó. Luật cũng có thể quy định các khoản viện trợ bởi Liên bang cho các Bang yếu kém về năng lực tài chính để bổ sung cho nhu cầu tài chính chung của họ (trợ cấp bổ sung).

 

Điều 108 [Quản lý tài chính của Liên bang và các bang - Tòa án tài chính]

 

(1) Thuế hải quan, độc quyền tài chính, thuế tiêu thụ được quy định bởi luật liên bang, bao gồm cả thuế doanh thu trên hàng nhập khẩu, thuế xe cơ giới và các loại thuế giao dịch khác liên quan đến xe cơ giới, kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2009, và phí áp dụng trong khuôn khổ của Cộng đồng châu Âu được quản lý bởi cơ quan tài chính liên bang. Tổ chức của các cơ quan đó được quy định bởi luật liên bang. Khi cơ quan đó đã được thiết lập, người đứng đầu các cơ quan được bổ nhiệm có sự tham vấn với chính quyền Bang.

 

(2) Tất cả các loại thuế khác sẽ được quản lý bởi cơ quan tài chính các Bang. Việc tổ chức các cơ quan này và việc đào tạo thống nhất các công chức dân sự được quy định bởi luật liên bang với sự tán thành của Thượng viện. Khi các cơ quan này đã được thành lập, người đứng đầu các cơ quan được bổ nhiệm có sự chấp thuận của Chính phủ liên bang.

 

(3) Mức độ thuế tích luỹ toàn bộ hoặc một phần tới Liên bang được quản lý bởi các cơ quan doanh thu của các bang, những cơ quan hành động theo ủy quyền của Liên bang. Các khoản (3) và (4) của Điều 85 được áp dụng, quy định Bộ trưởng Tài chính liên bang sẽ vào vị trí của Chính phủ liên bang.

 

(4) Để thực thi các luật thuế được thuận lợi hay hiệu quả, một đạo luật liên bang với sự tán thành của Thượng viện có thể quy định sự phối hợp giữa Liên bang và cơ quan tài chính Bang trong các vấn đề quản lý thuế, quản lý thuế được nêu trong khoản (1) Điều này bởi cơ quan tài chính bang, hoặc việc quản lý các loại thuế khác bởi cơ quan tài chính liên bang. Đối với các loại thuế chỉ được nộp cho các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng), việc quản lý thuế có thể được ủy quyền bởi các Bang tới cho các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng) toàn bộ hoặc một phần.

 

(5) Các cơ quan tài chính liên bang tuân thủ các thủ tục được quy định bởi một đạo luật liên bang. Các các cơ quan tài chính bang hoặc, như quy định bởi câu thứ hai của khoản (4) của Điều này, các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng) tuân thủ các thủ tục được được quy định bởi luật liên bang được sự tán thành của Thượng viện.

 

(6) Thẩm quyền tài chính được quy định thống nhất bởi một luật liên bang.

 

(7) Chính phủ Liên bang có thể ban hành các quy tắc hành chính chung, đến phạm vi quản lý được giao cho cơ quan tài chính của Bang hoặc các Cộng đồng (các hiệp hội Cộng đồng), được sự tán thành của Thượng viện.

 

Điều 109 [Quản lý ngân sách Liên bang và các Bang]

 

(1) Liên bang và các Bang tự quản và độc lập với nhau trong việc quản lý ngân sách riêng.

 

(2) Liên bang và các Bang thực hiện các nghĩa vụ chung của Cộng hòa Liên bang Đức theo các văn kiện pháp lý của Cộng đồng châu Âu để duy trì kỷ luật ngân sách theo quy định tại Điều 104 Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu và thực thi nhiệm vụ liên quan tới các đòi hỏi để cân bằng toàn bộ nền kinh tế.

 

(3) Ngân sách của Liên bang và các Bang về nguyên tắc được cân bằng mà không có nguồn thu từ các khoản vay. Liên bang và các Bang có thể đưa ra những quy tắc để xem xét, cân đối những ảnh hưởng của sự phát triển thị trường đi chệch khỏi những điều kiện bình thường, cũng như trường hợp ngoại lệ vì thiên tai hoặc các tình huống khẩn cấp bất thường vượt ra ngoài sự kiểm soát của chính phủ và nguy hại đáng kể tới khả năng tài chính của nhà nước. Đối với các trường hợp đặc biệt đó, kế hoạch khấu hao tương ứng phải được thông qua. Các chi tiết về ngân sách của Liên bang sẽ được điều chỉnh bởi Điều 115 với điều kiện phù hợp với câu đầu tiên của khoản này, nếu nguồn thu từ các khoản vay không vượt quá 0,35% tổng sản phẩm quốc nội danh nghĩa. Các bang tự quy định chi tiết cho ngân sách trong khuôn khổ quyền hạn hiến định, với điều kiện là câu đầu tiên chỉ được coi là phù hợp nếu không cho phép thu từ các khoản vay.

 

(4) Một đạo luật liên bang được sự tán thành của Thượng viện có thể thiết lập các nguyên tắc áp dụng cho cả Liên bang và các Bang điều chỉnh về luật ngân sách, việc đáp ứng của quản lý ngân sách trước các xu hướng kinh tế và kế hoạch tài chính dài hạn.

 

(5) Các chế tài được áp đặt bởi Cộng đồng châu Âu trên cơ sở các quy định của Điều 104 của Hiệp ước Thành lập Cộng đồng châu Âu nhằm duy trì kỷ luật ngân sách, được gánh bởi Liên bang và các bang theo tỷ lệ 65% đến 35%. Theo tinh thần đoàn kết, toàn bộ các Bang phải chịu 35% chi phí tỷ lệ với số lượng dân cư các Bang; 65% toàn bộ khoản chi mà các Bang phải chịu tỷ lệ với mức độ lỗi. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang được sự tán thành của Thượng viện

 

Điều 109a [Ngân sách khẩn cấp]

 

Để tránh tình trạng khủng hoảng ngân sách, một luật liên bang được sự tán thành của Thượng viện quy định về:

 

1. Sự giám sát liên tục đối với quản lý ngân sách của Liên bang và các bang bởi một cơ quan chung (Hội đồng ổn định),

 

2. Các điều kiện và thủ tục nhằm xác định tình trạng khủng hoảng ngân sách sắp xảy ra.

 

3. Các nguyên tắc cho việc thành lập và quản lý các chương trình liên quan đến ngân sách khẩn cấp. Các quyết định của Hội đồng ổn định và các tài liệu đi kèm sẽ được xuất bản.

 

Điều 110 [Ngân sách Liên bang]

 

(1) Tất cả các khoản thu và chi của Liên bang đều được tính vào ngân sách; đối với các doanh nghiệp liên bang và quỹ đặc biệt, chỉ các thanh toán hoặc việc chi trả bởi chúng được tính vào ngân sách. Ngân sách được cân đối giữa các khoản thu và chi.

 

(2) Ngân sách cho một hoặc nhiều năm tài chính được quy định trong một đạo luật được ban hành trước thời điểm bắt đầu của năm đầu tiên và có các quy định riêng biệt cho mỗi năm. Luật có thể quy định các bộ phận khác nhau của ngân sách áp dụng cho các giai đoạn khác nhau, chia theo các năm tài chính.

 

(3) Các dự luật tuân theo câu đầu tiên của khoản (2) Điều này cũng như các dự luật để sửa đổi Luật Ngân sách hay chính ngân sách sẽ được đệ trình cùng một lúc tới Thượng viện và Hạ viện; Thượng viện có quyền nêu ý kiến về các dự luật đó trong vòng 6 tuần hoặc, đối với các dự luật sửa đổi, trong vòng 3 tuần.

 

(4) Luật Ngân sách chỉ có thể chứa đựng những quy định như liên quan tới các khoản thu và chi của liên bang và thời hạn áp dụng. Luật Ngân sách có thể cụ thể rằng các quy định sẽ hết hiệu lực khi ban hành Luật Ngân sách tiếp theo hoặc, trong trường hợp có một ủy quyền theo

 

Điều 115, vào một ngày muộn hơn.

 

Điều 111 [Quản lý ngân sách thời kỳ chuyển đổi]

 

(1) Nếu, vào cuối năm tài chính, ngân sách cho những năm sau không được thông qua bởi một luật, Chính phủ Liên bang có thể chi các khoản cần thiết sau đây cho đến khi luật đó có hiệu lực:

 

a) Để duy trì các tổ chức được thành lập theo quy định của luật và tiến hành các biện pháp luật định;

 

b) Để đáp ứng các nghĩa vụ pháp lý của Liên bang;

 

c) Để tiếp tục các dự án xây dựng, mua sắm và cung cấp các lợi ích hay dịch vụ khác, hoặc để tiếp tục chi trả cho các mục đích, đến mức chi ngân sách của năm trước đó;

 

(2) Trong trường hợp các khoản thu theo một đạo luật cụ thể, các khoản thuế, phí, nguồn vốn dự trữ cho sản xuất hay nguồn khác không đáp ứng đủ các khoản chi quy định trong khoản (1) Điều này, Chính phủ Liên bang có thể vay tín dụng cần thiết để duy trì hoạt động hiện tại lên đến tối đa là 1/4 tổng số tiền của ngân sách năm trước đó.

 

Điều 112 [Chi ngân sách đặc biệt]

 

Các khoản chi phí vượt hoặc nằm ngoài kế hoạch ngân sách cần phải có sự đồng ý của Bộ trưởng Tài chính Liên bang. Sự đồng ý như vậy chỉ có thể được đưa ra trong trường hợp nhu cầu là không lường trước được và không thể tránh được. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 113 [Gia tăng chi tiêu]

 

(1) Luật tăng chi ngân sách sẽ được đề xuất bởi Chính phủ Liên bang, luật làm phát sinh những chi phí mới cần có sự đồng ý của Chính phủ Liên bang. Điều này cũng được áp dụng đối với luật làm giảm nguồn thu. Chính phủ liên bang có thể yêu cầu Hạ viện hoãn lại việc bỏ phiếu thông qua luật này. Trong trường hợp này, Chính phủ Liên bang trình ý kiến lên Hạ viện trong vòng 6 tuần.

 

(2) Trong thời hạn 4 tuần sau khi Hạ viện thông qua luật, Chính phủ Liên bang có thể yêu cầu xem xét lại luật này.

 

(3) Nếu dự luật trở thành luật theo Điều 78, Chính phủ Liên bang có thể rút lại sự đồng ý trong vòng 6 tuần và chỉ sau khi đã bắt đầu các thủ tục được quy định trong câu thứ ba và thứ tư của khoản (1) hoặc tại khoản (2) Điều này. Khi hết thời hạn này, sự đồng ý coi như đã được đưa ra.

 

Điều 114 [Báo cáo và kiểm toán]

 

(1) Vì mục đích thực thi nhiệm vụ của Chính phủ Liên bang, Bộ trưởng Tài chính Liên bang hàng năm phải nộp Hạ viện và Thượng viện một báo cáo tài chính về tất cả các khoản thu và chi, cũng như tài sản và các khoản nợ trong năm tài chính.

 

(2) Tòa Kiểm toán Liên bang, mà các thành viên có sự độc lập tư pháp, có trách nhiệm kiểm toán báo cáo và xác định về việc ngân sách đã được quản lý chính xác và hiệu quả. Tòa Kiểm toán phải gửi báo cáo hàng năm trực tiếp đến Hạ viện và Thượng viện, cũng như Chính phủ Liên bang. Về các vấn đề khác, quyền hạn của Tòa Kiểm toán Liên bang được quy định bởi luật liên bang.

 

Điều 115 [Hạn chế vay mượn]

 

(1) Việc tiếp nhận các khoản vay và cung cấp các dịch vụ bảo đảm, bảo lãnh hoặc các cam kết khác có thể dẫn đến các khoản chi trong năm tài chính tương lai cần phải có sự ủy quyền bởi một luật liên bang xác định mức cụ thể.

 

(2) Các khoản thu và chi về nguyên tắc phải được cân đối mà không cần nguồn thu từ các khoản vay. Nguyên tắc này được thỏa mãn khi nguồn thu từ việc vay vốn không vượt quá 0,35 % tổng sản phẩm quốc nội danh nghĩa. Thêm vào đó, khi kinh tế phát triển không bình thường, cần xem xét đến ảnh hưởng ngân sách trong giai đoạn phát triển hay suy giảm. Độ chênh lệch của khoản vay thực tế với hạn mức tín dụng quy định theo câu thứ nhất đến câu thứ ba của khoản này được ghi lại trong một tài khoản kiểm soát; các khoản nợ vượt quá ngưỡng 1,5 % tổng sản phẩm quốc nội danh nghĩa được giảm phù hợp với tình hình kinh tế. Quy định chi tiết, đặc biệt là việc điều chỉnh doanh thu và chi tiêu đối với những giao dịch tài chính và thủ tục liên quan đến việc tính toán giới hạn hàng năm về vay nợ ròng, có tính đến chu kỳ kinh tế trên cơ sở của một thủ tục để điều chỉnh chu kỳ cùng với sự kiểm soát và cân đối của độ lệch vay thực tế từ các hạn mức tín dụng, theo quy định của luật liên bang. Trong trường hợp xảy ra thảm họa tự nhiên hoặc trường hợp tình huống khẩn cấp bất thường nằm ngoài tầm kiểm soát của chính phủ và gây hại đáng kể cho khả năng tài chính của nhà nước, các hạn mức tín dụng có thể được vượt quá trên cơ sở quyết định của đa số thành viên Hạ viện. Quyết định này đi kèm với một kế hoạch trả nợ. Việc trả các khoản tín dụng vay quy định tại câu thứ 6 của khoản này phải được thực hiện trong một thời hạn thích hợp.

 

Xa. TÌNH TRẠNG PHÒNG THỦ

 

Điều 115a [Tuyên bố tình trạng phòng thủ]

 

(1) Bất kỳ việc xác định rằng lãnh thổ liên bang đang bị tấn công hoặc sắp xảy cuộc tấn công bởi lực lượng vũ trang (tình trạng phòng thủ) sẽ được đưa ra bởi Hạ viện với sự tán thành của Thượng viện. Việc xác định như vậy được thực hiện theo đề nghị của Chính phủ Liên bang và yêu cầu 2/3 số phiếu tán thành, với sự có mặt của đa số các thành viên của Hạ viện.

 

(2) Nếu tình trạng bắt buộc phải cần có hành động ngay lập tức, và nếu những trở ngại không thể vượt qua ngăn cản việc triệu tập kịp thời Hạ viện hoặc Hạ viện không thể tập hợp đại biểu, Ủy ban Hỗn hợp sẽ thực hiện việc xác định này bởi 2/3 số phiếu tán thành, với sự có mặt của đa số các thành viên.

 

(3) Việc xác định được ban hành bởi Tổng thống Liên bang trong luật Công báo liên bang theo Điều 82. Nếu điều này không thể được thực hiện đúng thời hạn, việc ban hành có được thực hiện theo cách khác; việc xác định được in trong Công báo Luật Liên bang ngay sau khi hoàn cảnh cho phép.

 

(4) Nếu lãnh thổ liên bang bị tấn công bởi lực lượng vũ trang, và nếu cơ quan có thẩm quyền liên bang không kịp ngay lập tức thực hiện việc xác định tình trạng được quy định trong câu đầu tiên của khoản (1). Điều này, việc xác định được coi là đã được thực hiện và ban hành tại thời điểm cuộc tấn công bắt đầu. Tổng thống Liên bang công bố thời gian đó ngay sau khi hoàn cảnh cho phép.

 

(5) Nếu việc xác định tình trạng phòng thủ đã được ban hành, và nếu lãnh thổ liên bang đang bị tấn công bởi lực lượng vũ trang, Tổng thống Liên bang, với sự tán thành của Hạ viện, có thể ban hành những tuyên bố theo quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến sự hiện diện tình trạng phòng thủ. Theo những điều kiện được quy định tại khoản (2) của Điều này, Ủy ban Hỗn hợp sẽ hoạt động ở vị trí của Hạ viện.

 

Điều 115b [Quyền chỉ huy của Thủ tướng Liên bang]

 

Sau khi có việc ban bố tình trạng phòng thủ, quyền chỉ huy các lực lượng vũ trang được trao cho Thủ tướng Liên bang.

 

Điều 115c [Việc mở rộng các quyền lập pháp của Liên bang]

 

(1) Liên bang có quyền lập pháp song trùng về tình trạng phòng thủ, ngay cả đối với các vấn đề thuộc quyền lập pháp của các Bang. Các luật như vậy phải có sự tán thành của Thượng viện.

 

(2) Theo nhu cầu của tình trạng phòng thủ, một luật liên bang về tình trạng phòng thủ có thể:

 

1. Đề ra những quy định tạm thời liên quan đến việc bồi thường trong trường hợp tước quyền sở hữu ngoài những trường hợp nêu tại câu thứ hai của khoản (3) Điều 14;

 

2. Thiết lập một thời hạn tước quyền tự do khác với quy định tại câu thứ ba của khoản (2) và câu thứ nhất của khoản (3) Điều 104, nhưng không quá 4 ngày, đối với các trường hợp mà thẩm phán không thể làm việc trong thời hạn thường áp dụng.

 

(3) Theo nhu cầu nhằm đẩy lùi một cuộc tấn công đang tồn tại hoặc sắp xảy ra, một luật liên bang về tình trạng phòng thủ có thể, với sự tán thành của Thượng viện, điều chỉnh việc quản trị và tài chính của Liên bang và các bang mà không theo tiêu đề VIII, VIIIa và X của Luật Cơ bản này, miễn là bảo đảm khả năng duy trì của các Bang, cộng đồng và hiệp hội cộng đồng, đặc biệt là liên quan đến vấn đề tài chính.

 

(4) Các luật liên bang được ban hành theo khoản (1) hoặc đoạn 1 của khoản (2) Điều này có thể, nhằm chuẩn bị cho việc thi hành chúng, được áp dụng ngay trước khi tình trạng phòng thủ xuất hiện.

 

Điều 115d [Dự luật khẩn cấp]

 

(1) Trong thời gian tình trạng phòng thủ, hoạt động lập pháp liên bang được điều chỉnh bởi các quy định của khoản (2) và (3) Điều này mà không liên quan đến các quy định của khoản (2) Điều 76, câu thứ hai của khoản (1), các khoản từ (2) đến (4) Điều 77, Điều 78 và khoản (1) Điều 82.

 

(2) Dự luật Chính phủ Liên bang mà Chính phủ coi là khẩn cấp được chuyển đến Thượng viện vào cùng thời điểm chúng được đệ trình tới Hạ viện. Hạ viện và Thượng viện sẽ nhanh chóng thảo luận về dự án luật này trong phiên họp chung. Khi sự tán thành của Thượng viện là cần thiết cho bất kỳ dự luật nào để trở thành luật, cần có sự chấp thuận của đa số phiếu. Các chi tiết được quy định bởi các quy tắc thủ tục được thông qua bởi Hạ viện và được sự tán thành của Thượng viện.

 

(3) Câu thứ hai của khoản (3) Điều 115a được áp dụng đối với việc ban hành các luật đó với những điều chỉnh.

 

Điều 115e [Ủy ban Hỗn hợp]

 

(1) Nếu, trong thời gian tình trạng phòng thủ, Ủy ban Hỗn hợp bằng 2/3 số phiếu, với sự có mặt của đa số thành viên, xác định rằng những trở ngại không vượt qua được ngăn cản việc triệu tập kịp thời của Hạ viện hoặc Thượng viện không thể triệu tập các đại biểu, Ủy ban hỗn hợp sẽ giữ vị trí của cả Hạ viện và Thượng viện và thực thi quyền hạn như một cơ quan đơn nhất.

 

(2) Luật Cơ bản này không thể được sửa đổi hay bổ sung hoặc đình chỉ toàn bộ hoặc một phần bởi luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn hợp. Ủy ban Hỗn hợp không có quyền hạn ban hành pháp luật theo câu thứ hai của khoản (1) Điều 23, khoản (1) Điều 24, hoặc Điều 29.

 

Điều 115f [Sử dụng Cảnh sát Biên giới Liên bang - Mở rộng quyền hướng dẫn]

 

(1) Trong thời gian tình trạng phòng thủ, Chính phủ Liên bang, theo yêu cầu của hoàn cảnh, có thể:

 

1. Sử dụng Cảnh sát Biên giới Liên bang trên toàn lãnh thổ liên bang;

 

2. Ban hành những hướng dẫn không chỉ cho cơ quan hành chính liên bang mà còn cho cả chính phủ Bang, nếu xét thấy các vấn đề khẩn cấp, cho các cơ quan của Bang, và có thể ủy thác quyền hạn này cho các thành viên của chính phủ Bang được chỉ định bởi nó.

 

(2) Hạ viện, Thượng viện và Ủy ban Hỗn hợp phải được thông báo không chậm trễ các biện pháp thực hiện phù hợp với khoản (1) Điều này.

 

Điều 115g [Tòa án Hiến pháp Liên bang]

 

Địa vị hiến định cũng như việc thực hiện những chức năng hiến định của Tòa án Hiến pháp Liên bang hoặc thẩm phán của Tòa không thể bị thay đổi. Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang có thể được sửa đổi bởi luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn hợp chỉ trong giới hạn Tòa án Hiến pháp liên bang đồng ý là cần thiết để đảm bảo việc nó có thể tiếp tục thực hiện các chức năng của mình. Trong khi chờ ban hành pháp luật, Tòa án Hiến pháp Liên bang có thể có những biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu này. Các quyết định bởi Tòa án Hiến pháp liên bang tuân theo câu thứ hai và câu thứ ba của Điều này được thực hiện bởi đa số các thẩm phán có mặt.

 

Điều 115h [Hết hạn nhiệm kỳ]

 

(1) Bất kỳ nhiệm kỳ bầu cử của Hạ viện hoặc nghị viện Bang nào hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ sẽ kết thúc vào 6 tháng sau khi chấm dứt tình trạng phòng thủ. Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ và việc thực thi chức năng Tổng thống bởi Chủ tịch Thượng viện khi ghế Tổng thống trống sẽ kết thúc vào 9 tháng sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ. Nhiệm kỳ thành viên của Tòa án Hiến pháp Liên bang hết hạn trong thời gian tình trạng phòng thủ sẽ kết thúc vào 6 tháng sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ.

 

(2) Ủy ban hỗn hợp, khi cần phải bầu ra một Thủ tướng Liên bang mới, sẽ thực hiện bằng việc bỏ phiếu đa số thành viên. Tổng thống Liên bang sẽ đề xuất một ứng cử viên cho Ủy ban Hỗn hợp. Ủy ban Hỗn hợp có thể bày tỏ sự bất tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu một người kế nhiệm bởi đa số 2/3 thành viên.

 

(3) Hạ viện không bị giải thể trong khi đang tồn tại tình trạng phòng thủ.

 

Điều 115i [Quyền của chính quyền Bang]

 

(1) Nếu các cơ quan liên bang có thẩm quyền không có khả năng đưa ra các biện pháp cần thiết để ngăn chặn mối nguy hiểm, và nếu tình hình bắt buộc phải cần ngay lập tức hành động độc lập ở những khu vực nhất định của lãnh thổ liên bang, chính phủ bang hoặc cơ quan có thẩm quyền hoặc đại diện được ủy quyền, trong phạm vi thẩm quyền, thực hiện các biện pháp quy định tại khoản (1) Điều 115f.

 

(2) Bất kỳ biện pháp nào được thực hiện phù hợp với khoản (1) Điều này có thể bị hủy bỏ bất cứ lúc nào bởi Chính phủ Liên bang, hoặc, khi liên quan đến các cơ quan có thẩm quyền của Bang và các cơ quan có thẩm quyền liên bang cấp dưới, bởi Bộ trưởng – Thống đốc các Bang.

 

Điều 115k [Phân loại và thời hạn của các điều khoản khẩn cấp]

 

(1) Các luật được ban hành phù hợp với điều 115c, 115e và 115g, cũng như các văn bản quy phạm hướng dẫn được ban hành trên cơ sở những luật đó, đình chỉ áp dụng luật không tương thích miễn là chúng đang có hiệu lực. Quy định này không áp dụng đối với luật được ban hành sớm hơn theo Điều 115c, 115e hoặc 115g.

 

(2) Các luật được thông qua bởi Ủy ban Hỗn hợp, cũng như các văn bản quy phạm hướng dẫn đã được ban hành trên cơ sở những luật đó, hết hiệu lực không muộn hơn 6 tháng sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ. (3 Các luật chứa đựng những quy định bất đồng với các điều 91A,91B, 104a, 106 và 107 không được áp dụng quá thời điểm kết thúc của năm tài chính thứ hai tiếp sau khi kết thúc tình trạng phòng thủ. Sau khi kết thúc như vậy, chúng có thể, với sự tán thành của Thượng viện, được sửa đổi bởi một luật liên bang để trở lại với các quy định của Tiêu đề VIIIa và X.

 

Điều 115l [Bãi bỏ biện pháp khẩn cấp - hòa ước]

 

(1) Hạ viện, với sự tán thành của Thượng viện, có thể bãi bỏ vào bất kỳ thời điểm nào các luật được ban hành bởi Ủy ban Hỗn hợp. Thượng viện có thể yêu cầu Hạ viện đưa ra một quyết định về vấn đề này. Bất kỳ biện pháp nào được thực hiện bởi Ủy ban Hỗn hợp hoặc Chính phủ Liên bang để ngăn chặn một mối nguy hiểm phải được huỷ bỏ nếu Hạ viện và Thượng viện cùng quyết định như vậy.

 

(2) Hạ viện, với sự tán thành của Thượng viện, có thể bất cứ lúc nào, bằng một quyết định được ban hành bởi Tổng thống Liên bang, tuyên bố tình trạng phòng thủ kết thúc. Thượng viện có thể yêu cầu Hạ viện đưa ra một quyết định về vấn đề này. Tình trạng phòng thủ phải được tuyên bố kết thúc không chậm trễ nếu các điều kiện để xác định nó không còn tồn tại.

 

(3) Việc ký kết hòa ước được quy định bởi một luật liên bang.

 

XI. CÁC QUY ĐỊNH CHUYỂN TIẾP

 

Điều 116 [Định nghĩa “người Đức” - Phục hồi quyền công dân]

 

(1) Trừ khi có một luật quy định khác, một người Đức theo nghĩa nghĩa của Luật Cơ bản này là một người có tư cách công dân Đức hoặc người đã được chấp nhận vào lãnh thổ Đế chế Đức (German Reich) tính đến ngày 31 tháng 12 năm 1937 như một người tị nạn hoặc người bị trục xuất có gốc Đức hoặc là vợ chồng hoặc con cháu của người đó.

 

(2) Những người vốn là công dân Đức giữa khoảng thời gian từ ngày 30 tháng 1 năm 1933 đến ngày 8 tháng 5 năm 1945 đã bị tước đoạt tư cách công dân do căn cứ các lý do chính trị, chủng tộc hoặc tôn giáo, và con cháu của họ, sẽ được phục hồi tư cách công dân khi có đơn đề nghị. Họ sẽ được coi là chưa bao giờ bị tước tư cách công dân nếu đã xác lập nơi cư trú ở Đức sau ngày 8 tháng 5 năm 1945 và không thể hiện ý chí ngược lại.

 

Điều 117 [Đình chỉ hiệu lực của hai quyền cơ bản]

 

(1) Luật không phù hợp với khoản (2) Điều 3 của Luật Cơ bản này sẽ còn hiệu lực cho đến khi được sửa lại cho hợp với quy định, nhưng không muộn hơn ngày 31 tháng 3 năm 1953.

 

(2) Những luật hạn chế tự do đi lại do tình hình thiếu hụt nhà ở hiện nay sẽ còn hiệu lực cho đến khi bị bãi bỏ bởi một luật liên bang.

 

Điều 118 [Phân định ranh giới mới của Baden và Württemberg]

 

Việc phân chia lãnh thổ bao gồm Baden, Württemberg - Baden và Württemberg - Hohenzollern thành các Bang có thể được sửa đổi, mà không liên quan đến các quy định của Điều 29, theo thỏa thuận giữa các Bang có liên quan. Nếu không đạt được sự đồng ý, việc sửa đổi được thực hiện bởi một luật liên bang, luật đó có quy định một cuộc trưng cầu tư vấn.

 

Điều 118a [Phân định ranh giới mới của Berlin và Brandenburg]

 

Việc phân chia lãnh thổ bao gồm Berlin và Brandenburg vào thành các Bang có thể được sửa đổi, mà không liên quan đến các quy định của Điều 29, bởi thỏa thuận giữa hai Bang với sự tham gia của những người dân có quyền bỏ phiếu.

 

Điều 119 [Người tị nạn và người bị trục xuất]

 

Trong các vấn đề liên quan đến người tị nạn và người bị trục xuất, đặc biệt khi liên quan đến sự phân bổ giữa các Bang, Chính phủ Liên bang, với sự tán thành của Thượng viện, có thể ban hành các văn bản quy phạm đối với các vấn đề chưa có luật liên bang quy định. Liên quan đến điều này, Chính phủ Liên bang có thể được ủy quyền ban hành những hướng dẫn mang tính cá biệt đối với những trường hợp cụ thể. Trừ khi do áp lực thời gian, những hướng dẫn như vậy được gửi đến các cơ quan cao nhất của Bang.

 

Điều 120 [Chi phí chiếm đóng - chiến phí]

 

(1) Liên bang sẽ chi trả chi phí chiếm đóng và những nghĩa vụ tài chính trong nước và ngoài nước do hậu quả chiến tranh mà luật liên bang quy định cụ thể. Trong trường hợp nghĩa vụ tài chính do chiến tranh đã được quy định bởi luật liên bang vào hoặc trước ngày 1 tháng 10 năm 1969, Liên bang và các Bang phải chi trả các phí tổn theo tỷ lệ được thiết lập bởi luật liên bang. Trong trường hợp nghĩa vụ tài chính do chiến tranh là chưa được hoặc vẫn không được quy định bởi luật liên bang vào hoặc trước ngày 1 tháng 10 năm 1965, đã được các Bang, các cộng đồng (hiệp hội cộng đồng), hoặc các đơn vị khác thực hiện các chức năng của Bang hoặc cộng đồng cung cấp, Liên bang không có nghĩa vụ chi trả chúng sau ngày đó. Liên bang sẽ chịu trách nhiệm trợ cấp các chi phí an sinh xã hội, bao gồm cả bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp xã hội cho những người thất nghiệp. Sự phân bổ nghĩa vụ tài chính do chiến tranh giữa Liên bang và các Bang được thi hành theo quy định của khoản này không làm ảnh hưởng đến bất kỳ luật nào về việc đòi bồi thường hậu quả của chiến tranh.

 

(2) Các khoản thu được chuyển tới Liên bang vào cùng thời điểm nó thừa nhận trách nhiệm về các khoản chi phí nêu tại Điều này.

 

Điều 120a [Thi hành nghĩa vụ bồi thường]

 

(1) Các luật được ban hành nhằm thi hành việc bồi thường thiệt hại quá khứ, với sự tán thành của Thượng viện, có thể quy định rằng việc bồi thường được thực hiện một phần bởi Liên bang và một phần bởi các Bang theo ủy thác của Liên bang, và các quyền liên quan trao cho Chính phủ Liên bang và các cơ quan có thẩm quyền cao nhất của liên bang theo Điều 85 sẽ được trao toàn bộ hoặc một phần cho Cục Bồi thường Liên bang. Khi thực thi quyền hạn, Cục Bồi thường Liên bang không cần phải có sự tán thành của Thượng viện, ngoại trừ trường hợp khẩn cấp, những hướng dẫn của nó được gửi đến cơ quan thẩm quyền Bang cao nhất (Cục Bồi thường Bang).

 

(2) Câu thứ hai của khoản (3) của Điều 87 không bị ảnh hưởng bởi quy định này.

 

Điều 121 [Định nghĩa “đa số thành viên”]

 

Theo nghĩa của Luật Cơ bản này, đa số thành viên của Thượng viện và đa số thành viên của Hội nghị Liên bang là số đông số lượng các thành viên được quy định cụ thể bởi luật.

 

Điều 122 [Ngày chuyển giao quyền lập pháp]

 

(1) Kể từ ngày mà Thượng viện triệu tập lần đầu tiên, các luật chỉ được ban hành bởi các cơ quan lập pháp được thừa nhận bởi Luật Cơ bản này.

 

(2) Các cơ quan lập pháp và các tổ chức tham gia quá trình lập pháp với tư cách tham vấn mà thẩm quyền hết hạn theo khoản (1) Điều này sẽ được giải tán vào ngày đó.

 

Điều 123 [Tiếp tục áp dụng pháp luật có từ trước]

 

(1) Luật có hiệu lực trước khi Thượng viện triệu tập lần đầu tiên sẽ duy trì hiệu lực chừng nào nó không xung đột với Luật Cơ bản này.

 

(2) Tuân thủ các quyền và sự phản đối của các bên quan tâm, những điều ước được ký kết bởi Đế chế Đức có liên quan đến những vấn đề trong phạm vi thẩm quyền lập pháp của các Bang theo Luật Cơ bản này vẫn có hiệu lực, miễn là chúng đang và tiếp tục có giá trị theo các nguyên tắc chung của luật pháp, cho đến khi những điều ước mới được ký kết bởi các nhà chức trách có thẩm quyền theo Luật Cơ bản này, hoặc cho đến khi chúng được chấm dứt theo cách khác như các điều khoản quy định.

 

Điều 124 [Tiếp tục áp dụng luật trong phạm vi quyền lập pháp tuyệt đối]

 

Luật về các vấn đề thuộc quyền lập pháp tuyệt đối của Liên bang sẽ trở thành luật liên bang trong các lĩnh vực mà nó được áp dụng.

 

Điều 125 [Tiếp tục áp dụng luật trong phạm vi quyền lập pháp song trùng]

 

Luật về các vấn đề thuộc về quyền lực lập pháp song trùng của Liên bang sẽ trở thành luật liên bang trong các lĩnh vực mà nó được áp dụng:

 

1. Trong phạm vi nó được áp dụng thống nhất trong một hoặc nhiều khu vực chiếm đóng;

 

2. Trong phạm vi nó là luật mà luật của Đế chế cũ đã được sửa đổi kể từ ngày 8 tháng 5 năm 1945.

 

Điều 125a [Tiếp tục áp dụng luật liên bang – Sự thay thế bởi luật Bang]

 

(1) Luật được ban hành như luật liên bang nhưng theo hiệu lực của việc sửa đổi, bổ sung khoản (1) Điều 74, việc chèn câu thứ 7 của khoản (1) Điều 84, câu thứ hai của khoản (1) Điều 85 hoặc của câu thứ 2 khoản (2a) Điều 105, hoặc vì sự bãi bỏ điều 74A, 75 hoặc câu thứ hai của khoản (3) Điều 98 sẽ không thể được ban hành như luật liên bang nữa, tiếp tục có hiệu lực như luật liên bang. Nó có thể được thay thế bởi luật Bang.

 

(2) Luật được ban hành theo quy định tại khoản (2) Điều 72 mà nó có giá trị đến 15 tháng 11 năm 1994, nhưng do việc sửa đổi, bổ sung khoản (2) Điều 72 sẽ không thể được ban hành như luật liên bang nữa, duy trì hiệu lực như luật liên bang. Một luật liên bang có thể quy định rằng nó có thể được thay thế bởi luật Bang.

 

(3) Luật đã được ban hành như luật Bang, nhưng do việc sửa đổi, bổ sung Điều 73 sẽ không thể được ban hành như luật Bang nữa, tiếp tục có hiệu lực như luật Bang. Nó có thể được thay thế bởi luật liên bang.

 

Điều 125b [Tiếp tục áp dụng các luật khung - Quyền khác biệt của các Bang]

 

(1) Luật được ban hành phù hợp với Điều 75 như quy định đến ngày 1 tháng 9 năm 2006, và có thể được ban hành như luật liên bang thậm chí ngay cả sau ngày này, vẫn có hiệu lực như luật liên bang. Quyền hạn và nhiệm vụ của các bang khi làm luật về vấn đề này không bị ảnh hưởng. Trong các lĩnh vực được đề cập trong câu đầu tiên của khoản (3) Điều 72 các Bang có thể ban hành các quy định có những điểm khác với luật này; tuy nhiên, ở những lĩnh vực được quy định bởi các khoản 2,5 và 6 của câu đầu tiên tại Điều 72, các Bang có thể làm như vậy chỉ khi và trong chừng mực Liên bang đã sử dụng quyền lập pháp để ban hành luật sau ngày 1 tháng 9 năm 2006, trong những lĩnh vực được quy định bởi các khoản 2 và 5 thì chậm nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 2010, trong trường hợp theo quy định của Điều 6 thì chậm nhất là ngày 1 tháng 8 năm 2008.

 

(2) Các Bang có thể ban hành những quy định có điểm khác với những quy định liên bang được ban hành theo khoản (1) Điều 84 như quy định đến ngày 1 tháng 9 năm 2006, tuy nhiên, đến ngày 31 tháng 12 năm 2008, chúng có thể có điểm khác với những quy định về thủ tục hành chính chỉ khi, sau ngày 1 tháng 9 năm 2006, những quy định về thủ tục hành chính trong luật liên bang liên quan đã được sửa đổi.

 

Điều 125c [Tiếp tục áp dụng pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ chung]

 

(1) Luật đã được ban hành theo khoản (2) Điều 91a kết hợp với đoạn 1 của khoản (1) đến ngày 1 tháng 9 năm 2006 sẽ tiếp tục có hiệu lực cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2006.

 

(2) Các quy định được ban hành trong các lĩnh vực cung cấp tài chính cho giao thông đô thị và việc thúc đẩy nhà ở xã hội theo khoản (4) Điều 104a như quy định đến ngày 1 tháng 9 năm 2006 sẽ tiếp tục có hiệu lực cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2006. Các quy định cung cấp tài chính cho giao thông đô thị đối với những chương trình đặc biệt theo khoản (1) Điều 6 của Luật cung cấp tài chính cho giao thông đô thị, cũng như các quy định khác ban hành theo quy định tại khoản (4) Điều 104a như quy định đến ngày 1 tháng 9 năm 2006, sẽ tiếp tục có hiệu lực cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, miễn là không bị bãi bỏ trước đó.

 

Điều 126 [Xác định về việc tiếp tục áp dụng luật như luật liên bang]

 

Những bất đồng liên quan đến việc tiếp tục áp dụng luật như luật liên bang sẽ được giải quyết bởi Tòa án Hiến pháp Liên bang.

 

Điều 127 [Sự mở rộng luật đến các vùng của Pháp và đến Berlin]

 

Trong vòng một năm sau khi ban hành Luật Cơ bản này, Chính phủ Liên bang, với sự đồng ý của các chính quyền của các Bang liên quan, có thể mở rộng phạm vi áp dụng của bất kỳ luật nào của Khu vực kinh tế kết hợp (Combined Economic Area) đến các bang Baden, Greater Berlin, Rhineland - Palatinate và Württemberg Hohenzollern trong phạm vi nó còn hiệu lực như luật liên bang theo điều 124 hoặc 125.

 

Điều 128 [Thẩm quyền tiếp tục ban hành các hướng dẫn]

 

Đối với luật còn duy trì hiệu lực trao thẩm quyền ban hành hướng dẫn theo nghĩa của khoản (5) Điều 84, thẩm quyền này vẫn tồn tại cho đến khi có một luật khác quy định.

 

Điều 129 [Thẩm quyền tiếp tục ban hành các quyết định pháp lý]

 

(1) Đối với các quy định pháp luật còn hiệu lực như luật liên bang trao thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm hoặc những quy tắc hành chính chung hoặc đưa ra các quyết định hành chính trong những trường hợp cá biệt, quyền hạn như vậy phải thông qua các cơ quan mà từ nay về sau có thẩm quyền về vấn đề này. Trong trường hợp nghi ngờ, Chính phủ Liên bang sẽ cùng nhất trí với Thượng viện, quyết định như vậy phải được công bố.

 

(2) Đối với các quy định pháp luật còn hiệu lực như luật Bang trao thẩm quyền, nó phải được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật Bang.

 

(3) Đối với các quy định pháp luật theo nghĩa của khoản (1) và (2) Điều này có thẩm quyền sửa đổi hoặc bổ sung các quy định hoặc ban hành các quy phạm pháp luật có hiệu lực của pháp luật, hay thẩm quyền được coi là đã hết hạn.

 

(4) Các quy định của khoản (1) và (2) Điều này phải áp dụng với những sửa đổi thích đáng đối với những quy định pháp luật mà dẫn chiếu đến những điều khoản không còn hiệu lực hoặc những tổ chức không còn tồn tại.

 

Điều 130 [Sự thuyên chuyển các cơ quan hành chính hiện tại]

 

(1) Các cơ quan hành chính và các tổ chức khác phục vụ hành chính công hoặc hành chính tư pháp và không dựa trên luật Bang hoặc trong những thoả thuận giữa các Bang, cũng như Liên minh Hành chính đường sắt Tây Nam Đức và Hội đồng Hành chính dịch vụ bưu điện và viễn thông cho khu vực chiếm đóng Pháp (French Occupation Zone), được đặt dưới sự kiểm soát của Chính phủ Liên bang. Chính phủ Liên bang, với sự đồng ý của Thượng viện, có trách nhiệm quy định việc chuyển giao, việc giải tán, hoặc việc phá sản chúng.

 

(2) Thẩm quyền kỷ luật tối cao đối với cán bộ các cơ quan hành chính và các tổ chức thuộc về Bộ trưởng Liên bang.

 

(3) Các tập đoàn và các tổ chức theo quy định của luật công không trực tiếp lệ thuộc vào một bang hay dựa trên những thỏa thuận giữa các bang dưới sự giám sát của chính quyền liên bang có thẩm quyền cao nhất.

 

Điều 131 [Những người trước đây trong bộ máy nhà nước]

 

Địa vị pháp lý của những người, gồm người tị nạn và người bị trục xuất, tính đến ngày 8 tháng 5 năm 1945 làm việc trong bộ máy nhà nước, đã rời vị trí vì lý do khác ngoài những lý do được công nhận bởi các quy định về công vụ hoặc những thỏa thuận tập thể, và chưa được sắp xếp lại hoặc được sử dụng ở những vị trí không tương xứng với những vị trí trước đây của họ, được quy định bởi một luật liên bang. Điều tương tự được áp dụng với những sửa đổi đối với những người, gồm những người tị nạn và người bị trục xuất, tính đến ngày 8 tháng 5 năm 1945 đã được hưởng lương hưu và lợi ích có liên quan và những người vì lý do khác ngoài những lý do được công nhận bởi các quy định về công vụ hoặc những thỏa thuận tập thể không còn nhận được lương hưu hoặc lợi ích có liên quan đó. Cho đến khi luật liên bang thích hợp có hiệu lực, không có khiếu nại pháp lý nào được thực hiện, trừ khi có một luật Bang quy định khác.

 

Điều 132 [Nghỉ hưu của công chức]

 

(1) Công chức và thẩm phán đang được hưởng nhiệm kỳ suốt đời khi Luật Cơ bản này có hiệu lực, có thể trong vòng 6 tháng sau khi Thượng viện triệu tập lần đầu tiên, bị đình chỉ, nghỉ hưu, hoặc thuyên chuyển tới vị trí hưởng lương thấp hơn nếu họ thiếu năng lực cá nhân hoặc chuyên môn cho những vị trí hiện tại của mình. Quy định này được áp dụng với những sửa đổi để trả lương cho công nhân viên, khác với các công chức hoặc thẩm phán, những công việc không thể bị chấm dứt tùy ý. Trong trường hợp lương của nhân viên mà việc làm có thể bị chấm dứt tùy ý, các thông báo thời hạn dài hơn so với được thiết lập bởi những thỏa thuận tập thể có thể được huỷ bỏ trong cùng thời hạn.

 

(2) Quy định trên không áp dụng đối với các công chức nhà nước không bị ảnh hưởng bởi các quy định về “Giải phóng khỏi Chủ nghĩa quốc xã và chủ nghĩa quân phiệt” hoặc những người được công nhận là nạn nhân của chủ nghĩa quốc xã, khi thiếu những căn cứ cá nhân quan trọng.

 

(3) Những người bị ảnh hưởng có thể nhờ tới các tòa án phù hợp với khoản (4) Điều 19.

 

(4) Các chi tiết được quy định bởi một văn bản quy phạm được ban hành bởi Chính phủ Liên bang với sự tán thành của Thượng viện.

 

Điều 133 [Kế thừa Cục Quản lý khu vực kinh tế kết hợp]

 

Liên bang kế thừa các quyền và nghĩa vụ của Cục Quản lý khu vực kinh tế kết hợp.

 

Điều 134 [Kế thừa tài sản Đế chế]

 

(1) Các tài sản của Đế chế, về nguyên tắc, trở thành các tài sản liên bang.

 

(2) Đối với những tài sản ban đầu được dự định sử dụng chủ yếu cho các nhiệm vụ hành chính mà Luật Cơ bản này không trao cho Liên bang, chúng sẽ được chuyển giao không phải trả tiền cho các cơ quan hiện có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ đó và đối với những tài sản đó đang được sử dụng, không chỉ tạm thời, vì các nhiệm vụ hành chính theo quy định của Luật Cơ bản này hiện được thực hiện bởi các Bang, chúng được chuyển cho các Bang. Liên bang cũng có thể chuyển tài sản khác cho các Bang.

 

(3) Những tài sản đã được đặt dưới quyền định đoạt của Đế chế mà không phải trả tiền bởi các Bang hoặc các cộng đồng (hiệp hội cộng đồng) được trả lại cho các Bang hoặc các cộng đồng (hiệp hội cộng đồng) trong chừng mực mà Liên bang không cần chúng cho những nhiệm vụ hành chính của mình.

 

(4) Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang với sự tán thành của Thượng viện

 

Điều 135 [Tài sản trong trường hợp thay đổi lãnh thổ giữa các Bang]

 

(1) Nếu sau ngày 8 tháng 5 năm 1945 và trước ngày có hiệu lực của Luật Cơ bản này, một khu vực đã được chuyển từ một Bang sang một Bang khác, Bang mà khu vực đó hiện thuộc về sẽ có quyền về tài sản của Bang mà trước đây khu vực đó thuộc về.

 

(2) Những tài sản của các Bang, các doanh nghiệp nhà nước hoặc các cơ quan không còn tồn tại, khi chúng ban đầu được dự định sử dụng chủ yếu cho nhiệm vụ hành chính hoặc hiện đang được sử dụng, không chỉ tạm thời, phải được chuyển cho Bang, các doanh nghiệp nhà nước hoặc các cơ quan hiện thực thi những nhiệm vụ đó.

 

(3) Bất động sản của các Bang không còn tồn tại, bao gồm những vật phụ thuộc, được trao cho Bang mà nó đặt địa điểm, khi nó không thuộc loại tài sản được nêu trong khoản (1) Điều này.

 

(4) Trong chừng mực lợi ích quan trọng của Liên bang hoặc lợi ích đặc biệt của một khu vực đòi hỏi, một luật liên bang có thể có những quy định khác với các quy tắc quy định tại các khoản (1) tới (3) Điều này.

 

(5) Đối với tất cả các khía cạnh khác, sự kế thừa và sự phân phối những tài sản, trong phạm vi không bị ảnh hưởng trước ngày 1 tháng 1 năm 1952 theo thỏa thuận giữa các Bang bị ảnh hưởng, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật công, được quy định bởi một luật liên bang được sự tán thành của Thượng viện.

 

(6) Những cổ phần của bang trước đây thuộc nước Phổ, trong các doanh nghiệp được thiết lập theo quy định của luật dân sự được chuyển cho Liên bang. Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang, mà cũng có thể có những quy định khác với quy định này.

 

(7) Đối với những tài sản mà, vào ngày Luật Cơ bản này có hiệu lực, đáng lẽ thuộc về một Bang, một doanh nghiệp hoặc cơ quan được thiết lập theo luật công theo khoản (1) tới (3) Điều này, nhưng đã được quyết định bởi hoặc theo luật Bang hoặc theo bất kỳ cách nào khác bởi bên được trao quyền, sự chuyển giao tài sản sẽ được coi là đã xảy ra trước khi có quyết định đó.

 

Điều 135a [Các khoản nợ cũ]

 

(1) Pháp luật liên bang được ban hành theo quy định tại khoản (4) Điều 134 hoặc khoản (5) Điều 135 có thể quy định rằng các khoản nợ sau đây không được thanh toán, hoặc chỉ được thanh toán một phần:

 

1. Các khoản nợ của Đế chế, của Bang cũ thuộc nước Phổ, hoặc các tập đoàn và các tổ chức khác theo luật công hiện không còn tồn tại;

 

2. Các khoản nợ của Liên bang hoặc của các tập đoàn và các tổ chức theo quy định của luật công có liên quan đến việc chuyển giao tài sản theo Điều 89,90,134 hay 135, và các khoản nợ tương tự của các cơ quan này phát sinh từ các biện pháp được thực hiện bởi các cơ quan được nêu tại khoản 1;

 

3. Các khoản nợ của các bang hoặc các cộng đồng (các hiệp hội cộng đồng) phát sinh từ các biện pháp thực hiện bởi họ trước ngày 1 tháng 8 năm 1945 trong khuôn khổ các chức năng hành chính hoặc được ủy quyền bởi Đế chế để tuân theo chỉ đạo của các lực lượng chiếm đóng hoặc chấm dứt tình trạng khẩn cấp trong chiến tranh.

 

(2) Khoản (1) của Điều này được áp dụng với những sửa đổi thích đáng đối với các khoản nợ của Cộng hòa Dân chủ Đức, các thể chế của nó cũng như các khoản nợ của Liên bang hoặc các tập đoàn và các tổ chức khác theo quy định của luật công liên quan đến việc chuyển giao tài sản của Cộng hòa dân chủ Đức cho Liên bang, các Bang hoặc các cộng đồng, và các khoản nợ phát sinh từ các biện pháp được thực hiện bởi Cộng hòa dân chủ Đức hoặc các tổ chức của nó.

 

Điều 136 [Triệu tập Thượng viện lần đầu tiên]

 

(1) Thượng viện triệu tập lần đầu tiên vào ngày Thượng viện họp đầu tiên.

 

(2) Cho đến cuộc bầu cử Tổng thống Liên bang đầu tiên, quyền lực của Tổng thống được thực hiện bởi Chủ tịch Thượng viện. Chủ tịch Thượng viện không có quyền giải tán Thượng viện.

 

Điều 137 [Quyền ứng cử của nhân viên nhà nước]

 

(1) Quyền của các công chức, viên chức hưởng lương khác, thành viên chuyên nghiệp hoặc tự nguyện trong các lực lượng vũ trang và thẩm phán ra ứng cử vào các cuộc bầu cử tại Liên bang, các Bang hoặc các cộng đồng có thể bị hạn chế theo quy định bởi một luật.

 

(2) Cuộc bầu cử ra Thượng viện đầu tiên, Hội nghị Liên bang đầu tiên và Tổng thống Liên bang đầu tiên được điều chỉnh bởi một luật bầu cử được ban hành bởi Hội đồng Nghị viện.

 

(3) Cho đến khi Tòa án Hiến pháp Liên bang được thành lập, quyền lực của nó theo khoản (2) Điều 41 được thực hiện bởi Tòa án Tối cao Đức cho Khu vực kinh tế liên kết, tòa án này ra phán quyết theo những quy tắc thủ tục của nó.

 

Điều 138 [Công chứng viên miền Nam Đức]

 

Các thay đổi khác đối với những quy tắc về nghề công chứng hiện tồn tại ở các Bang Baden, Bavaria, Württemberg Baden và Württemberg - Hohenzollern cần được sự đồng ý của chính phủ các Bang này.

 

Điều 139 [Tiếp tục áp dụng các quy định chống chủ nghĩa quốc xã]

 

Các quy định pháp luật được ban hành để “Giải phóng nhân dân Đức khỏi chủ nghĩa quốc xã và chủ nghĩa quân phiệt” không bị ảnh hưởng bởi các quy định của Luật Cơ bản này.

 

Điều 140 [Luật về các giáo phái tôn giáo]

 

Những quy định của các điều 136,137,138,139 và 141 của Hiến pháp Đức ngày 11 tháng 8 năm 1919 là một phần không thể tách rời của Luật Cơ bản này.

 

Điều 141 [“Điều khoản Bremen”]

 

Câu đầu tiên của khoản (3) Điều 7 sẽ không áp dụng tại bất kỳ Bang nào mà luật Bang có quy định khác tính đến ngày 1 tháng 1 năm 1949.

 

Điều 142 [Bảo lưu các quyền cơ bản trong hiến pháp Bang]

 

Dù có quy định tại Điều 31, những quy định của hiến pháp Bang có hiệu lực trong chừng mực chúng đảm bảo quyền cơ bản phù hợp với Điều 1 đến 18 của Luật Cơ bản này.

 

Điều 142a (đã được bãi bỏ)

 

Điều 143 [Thời hạn được phép khác với Luật Cơ bản]

 

(1) Pháp luật trên lãnh thổ quy định tại Điều 3 của Hiệp ước Thống nhất có thể khác với những quy định của Luật Cơ bản này trong thời hạn không chậm hơn ngày 31 tháng 12 năm 1992 trong phạm vi và với điều kiện là hoàn cảnh khiến không thể thực hiện việc tuân thủ đầy đủ. Sự khác biệt không thể vi phạm khoản (2) Điều 19 và phải phù hợp với các nguyên tắc quy định tại khoản (3) Điều 79.

 

(2) Khác biệt với các Tiêu đề II, VIII, VIIIa, IX, X và XI được phép trong một khoảng thời gian giới hạn không chậm hơn ngày 31 tháng 12 năm 1995.

 

(3) Độc lập với khoản (1) và (2) Điều này, khoản 41 của Hiệp ước Thống nhất và các quy tắc thi hành nó cũng sẽ vẫn có hiệu lực trong chừng mực chúng quy định việc không thể đảo ngược của những hành vi can thiệp vào quyền tài sản trong phạm vi được quy định tại Điều 3 của Hiệp ước này.

 

Điều 143a [Quyền lập pháp tuyệt đối liên quan đến đường sắt liên bang]

 

(1) Liên bang có quyền lập pháp tuyệt đối liên quan tới tất cả các vấn đề phát sinh từ việc chuyển đổi đường sắt liên bang được quản lý bởi Liên bang thành các doanh nghiệp kinh doanh. Khoản (5) Điều 87e áp dụng với những sửa đổi nhất định. Các công chức làm việc trong ngành đường sắt liên bang có thể được phép làm cho đường sắt liên bang được thiết lập theo luật dân sự mà không ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của họ hay trách nhiệm của người sử dụng lao động.

 

(2) Các luật được ban hành theo khoản (1) Điều này được được thực thi bởi Liên bang.

 

(3) Liên bang sẽ tiếp tục chịu trách nhiệm về dịch vụ hành khách địa phương của đường sắt liên bang cho đến ngày 31 tháng 12 năm 1995. Điều này cũng được áp dụng tương với chức năng ứng của quản lý vận tải đường sắt. Các chi tiết được quy định bởi luật liên bang với sự chấp thuận của Thượng viện.

 

Điều 143b [Tư hữu hóa Bundespost Deutsche]

 

(1) Quỹ đặc biệt Deutsche Bundespost được chuyển đổi thành doanh nghiệp theo quy định của luật dân sự phù hợp với luật liên bang. Liên bang có quyền lập pháp tuyệt đối đối với tất cả các vấn đề phát sinh từ sự chuyển đổi này.

 

(2) Các quyền tuyệt đối của Liên bang có trước khi chuyển đổi có thể được chuyển giao bởi luật liên bang trong một thời hạn chuyển tiếp cho các doanh nghiệp kế tục Deutsche Bundespost Postdienst và Deutsche Bundespost Telekom. Liên bang không thể từ bỏ tỷ lệ lớn lợi ích trong các doanh nghiệp kế tục Deutsche Bundespost Postdienst cho đến ít nhất 5 năm sau khi luật có hiệu lực thi hành. Để làm như vậy cần có một luật liên bang với sự chấp thuận của Thượng viện.

 

(3) Các công chức liên bang làm việc cho Deutsche Bundespost được giữ vị trí tại các doanh nghiệp tư nhân kế tục nó, mà không ảnh hưởng đến tình trạng pháp lý của họ hoặc của trách nhiệm của người sử dụng lao động. Các doanh nghiệp thực thi thẩm quyền của người sử dụng lao động. Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang.

 

Điều 143c [Bù đắp cho việc kết thúc các nhiệm vụ chung]

 

(1) Từ ngày 1 tháng 1 năm 2007 cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, các Bang được quyền nhận các khoản thanh toán hàng năm từ ngân sách liên bang như bồi thường cho việc mất mát những đóng góp tài chính liên bang từ việc kết thúc các nhiệm vụ chung về mở rộng và xây dựng các tổ chức giáo dục đại học, bao gồm bệnh viện đại học và lập kế hoạch giáo dục, cũng như để giảm hỗ trợ tài chính cho việc cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông và việc thúc đẩy nhà ở xã hội. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, những khoản tiền này được xác định bằng việc tính bình quân tỷ lệ tài chính Liên bang giai đoạn từ năm 2000 đến 2008.

 

(2) Cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, các khoản thanh toán theo khoản (1) sẽ được phân phối giữa các Bang theo các hình thức:

 

1. Các khoản thanh toán cố định hàng năm mà được xác định theo tỷ lệ của mỗi Bang trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003;

 

2. Các khoản thanh toán dành cho các lĩnh vực của tài chính chung trước đây.

 

(3) Cho đến cuối năm 2013, Liên bang và các Bang có trách nhiệm xét lại mức độ mà các nguồn tài chính được phân bổ cho mỗi Bang theo khoản (1) liệu còn thích hợp và đủ cho việc hoàn thành nhiệm vụ hay không. Bắt đầu từ tháng 1 năm 2014, việc dành riêng quy định tại đoạn 2 khoản (2) về tài chính được phân bổ theo khoản (1) chấm dứt; riêng khối lượng chi cho các mục đích đầu tư thì không thay đổi. Các thỏa thuận theo Thỏa ước Đoàn kết II không bị ảnh hưởng.

 

(4) Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang với sự chấp thuận của Thượng viện.

 

Điều 143d [Các quy định chuyển tiếp liên quan đến hỗ trợ]

 

(1) Các Điều 109 và 115 theo văn bản có hiệu lực đến ngày 31 tháng 7 năm 2009 được áp dụng lần cuối cho ngân sách năm 2010. Các Điều 109 và 115 theo văn bản có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2009 được áp dụng lần đầu tiên cho ngân sách năm 2011; ghi nợ ủy quyền hiện tồn tại ngày 31 tháng 12 năm 2010 cho các quỹ đặc biệt đã được thiết lập sẽ giữ nguyên. Trong thời hạn từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, các Bang có thể, phù hợp với việc áp dụng những quy định pháp luật, có những điểm khác với quy định của khoản (3) Điều 109. Ngân sách của các Bang được lên kế hoạch theo cách mà ngân sách năm 2020 thỏa mãn đòi hỏi tại câu thứ năm của khoản (3) Điều 109. Trong khoảng thời hạn từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 đến ngày 31 tháng 12 năm 2015, Liên bang có thể có những điểm khác với các quy định ở câu thứ hai của khoản (2) Điều 115. Việc giảm thâm hụt ngân sách hiện có nên bắt đầu với ngân sách năm 2011. Ngân sách hàng năm được lên kế hoạch theo phương thức mà ngân sách năm 2016 thỏa mãn đòi hỏi ở câu thứ hai của khoản (2) Điều 115; các chi tiết được quy định bởi luật liên bang.

 

(2) Hỗ trợ cho việc tuân thủ các quy định của khoản (3) Điều 109 sau ngày 1 tháng 1 năm 2020, các Bang Berlin, Bremen, Saarland,Saxony - Anhalt, Schleswig - Holstein có thể nhận được, cho giai đoạn 2011 đến 2019, tài trợ từ ngân sách liên bang với số tiền 800 triệu euro hàng năm. Số tiền tương ứng là 300 triệu euro cho Bremen, 260 triệu euro cho Saarland và 80 triệu euro cho mỗi Bang Berlin, Saxony – Anhalt và Schleswig - Holstein. Hỗ trợ thanh toán được phân bổ trên cơ sở của một thoả thuận hành chính theo các điều khoản của một luật liên bang được sự đồng thuận của Thượng viện. Các khoản tài trợ phải đảm bảo giảm hoàn toàn thâm hụt tài chính vào cuối năm 2020. Các chi tiết, đặc biệt là các bước giảm thâm hụt tài chính hàng năm, sự giám sát việc giảm thâm hụt ngân sách tài chính do Hội đồng ổn định, cùng với các hậu quả kéo theo trong trường hợp không tiến hành từng bước cắt giảm, được quy định bởi một luật liên bang được sự chấp thuận của Thượng viện và bởi một thỏa thuận hành chính. Không có việc tài trợ và hỗ trợ phát triển đồng thời theo tình huống ngân sách khẩn cấp.

 

(3) Gánh nặng tài chính do tài trợ được chia sẻ ngang bằng nhau bởi Liên bang và các Bang, được chi trả theo phần của họ từ thuế giá trị gia tăng. Các chi tiết được quy định bởi một luật liên bang được sự chấp thuận của Thượng viện.

 

Điều 144 [Việc thông qua Luật Cơ bản - Berlin]

 

(1) Luật Cơ bản này phải được thông qua bởi Nghị viện của 2/3 số Bang của Đức nơi nó được áp dụng lần đầu.

 

(2) Việc áp dụng Luật Cơ bản này tùy thuộc vào sự hạn chế tại bất kỳ Bang nào được liệt kê tại Điều 23 hoặc trong bất kỳ phần nào của nó, các Bang đó hoặc một phần của chúng có quyền cử đại diện tới Hạ viện theo quy định tại Điều 38 và tới Thượng viện theo quy định tạiĐiều 50.

 

Điều 145 [Hiệu lực của Luật Cơ bản]

 

(1) Hội đồng Nghị viện, với sự tham gia của các thành viên của Khu vực Berlin lớn, sẽ xác nhận việc thông qua của Luật Cơ bản này tại kỳ họp công khai và xác nhận việc ban hành nó.

 

(2) Luật Cơ bản này có hiệu lực vào cuối ngày mà nó được ban hành.

 

(3) Nó được công bố trong Công báo Luật Liên bang.

 

Điều 146 [Thời hạn của Luật Cơ bản]

 

Luật Cơ bản này, kể từ khi nước Đức được thống nhất và tự do, sẽ áp dụng cho toàn bộ nhân dân Đức và sẽ ngưng áp dụng vào ngày mà một bản hiến pháp tự do được thông qua bởi nhân dân Đức có hiệu lực thi hành.

 

 

 

 

[-] Mục Lục

 

Điều 1 [Nhân phẩm – nhân quyền – giá trị pháp lý của các quyền cơ bản]

Điều 2 [Tự do cá nhân]

Điều 3 [Bình đẳng trước pháp luật]

Điều 4 [Tự do tín ngưỡng và lương tâm]

Điều 5 [Tự do ngôn luận]

Điều 6 [Hôn nhân - gia đình - trẻ em]

Điều 7 [Hệ thống giáo dục]

Điều 8 [Tự do hội họp]

Điều 9 [Tự do lập hội]

Điều 10 [Bảo mật thư tín, bưu chính và viễn thông]

Điều 11 [Tự do đi lại]

Điều 12 [Tự do nghề nghiệp]

Điều 12a [Nghĩa vụ quân sự bắt buộc và nghĩa vụ dân sự thay thế]

Điều 13 [Bất khả xâm phạm nhà riêng]

Điều 14 [Tài sản - thừa kế - tước quyền sở hữu]

Điều 15 [Xã hội hóa]

Điều 16 [Quốc tịch - dẫn độ]

Điều 16a [Quyền tị nạn]

Điều 17 [Quyền khởi kiện]

Điều 17a [Hạn chế quyền cơ bản trong các trường hợp cụ thể]

Điều 18 [Tước quyền cơ bản]

Điều 19 [Hạn chế các quyền cơ bản – các cơ chế pháp lý]

Điều 20 [Những nguyên tắc hiến định - bảo vệ trật tự hiến pháp]

Điều 20a [Bảo vệ các nền tảng tự nhiên của sự sống và các động vật]

Điều 21 [Đảng phái chính trị]

Điều 22 [Thủ đô - quốc kỳ]

Điều 23 [Liên minh châu Âu]

Điều 24 [Chuyển giao quyền chủ quyền – hệ thống an ninh tập thể]

Điều 25 [Ưu thế của luật quốc tế]

Điều 26 [Bảo đảm hoà bình quốc tế]

Điều 27 [Đội tàu buôn]

Điều 28 [Hiến pháp Bang – Tự quản địa phương]

Điều 29 [Phân định lại lãnh thổ Liên bang]

Điều 30 [Quyền chủ quyền của các Bang]

Điều 31 [Tính tối cao của luật liên bang]

Điều 32 [Quan hệ đối ngoại]

Điều 33 [Bình đẳng công dân – công vụ]

Điều 34 [Trách nhiệm do vi phạm công vụ]

Điều 35 [Trợ giúp pháp lý và hành chính, trợ giúp trong thảm họa]

Điều 36 [Nhân sự chính quyền liên bang]

Điều 37 [Hành chính liên bang]

Điều 38 [Bầu cử]

Điều 39 [Nhiệm kỳ - Triệu tập]

Điều 40 [Chủ tịch - Quy tắc thủ tục]

Điều 41 [Giám sát các cuộc bầu cử]

Điều 42 [Họp công khai – quyết định đa số]

Điều 43 [Quyền yêu cầu có mặt, quyền tiếp cận và quyền trình bày]

Điều 44 [Ủy ban điều tra]

Điều 45 [Ủy ban về Liên minh châu Âu]

Điều 45a [Ủy ban Đối ngoại và Quốc phòng]

Điều 45b [Ủy viên Quốc hội về lực lượng vũ trang]

Điều 45c [Ủy ban Dân nguyện]

Điều 46 [Miễn trách nhiệm của thành viên]

Điều 47 [Quyền từ chối đưa ra bằng chứng]

Điều 48 [Ứng cử viên – bảo vệ tư cách thành viên]

Điều 49 [Đã được hủy bỏ]

Điều 50 [Các chức năng]

Điều 51 [Thành phần]

Điều 52 [Chủ tịch – quyết định - các quy tắc thủ tục]

Điều 53 [Tham dự của các thành viên Chính phủ Liên bang]

Điều 53a [Thành phần - Các quy tắc thủ tục]

Điều 54 [Bầu cử]

Điều 55 [Xung đột lợi ích]

Điều 56 [Tuyên thệ nhậm chức]

Điều 57 [Mất khả năng hoặc bỏ trống]

Điều 58 [Ký phó thự]

Điều 59 [Đại diện của Liên bang]

Điều 59a [Đã được hủy bỏ]

Điều 60 [Bổ nhiệm và miễn nhiệm các thẩm phán liên bang, công chức liên bang và sỹ quan quân đội; đặc xá]

Điều 61 [Luận tội trước Tòa án Hiến pháp Liên bang]

Điều 62 [Thành phần]

Điều 63 [Bầu cử Thủ tướng Liên bang]

Điều 64 [Bổ nhiệm và miễn nhiệm Bộ trưởng Liên bang – Tuyên thệ]

Điều 65 [Quyền xác định các chính sách hướng dẫn]

Điều 65a [Chỉ huy các lực lượng vũ trang]

Điều 66 [Xung đột lợi ích]

Điều 67 [Bỏ phiếu bất tín nhiệm]

Điều 68 [Bỏ phiếu tín nhiệm]

Điều 69 [Phó Thủ tướng Liên bang - nhiệm kỳ]

Điều 70 [Phân chia thẩm quyền lập pháp của Liên bang và Bang]

Điều 71 [Định nghĩa thẩm quyền lập pháp tuyệt đối của Liên bang]

Điều 72 [Định nghĩa thẩm quyền lập pháp song trùng]

Điều 73 [Các vấn đề thuộc thẩm quyền tuyệt đối của Liên bang]

Điều 74 [Các vấn đề thuộc thẩm quyền song trùng]

Điều 74a (được bãi bỏ)

Điều 75 (được bãi bỏ)

Điều 76 [Các dự án luật]

Điều 77 [Trình tự lập pháp - Ủy ban hòa giải]

Điều 78 [Thông qua các luật liên bang]

Điều 79 [Sửa đổi Hiến pháp Liên bang]

Điều 80 [Ban hành các văn kiện hướng dẫn luật]

Điều 80a [Tình trạng khẩn cấp]

Điều 81 [Lập pháp khẩn cấp]

Điều 82 [Ký ban hành, xuất bản và bắt đầu hiệu lực]

Điều 83 [Phân bổ quyền hạn giữa Liên bang và Bang]

Điều 84 [Hành chính các Bang - Giám sát liên bang]

Điều 85 [Bang thi hành theo ủy quyền của liên bang]

Điều 86 [Hành chính Liên bang]

Điều 87 [Các lĩnh vực thuộc sự điều hành trực tiếp Liên bang]

Điều 87a [Các lực lượng vũ trang]

Điều 87b [Quốc phòng Liên bang]

Điều 87c [Quản lý sản xuất và sử dụng năng lượng hạt nhân]

Điều 87d [Quản lý vận tải hàng không]

Điều 87e [Quản lý đường sắt liên bang]

Điều 87f [Bưu chính và viễn thông]

Điều 88 [Ngân hàng Liên bang]

Điều 89 [Đường thủy liên bang]

Điều 90 [Đường cao tốc liên bang]

Điều 91 [Tình trạng khẩn cấp]

Điều 91a [Các nhiệm vụ chung - Trách nhiệm chi tiêu]

Điều 91b [Các chương trình giáo dục và thúc đẩy nghiên cứu]

Điều 91c [Các hệ thống công nghệ thông tin]

Điều 91d [So sánh hoạt động]

Điều 91 [Hợp tác liên quan đến việc hỗ trợ những người tìm việc làm]

Điều 92 [Tổ chức Tòa án]

Điều 93 [Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp Liên bang]

Điều 94 [Thành phần Tòa án Hiến Pháp Liên bang]

Điều 95 [Các tòa án liên bang tối cao]

Điều 96 [Các tòa án liên bang khác]

Điều 97 [Độc lập tư pháp]

Điều 98 [Địa vị pháp lý của thẩm phán – việc buộc tội]

Điều 99 [Tranh chấp về hiến pháp trong Bang]

Điều 100 [Giám sát tư pháp cụ thể]

Điều 101 [Cấm các tòa án đặc biệt]

Điều 102 [Xóa bỏ hình phạt tử hình]

Điều 103 [Xét xử công bằng]

Điều 104 [Tước tự do]

Điều 104a [Phân bổ chi phí – hệ thống tài chính – trách nhiệm]

Điều 104 b [Hỗ trợ tài chính cho đầu tư]

Điều 105 [Phân quyền liên quan đến luật thuế]

Điều 106 [Phân chia thuế và lợi nhuận độc quyền tài chính]

Điều 106A [Liên bang trợ cấp cho giao thông công cộng địa phương]

Điều 106b [Các Bang cùng hưởng thuế xe cơ giới]

Điều 107 [Phân bổ thuế - cân bằng tài chính giữa các bang – trợ cấp bổ sung]

Điều 108 [Quản lý tài chính của Liên bang và các bang - Tòa án tài chính]

Điều 109 [Quản lý ngân sách Liên bang và các Bang]

Điều 109a [Ngân sách khẩn cấp]

Điều 110 [Ngân sách Liên bang]

Điều 115, vào một ngày muộn hơn.

Điều 111 [Quản lý ngân sách thời kỳ chuyển đổi]

Điều 112 [Chi ngân sách đặc biệt]

Điều 113 [Gia tăng chi tiêu]

Điều 114 [Báo cáo và kiểm toán]

Điều 115 [Hạn chế vay mượn]

Điều 115a [Tuyên bố tình trạng phòng thủ]

Điều 115b [Quyền chỉ huy của Thủ tướng Liên bang]

Điều 115c [Việc mở rộng các quyền lập pháp của Liên bang]

Điều 115d [Dự luật khẩn cấp]

Điều 115e [Ủy ban Hỗn hợp]

Điều 115f [Sử dụng Cảnh sát Biên giới Liên bang - Mở rộng quyền hướng dẫn]

Điều 115g [Tòa án Hiến pháp Liên bang]

Điều 115h [Hết hạn nhiệm kỳ]

Điều 115i [Quyền của chính quyền Bang]

Điều 115k [Phân loại và thời hạn của các điều khoản khẩn cấp]

Điều 115l [Bãi bỏ biện pháp khẩn cấp - hòa ước]

Điều 116 [Định nghĩa “người Đức” - Phục hồi quyền công dân]

Điều 117 [Đình chỉ hiệu lực của hai quyền cơ bản]

Điều 118 [Phân định ranh giới mới của Baden và Württemberg]

Điều 118a [Phân định ranh giới mới của Berlin và Brandenburg]

Điều 119 [Người tị nạn và người bị trục xuất]

Điều 120 [Chi phí chiếm đóng - chiến phí]

Điều 120a [Thi hành nghĩa vụ bồi thường]

Điều 121 [Định nghĩa “đa số thành viên”]

Điều 122 [Ngày chuyển giao quyền lập pháp]

Điều 123 [Tiếp tục áp dụng pháp luật có từ trước]

Điều 124 [Tiếp tục áp dụng luật trong phạm vi quyền lập pháp tuyệt đối]

Điều 125 [Tiếp tục áp dụng luật trong phạm vi quyền lập pháp song trùng]

Điều 125a [Tiếp tục áp dụng luật liên bang – Sự thay thế bởi luật Bang]

Điều 125b [Tiếp tục áp dụng các luật khung - Quyền khác biệt của các Bang]

Điều 125c [Tiếp tục áp dụng pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ chung]

Điều 126 [Xác định về việc tiếp tục áp dụng luật như luật liên bang]

Điều 127 [Sự mở rộng luật đến các vùng của Pháp và đến Berlin]

Điều 128 [Thẩm quyền tiếp tục ban hành các hướng dẫn]

Điều 129 [Thẩm quyền tiếp tục ban hành các quyết định pháp lý]

Điều 130 [Sự thuyên chuyển các cơ quan hành chính hiện tại]

Điều 131 [Những người trước đây trong bộ máy nhà nước]

Điều 132 [Nghỉ hưu của công chức]

Điều 133 [Kế thừa Cục Quản lý khu vực kinh tế kết hợp]

Điều 134 [Kế thừa tài sản Đế chế]

Điều 135 [Tài sản trong trường hợp thay đổi lãnh thổ giữa các Bang]

Điều 135a [Các khoản nợ cũ]

Điều 136 [Triệu tập Thượng viện lần đầu tiên]

Điều 137 [Quyền ứng cử của nhân viên nhà nước]

Điều 138 [Công chứng viên miền Nam Đức]

Điều 139 [Tiếp tục áp dụng các quy định chống chủ nghĩa quốc xã]

Điều 140 [Luật về các giáo phái tôn giáo]

Điều 141 [“Điều khoản Bremen”]

Điều 142 [Bảo lưu các quyền cơ bản trong hiến pháp Bang]

Điều 142a (đã được bãi bỏ)

Điều 143 [Thời hạn được phép khác với Luật Cơ bản]

Điều 143a [Quyền lập pháp tuyệt đối liên quan đến đường sắt liên bang]

Điều 143b [Tư hữu hóa Bundespost Deutsche]

Điều 143c [Bù đắp cho việc kết thúc các nhiệm vụ chung]

Điều 143d [Các quy định chuyển tiếp liên quan đến hỗ trợ]

Điều 144 [Việc thông qua Luật Cơ bản - Berlin]

Điều 145 [Hiệu lực của Luật Cơ bản]

Điều 146 [Thời hạn của Luật Cơ bản]

 

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting Khu vực quy định Quy định về giá trị chuyển đổi tiền tệ hiện nay- exchange rate Khu vực quy định Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

hiến pháp nước cộng hòa liên bang đức

hiến pháp nước cộng hòa liên bang đức

Hướng dẫn sử dụng thư viện văn bản pháp luật Online của AMBN

Đăng nhập tài khoản
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 508
Hôm nay:35546
Hôm qua: 76378
Trong tháng 1186177
Tháng trước2176734
Số lượt truy cập: 90512431