Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
024.62.97.0777
My status
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777

Tất cả PDF Doc/Xml/Ppt/Text Prc Chm Lit Âm thanh Video
share giảo đính và tường giải tác phẩm kim vân kiều của nguyễn du lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
giảo đính và tường giải tác phẩm kim vân kiều của nguyễn du

Ngày đăng: 15/03/2015 Lượt xem: 1464 Người Upload: AMBN
Yêu thích: 0 Báo xấu: 0 Loại file: pdf

Đây là cuốn tài liệu nghiên cứu về truyện kiều hay còn gọi Kim Vân Kiều Truyện về: Phần chính văn, Phần giảo đính - Tường giải, Phần chú giải - Dẫn điển, tổng số trang của tài liệu là 420 trang.... Truyện Kim Vân Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm văn chương rất Quý không những là của riêng nước Việt Nam ta, mà còn là của chung cả thế giới nữa. Lắm người ngoại quốc đã cho truyện Kiều là một quyển truyện hay vào bực nhất nhì trong kho văn chương hoàn cầu.

Kim Vân Kiều – Nguyễn Du

Giảo đính - Tường giải

 

 

HƯƠNG NGẠN ĐÀO TỬ

ĐÀM DUY TẠO

 

 

kim vân kiều truyện tường giải chú thíchKim Vân Kiều Truyện - Còn gọi là Truyện Kiều, được viết bởi đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) Là một tác phẩm văn chương kinh điển nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Gồm 3254 câu thơ được viết theo thể lục bát mang đậm âm hưởng của ca dao truyền thống. Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm tượng hình, không phải bằng chữ Quốc Ngữ, hệ thống chữ viết đã được sử dụng để thay thế chữ Nôm từ đầu thế kỉ thứ XX. Tác phẩm này đã đưa tên tuổi Nguyễn Du vượt ra khỏi Việt Nam và trở thành một trong những danh nhân văn hoá thế giới.

 

Hàng trăm năm qua, Truyện Kiều là một trong số ít các tác phẩm được nhiều người dân đủ mọi tầng lớp thuộc lòng và sử dụng như một hình thức văn hoá với nhiều hoạt động như: Bói Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, vịnh Kiều, tranh Kiều.. . Hương ngạn đào tử đàm duy tạo (1896 – 1988) Sinh tại làng Hương Mặc, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cụ thi Hương khoa Nhâm Tý (1921) Nhưng ngay sau khi các kỳ thi chữ Nho bị bãi bỏ, cụ theo học Pháp văn một thời gian và trở thành giáo viên tiểu học vào khoảng năm 1920. Tuy dạy học bằng chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, cụ suốt đời tự trau giồi chữ Hán và chữ Nôm. Cụ sang Canada định cư từ năm 1976. Tại đây, cụ đã bỏ ra hơn sáu năm trời để hoàn tất công trình văn học sâu sắc cuối đời. Đó là cuốn Kim Vân Kiều Giảo đính và Tường giải.

 

Công trình dầy 570 trang này đã được cụ thuê người đánh máy từng trang, sau đó cụ viết tay từng chữ Hán và chữ Nôm vào những chỗ cần thiết. Từ tháng 5 - 2009, phiên bản điện tử của tác phẩm này đã được gia đình cụ sao lưu dưới dạng ebook và chia sẻ miễn phí trên mạng internet. Cuốn sách này sử dụng ba phần của tác phẩm ấy, đó là:

 

- Phần chính văn

 

- Phần giảo đính - Tường giải

 

- Phần chú giải - Dẫn điển

 

Quý vị có thể tham khảo và download toàn bộ bản thảo gốc của tác phẩm này với đầy đủ phần chữ Hán và chữ Nôm Ở phần dưới, tổng số trang 420.

 

 

1. Mấy lời phi lộ trước khi đính chính & chú giải truyện Kiều

 

Truyện Kim Vân Kiều hay Đoạn Trường Tân Thanh là một tác phẩm văn chương rất Quý không những là của riêng nước Việt Nam ta, mà còn là của chung cả thế giới nữa. Lắm người ngoại quốc đã cho truyện Kiều là một quyển truyện hay vào bực nhất nhì trong kho văn chương hoàn cầu. Một nhà văn sĩ nước Pháp, ông Crayssac đã thán phục truyện Kiều là hay tột bực về đủ phương diện: Lời văn êm đẹp, ý tứ thâm thúy, tả tâm tình người nào đúng người ấy, tả việc nào, cảnh nào đều khéo thật rõ để người đọc như được mục kích. Và ông đã chịu khó mất công ba năm trời diễn quyển truyện Quý nước Việt Nam này ra thể thơ pháp văn thành một tập thơ dày bốn năm trăm tờ. Ông nói ông cố dịch ra pháp văn cho người nước Pháp được thưởng thức cái hay cái đẹp vô giá của văn chương Việt Nam. Hiện nay truyện Kiều càng ngày càng được người ngoại quốc hoan nghinh, hết thảy các nước văn minh tân tiến đều đua nhau sưu tầm khảo cứu truyện Kiều để dịch ra tiếng nước mình.

 

Giá trị truyện Kiều cao quý như vậy, nhưng tiếc thay các bản truyện Kiều lưu hành ở nước Việt Nam ta bây giờ có nhiều chữ lệch lạc khác nhau, có nhiều chữ ý nghiã mập mờ, khiến các nhà chú giải không nhất trí. Đó là một điều có thể làm giảm mất một đôi phần giá trị cao quý truyện Kiều. Xét ra truyện Kiều có những chỗ ý nghiã mập mờ đó là vì các nhà chú giải không chịu suy nghiã trước sau xa gần cho ra nghiã thật xác đáng, chỉ giảng giải gượng ghịu xong lần. Còn về phần chữ hay câu ở các bản lệch lạc khác nhau vì các lẽ sau này: Một là: Vì mất các bản chính. Nguyên bản thảo của tác giả mất đã đành, và những bản mới ấn hành lần đầu cũng không còn, rồi đến cả các phường bản, thợ nhà in theo các bản in lần đầu mà khắc lại, tuy có đôi chữ hoặc khắc sai nét, hoặc in nhoè nhoẹt, nhưng ta còn dấu vết để suy xét được chữ chính đáng, thì nay cũng lại đều hết cả. Hiện giờ chỉ còn những bản Kiều Nôm do các nhà văn sĩ đã cậy mình tài giỏi, tự theo ý mình mà đổi bừa bãi những chữ in sai, in nhoè nói trên, mà các ông không nhận được hoặc không đoán được ra chữ gì, các ông đã nhận lầm đổi bậy các chữ đó ra những chữ vu vơ vô nghiã, rồi ông thì giải gượng cho xong lần, ông thì lại đổi luôn cả một vài chữ khác cho ăn nghiã với những chữ đó. Thế là các ông đó đã phạm một lỗi lầm lớn là làm hỏng mất một câu nguyên văn rất hay thành một câu rất dở.

 

Thí dụ như câu 247 tả Kim Trọng tương tư Kiều thâu đêm mất ngủ “Sầu giong càng khắc càng chầy” nghiã là chàng không biết hãm mối sầu lại, nén nó xuống cho khuây đi để ngủ lại cứ giong con ngựa sầu đó cho nó chạy đuổi theo bóng Kiều mãi, thành ra mất ngủ, thấy đêm càng dài thêm mãi. Câu này lấy ý ở câu thơ của Ngô Tư Kinh Sầu trục lậu thanh trường – Sầu đuổi tiếng đồng hồ dài dài. Câu nguyên văn ý nghiã thật đẹp như thế mà chỉ vì các ông không biết câu thơ cổ đó, lại không hiểu nghiã chữ “giong” là gì, nên các ông xuất bản truyện Kiều. Ông thì đổi là “Sầu dông càng khắc càng chầy”. Ông thì đổi là “Sầu đong càng khắc càng đầy”. Có ông lại đổi là “Sầu đong càng lắc càng đày”. Ôi câu nguyên văn lời thanh ý đẹp như thế, mà các ông đổi ra những câu ý nông cạn, lời thô quê như thế, mà cho xuất bản lưu hành, thật là sự lầm lỗi đắc tội với tác giả tiên sinh. Hai là: Vì các văn sĩ ta xưa không bao giờ chú thích tác phẩm của mình. Ta có thể nói được là tác giả thu nhặt những lời hay ý đẹp trong nhiều sách Nho như Kinh Thi, Kinh Lễ, Thơ Đường, Thơ Tống, Tình Sử, Liêu Trai, Truyện Thần Tiên, Kinh Phật.. . Cả đến Phương Ngôn, Tục ngữ, Ca dao của ta nữa, để khéo chắp nối mà viết thành quyển Đoạn Trường Tân Thanh, đúng như lời tác giả nói khiêm “Lời quê chắp nhặt dông dài” ở câu kết truyện. Bởi nguồn điển tích truyện Kiều mông mênh man mác trong giới văn Tầu, văn ta như vậy, nên phải có những bực văn nhân học lực đã sâu rộng, lại phải lăn lộn tiếp xúc nhiều với dân quê ta, mới có thể chú giải đầy đủ được truyện Kiều, đại khái như cụ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh. Nhưng tiếc thay các bực thâm nho này lại cho việc chủ giải truyện Kiều là một việc không cần, chớ các cụ có biết đâu rằng truyện Kiều sẽ là cái hồn thiêng quý của nền văn chương Việt Nam khiến người Âu Mỹ bây giờ phải kính nể văn hoá Việt ta.

 

Giảng giải những điển cố lấy ở cổ thư thì các vị thâm nho tuy đã học nhiều lại sẵn sách kê cứu, nhưng vẫn chưa đủ, vì còn có thêm những điển cố lấy ở phong dao tục ngữ ta, chỉ có những vị thâm nho nào đã từng sống nhiều ở thôn quê mới biết. Nên nhiều câu tác giả lấy điển ở ca dao, tục ngữ ta, mà ít nhà chú thích truyện Kiều nào nói đến. Thí dụ như câu 1025, Kiều bảo Tú Bà: “Sợ khi ong bướm đãi đằng” sau khi nàng nghe mụ dỗ dành nàng rằng sẽ tìm nơi xứng đáng mà gả chồng cho nàng. Câu Kiều nói này nghiã là: Tôi sợ bà nói đấy, rồi lại quên lời ngay, chỉ nói đãi bôi lừa nhau một lúc cho xong lần thôi.

 

Chữ ong bướm đây lấy điển ở câu ca dao “Nói lời thì giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay” Chữ đãi đằng thì lấy điển ở câu: “Yêu nhau bảo thật nhau cùng. Đậu ngâm ra giá đãi đùng nhau chi” (Đãi đùng đổi ra chữ Đãi đằng cho hợp vần). Xem như câu nghe nàng nói thế, thì mụ trả lời và thề ngay:

 

Phải điều lòng lại dối lòng mà chơi!

 

Mai sau ở chẳng như lời.

 

Trên đầu có bóng mặt trời rạng soi.

 

Thì biết lời mụ đáp lại đều ý thật rõ thật hay, thật khẩn thiết với nhau. Trong cuốn truyện Thúy Kiều của hai ông Kim Kỷ xuất bản, giải nghiã chữ “đãi đằng”“lôi thôi” là lầm, vì câu “Sợ khi ong bướm nó lôi thôi” không khẩn thiết gì với câu mụ nói và thề ở dưới.

 

Lại như câu 1363 “Đường xa chớ ngại Ngô Lào” tác giả lấy điển ở câu phong dao Chơi cho nước Tấn sang Hồ, nước Tề sang Sở, nước Ngô sang Lào mà không thấy nhà chú thích truyện Kiều nào nhắc đến. Và như câu 2940 “Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha” lấy điển ở câu ca dao Một liều, hai ba bốn cũng liều. Năm sáu sông cũng lội. Bảy tám chín, mười đèo cũng pha. Chữ “pha” đây nghiã là xông vào nơi bụi rậm gai góc, ở nhiều bản Kiều, nhà xuất bản đổi lầm ra chữ “qua”, thành kém ý nghiã mạo hiểm. Chữ “đèo” đổi ra “ngàn” để hợp vần. Ba là: Vì sao chép lại mãi, chữ nọ lầm ra chữ kia, người sau đọc đến những câu lầm đó, thấy lời văn không chạy, ý nghiã tối tăm mà suy xét không ra các chữ sai lầm đó, bèn đổi bừa chữ khác cho liền nghiã vu vơ với chữ lầm trước, thế là làm mất cả lời hay ý đẹp của cả câu nguyên văn trước. Thí dụ như câu:

 

Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh,

 

Rụng rời đọt liễu, tan tành cội mai.

 

Chữ đọt liễu là cái trồi liễu mập mạp non tươi mới trỏi lên từ gốc cây, tượng trưng cho Thúy Kiều, Thúy Vân; Cội mai – cái gốc già cứng cây mai tượng trưng Vương bà. Ý hai câu này nói lũ sai nha nó thét lác làm hai cô gái trẻ và Vương bà sợ hãi tan hồn bạt viá. Câu tả cảnh này lời thật hay đẹp, ý thật đúng rõ như vậy. Thế mà chỉ vì chữ đọt liễu thợ in khắc lầm ra giọi liễu để cho mọi người tưởng lầm “giọt liễu” là những tua giải áo thắt lưng rũ xuống của đàn bà con gái, rồi mới đổi chữ cột mai ra làm gối mai để đối với “giọt liễu” cho chỉnh. Lấy nghiã chữ gối mai là do chữ mai trẩm dịch ra, nói sự vui vẻ đoàn tụ ở trong nhà. Đổi thế đã là vô nghiã, nhưng chưa vô nghiã bằng có bản đã đổi “gối mai” ra “gói may” lại đổi luôn cả “giọt liễu” ra “khung dệt” nữa, để đối với “gói may” cho chỉnh hơn!

 

Ôi! Câu “Rụng rời đọt liễu, tan tành cột mai” nguyên văn thật ý hay lời đẹp tuyệt diệu như thế, mà chỉ vì một chữ “đọt” làmra “giọt” lạithayđổidầnmãithànhra “Rãrời khung dệt, tan tành gói may” sao mà lời văn thô, ý nghiã dở được đến thế? Thật đáng chê trách các ông văn sĩ ngông ngu sửa bậy!

 

Lại như câu 3176 Kim Trọng nói “Bấy lâu đáy bể mò kim, Là theo vàng đá, phải tìm trăng hoa?” nghiã là: Ta sở dĩ cố đi dò thăm tìm nàng bấy lâu, là vì ta theo lời thề nặng với nàng, chứ đâu phải vì ta mến sắc đẹp của nàng.

 

Chữ “theo” in lầm ra “nhiều” thật là vô nghiã, mà không ai để ý đến, hết thảy các bản Kiều Nôm, hay Kiều Quốc ngữ đều in là nhiều, thật là một sự lạ! Bốn là: Có nhiều chỗ trong bản Kiều nôm cũ khắc vụng in nhoè, người sau nhận không rõ, mới đoán bưà ra thành những câu vô nghiã rồi giải gượng cho xuôi, cho xong lần, để những câu đoán lầm đó lưu truyền mãi mãi ở trong truyện Kiều. Cũng có nhà xuất bản biết là sai, có sửa lại, in lại, nhưng vì không biết điển cố, cũng lại sửa bừa, vô nghiã vẫn hoàn vô nghiã. Thí dụ như câu Kiều khuyên Thúc Sinh phải về nói rõ việc mình làm lẽ cho Hoạn Thư biết, chớ không dấu mãi được đâu “Dễ mà bọc rẻ giấu kim, Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng?” Câu 6 chữ này lấy điển ở câu ca dao vợ cả đe chồng chớ thầm vụng với gái:

 

Này này tớ bảo cho hay,

Giấu kim bọc rẻ cho ngày thò ra!

 

Điển này dùng vào lời Kiều khuyên đây thật hay, thật xác đáng. Thế mà vì chữ Nôm câu sáu chữ này rậm nét khó khắc, nên các bản Kiều Nôm cổ đều in nhoè nhoẹt khó nhận. Người xuất bản suy nhận không ra mới đoán lầm mà khắc lại câu này là “Dễ loè yếm thắm trôn kim” và cho là điển ở câu tục ngữ này là: Cái người ta không để ý đến, thì dẫu như một người mặc cái yếm đỏ thắm đi qua, người ta cũng không thấy, nhưng cái người ta đã để ý đến, thì dẫu nhỏ như cái lỗi ở trôn kim người ta cũng nhìn rõ ràng. Có lẽ các ông xuất bản này đã khéo biạ ra câu tục ngữ này để làm bằng cứ mà giải nghiã cái câu Kiều mập mờ vô nghiã đó. Rồi lại có ông xuất bản thấy câu “Dễ loè yếm thắm trôn kim” vô nghiã đó, lại đổi thành một câu nghiã đã vô lý hơn, lời lại quá thô bỉ “Dễ mà ép sẩm luồn kim”.

 

Những cuốn truyện Kiều do các ông này xuất bản thật đáng xé đốt, cho khỏi mang tiếng tác giả. Năm là: Vì chữ Nôm không có quy tắc nhất định để cho hình chữ nhất trí và tiếng đọc nhất trí. Đã một tiếng có thể viết thành ra hai, ba lối; Lại một chữ có thể đọc được hai, ba tiếng, tùy theo nghiã dùng từng chỗ. Trong câu “Hàn gia ở mé tây thiên” thì phải đọc là mé mới đúng nghiã, vì mả Đạm Tiên ở mé bên bờ phiá tây cánh đồng, mà trong câu “Mái Tây để lạnh hương nguyền” thì phải là mái mới đúng, vì chữ Mái Tây dịch chữ Tây Sương ra, Tây Sương là mái nhà phiá tây. Chữ “Mái Tây để lạnh hương nguyền” thì các bản Kiều đều dịch đúng, nhưng chữ “Hàn gia ở mé tây thiên” thì các bản Kiều đều dịch lầm ra “mái tây thiên” thật là sai nghiã.

 

Bởi sự không nhất trí của chữ Nôm như thế, một chữ có thể đọc ra hai, ba tiếng - Một tiếng có thể viết ra hai, ba chữ, đã gây nhiều sự khó khăn cho người phiên âm chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ. Nếu người phiên âm một cuốn truyện viết bằng chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ không đủ khả năng để hiểu thật nghiã lý câu chuyện, hoặc không chịu khó suy nghĩ cho ra ý nghiã xác đáng của từng chữ trong câu chuyện, thì phiên âm dễ sai lầm lắm. Thí dụ như chữ nén trong câu 1390 “Nén lòng e ấp tình bài phân ly”, chữ nén Nôm viết thạch là đá tỏ ý nặng ở bên chữ nẵng hợp với tiếng nặng hay tiếng nén của tiếng Việt ta. Chữ Nôm trong câu Kiều này phải phiên âm là nén thì mới đúng nghiã. Vì Thúc Ông lúc mới thấy Thúc, Kiều tốt đôi, trước còn e ấp dùng dằng không nỡ bắt con phải bỏ Kiều, nhưng sau ông xét ra thấy con đã phá sản quá nhiều vì Kiều, nên ông mới đành “nén” lòng e ấp ấy xuống, mà bắt Thúc Sinh phải đuổi Kiều đi. Câu này thật hay, tả rõ được nỗi phân vân trong lòng Thúc Ông, vừa có lòng nhân từ cha mẹ thương con, vừa có óc ông già buôn bán tiếc của. Thế mà hết thảy các bản truyện Kiều Quốc ngữ, kể cả hai cuốn của ông Trần Trọng Kim và của ông Nguyễn Khắc Hiếu đều phiên âm lầm ra là “Nặng lòng e ấp tình bài phân ly” thành ra vu vơ vô nghiã. Ông Hiếu thì chịu là “không hiểu chữ e ấp nghiã là gì ở đây” ông Kim thì giải nghiã gượng chữ e ấp là e lệ, sợ hãi và nặng lòng e ấp là nói Thúc Ông sợ nỗi con đã có vợ rồi mà lại chơi bời, lấy gái giang hồ, vậy ông mới tính bài bắt phải bỏ ra (Lời giải số 5, trang 126, cuốn truyện Thúy Kiều, in lần thứ 8, nhà in Tân Việt.)

 

Lại còn một nỗi khó khăn hơn nữa cho người phiên dịch truyện Kiều viết bằng chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ. Đó là vì các bản Kiều Nôm cũ thường có nhiều chữ hoặc bị sao chép sai, hoặc bị khắc in sai, cần phải suy nghĩ khảo sát tốn công mới biết được. Mà muốn khảo sát cải chính những chữ sao khắc sai lầm này ra chữ chính xác, thì một là phải thông thạo chữ Nôm, hai là phải biết cách viết thảo chữ Hán và chữ Nôm, ba là phải nghĩ kỹ lấy ý nghiã của mấy câu trước sau chữ sai lầm thành vô nghĩa đó. Có đủ ba điều kiện tối cần ấy thì mới có thể đem những chữ sai lầm ấy ra mà phân tích mà suy đoán, tìm lấy chữ vô nghiã này làm hình thức bằng chứng mà đoán ngược lại lấy chữ chính xác nguyên văn.

 

Dưới đây tôi xin kể vài chữ thật hay đã bị người sao chép lầm thành ra chữ vô nghiã vì hai chữ gần giống nhau.

 

1/ Chữ ủm lầm ra điểm ở câu 367 “Một tường tuyết ủm sương che” tả cảnh Kim Kiều nhìn ngóng nhau mãi mà chẳng thấy nhau như bị tuyết sương phủ kín. Có bản Kiều in lầm ra là “Một tường tuyết điểm sương che”. Rồi có mấy nhà xuất bản sau này thấy chữ điểm vô nghiã, mới đổi bưà ra là “Một tường tuyết trở sương che” hay là “Một tường tuyết đón sương che”. Chữ đón cũng gần vô nghiã như chữ điểm, cả chữ trở cũng gần vô nghiã như vậy. Người ta chỉ nói “cách trở” hay “ngăn trở” mới có nghiã, chứ không bao giờ nói riêng lẻ một chữ “trở” và người ta cũng chỉ nói “che chở” chứ không bao giờ nói “trở che” hay “che trở”.

 

Chữ điểm tuy vô nghiã thật, nhưng còn giữ được chút “di tích” nguyên văn cho ta lấy nó làm bằng cứ mà suy đoán ra chữ ủm, vì Hán văn là ảm, chữ Nôm mượn là ủm.

 

2/ Chữ lựa lầm ra lừa ở câu 3072 “Khuôn thiêng lựa lọc đã đành có nơi” là lời Thúy Vân khuyên Kiều lại lấy Kim Trọng, ý nói: Trước kia Kiều đã hẹn lấy chàng rồi gặp gia biến phải bỏ ra đi, nay bỗng lại được gặp nhau. Đó thật là ông Trời đã lựa chọn kỹ càng hai người lấy nhau thật xứng đáng, nên nay lại cho được kết duyên. Chữ “lựa lọc” nghiã là kén lựa rất tinh tế. Câu này lời thật hay, ý thật đúng như vậy, thế mà vì lỗi người chép lầm hay người khắc in sai lựa ra lừa rồi lại vì người phiên âm không biết nghĩ, cứ theo chữ lầm mà dịch bưà ra “Khuôn thiêng lừa lọc” thành vô nghiã. Lại có bản dám đổi hẳn là “Khuôn thiêng lừa đảo” nữa, thật đã quá vô nghiã, lại quá hỗn sược với cả Trời nữa. Những cuốn Kiều đổi bưà bãi như thế nên xé đốt cho hết. Những nhà xuất bản sửa đổi càn bậy truyện Kiều này thật có tội với nền văn chương của ta.

 

3/ Chữ lờ chép lầm ra làn ở câu “Lờ thu thủy, nhợt xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”. Hai câu lục bát này dùng bốn chữ so sánh: Lờ, nhợt, ghen, hờn để tả vẻ đẹp của Kiều: Vẻ trong sáng đôi mắt thì làm lờ được màu trong hồ nước lặng muà thu, vẻ đẹp tươi của đôi lông mày thì làm nhợt được vẻ tươi đẹp mặt cỏ núi muà xuân, màu thắm hồng đôi má làm cho hoa thua phải ghen, màu xanh rờn lông mày làm cho liễu phải hờn tức.

 

Hai câu lục bát này ý thật hay, vẻ đẹp thanh tú của nàng hơn cả bốn cảnh thanh tú của trời đất, lời thật luyện và đăng đối tề chỉnh, liên tiếp với nhau. Hai vế câu sáu chữ này dịch ở hai câu: Nhỡ quang thu thủy, Mi đạm xuân sơn nghiã là mắt sáng hơn là nước muà thu, lông mày làm nhợt được màu núi muà xuân. Câu nguyên văn diễn: Lờ thu thủy, nhợt xuân sơn là rất đúng.

 

Nhưng sau vì một cuốn Kiều Nôm tái bản sao khắc lầm ra “Làn thu thủy, nhợt xuân sơn” hãy còn giữ nguyên chữ nhợt (nửa hài âm là chữ nhật). Rồi lại có người tái bản sau nữa đổi luôn cả chữ nhợt ra làm nét thành ra câu này là “Làn thu thủy, nét xuân sơn” nghe êm tai, nên mọi người nghe quen tai, cho là phải. Nhưng suy nghĩ cho kỹ thì thật là lệch lạc, vô nghiã, đã không thành câu, lại thiếu ý tả vẻ đẹp, mà lại không lưu loát liền mạch với 8 câu chữ dưới. Còn chứng cớ chữ lờ rất đúng là bản Kiều Nôm cụ Nghè Vũ Trinh xuất bản, còn đề nguyên chữ nhợt để đối với chữ lờ viết sai ra làn

 

2. Mục đích & Cách thức của sự Giảo đính

 

Tôi thấy rằng vì năm lẽ kể trên mà truyện Kiều đã bị người sau bôi nhiều vết hoen ố quá, tôi rất e sợ cho giá trị vô song của viên ngọc văn chương này có thể bị tổn thương nhiều vì những vết đó, nhất là đối với tầm mắt tinh tế của các nhà khảo cứu cố vấn ở Âu- Mỹ. Họ đương kính mộ truyện Kiều, tìm hiểu cái hay, cái đẹp trong truyện Kiều. Tôi những lo mỗi khi họ thấy những chỗ in sai, vô nghiã hay những chỗ sửa bậy vô ý thức đó, họ lại phê bình bất lợi cho truyện Kiều, và có thể họ đã tin lầm mà khâm ngưỡng. Bởi vậy tôi phải đành liều không quản học lực nông cạn, tư tưởng suy quẫn, không sợ tiếng chê cười, mà mạo muội cố công tìm cách xoá bớt những vết hoen ố ấy đi, cho người khảo cứu được bớt mọi điều thắc mắc và việc tìm hiểu được dễ dàng hơn, cho người thưởng thức truyện Kiều được dễ hiểu thấu hơn ý nghiã của những câu văn cẩm tú này, ý hay, lời đẹp như thế nào.

 

Tôi sở dĩ làm tạm được việc này là nhờ còn được một quyển truyện Thúy Kiều do hai ông Kim Kỷ xuất bản trong đó có nêu qua ít chữ ít câu di đồng ở các bản khác, và may tôi còn nhớ được ít điều đã khảo cứu được khi trước, mặc dù ở nơi trơ trụi sách vở này. Công việc giảo đính như thế nào, nghiã là việc so sánh các chữ, các câu khác nhau để tìm lấy một chữ hay một câu chính đáng nhất mà cải chính lại chữ hay câu sai lầm như thế nào. Tôi xin kể đại khái như sau đây:

 

Khi gặp những trường hợp mà mỗi bản in một chữ hay một câu khác nhau, thì phải suy xét cân nhắc rõ kỹ mà lựa lấy chữ nào đúng ý, đúng nghiã nhất ở trong câu, hay một câu nào hợp tình hợp lý nhất ở trong đoạn. Sự suy xét này cũng hơi khó vì các bản Kiều đều thường được chữ nọ, sai chữ kia, không chắc cứ nhất định vào một bản nào được. Nhà xuất bản nào mà chẳng khoe rằng bản của mình là đúng theo bản cổ! Thí dụ chữ ngẫm hay ngắm ở câu 147 “Trông người lại ngẫm đến ta” ở bản ông Kim thì để là “Trông người lại ngắm đến ta” Tôi cho là ngẫm đúng hơn ngắm nhiều. Vì Kiều thấy tướng Kim Trọng tốt quá “chẳng sân ngọc bội, cũng nhường kim môn” thì nàng lại nghĩ đến tướng nàng có người thầy tướng đoán xấu quá “Nghìn thu bạc mệnh, một đời tài hoa” mà nàng lo rằng không biết có kết duyên với chàng được chăng? Chữ ngẫm nó khẩn thiết một mạch với chữ nghĩ và chữ nhớ ở hai câu 411 và 413 trên, và ý lo âu ở câu 416 dưới “Một dày một mỏng biết là có nên”. Còn chữ ngắm thì đã không ăn nghiã gì với nỗi lo của nàng, lại không hợp với chỗ này, vì nàng có ngắm lại tướng nàng lúc này đâu. Bởi vậy chữ ngắm kém phần thâm thúy, không bằng chữ ngẫm.

 

Cả cách lựa chọn các câu, tôi cũng cố ý cân nhắc cẩn thận như vậy để kén lấy câu thật đúng lý đúng chỗ như vậy. Trường hợp một chữ Nôm sao chép lầm hay khắc in sai thành ra vô nghiã mà người sau suy nhận không ra, bèn đổi ra chữ khác không sát với nghiã trong câu, hoặc sửa đổi bừa mấy chữ khác, thành câu đó không ăn nghiã với đoạn đó. Gặp những trường hợp này, tôi phải nhận rõ ý nghiã bao quát của cả đoạn, rồi nhận xét xem những chữ nào đáng chú ý nhất trong các câu đồng dị đó mà đem ra phân tích suy nghĩ lấy mọi hình thức biến chuyển từ sự sai nọ đến sự sai kia, mà tìm lấy chữ ý hay nghiã đúng với cả câu đó, lẫn đoạn đó. Thí dụ như:

 

- Chữ ủm trong câu: Một tường tuyết ủm sương che

 

- Chữ đọt trong câu: Rã rời đọt liễu, tan tành cột mai

 

- Chữ lựa lầm ra lừa ở câu: Khuôn thiêng lựa lọc đã đành có nơi

 

Chữ Nôm có nhiều chữ đọc được thành hai, ba tiếng Việt, nếu người phiên dịch truyện Kiều Nôm ra Quốc ngữ mà không để ý suy nghĩ cẩn thận thì dịch dễ sai lầm. Bởi vậy, các bản truyện Kiều Quốc ngữ thường lắm chữ sai. Thí dụ: Có chữ có thể đọc là thoát, là thoắt, là thoạt. Có chữ có thể đọc là mái là mé. Lại có chữ có thể đọc là nặng là nén.

 

Trong câu “Thoắt mua về, thoắt bán đi” ông Trần Trọng Kim dịch là thoắt thì thật đúng, nhưng trong câu “Thoạt trông nhờn nhợt mầu da” và trong câu “Thoạt trông nàng đã biết tình” mà ông dịch là “Thoắt trông nhờn nhợt mầu da”“Thoắt trông nàng đã biết tình” thì thật là lầm.

 

Câu “Mái Tây để lạnh hương nguyền” ông dịch là mái thì đúng, nhưng trong câu “Hàn gia ở mé tây thiên” hay trong câu “Gót sen thoăn thoắt dạo ngay mé tường” mà ông đều dịch là Mái Tây thiên và mái tường thì thật là sai quá, vô nghiã: Cái bờ ruộng và cái bực tường làm gì có mái. Còn chữ thường thường đọc là nặng, nhưng trong câu “Nén lòng e ấp tính bài phân ly” thì phải đọc là nén mới đúng nghiã trong câu. Nhưng tất cả các bản Kiều Quốc ngữ đều phiên âm là “Nặng lòng e ấp tính bài phân ly” thành ra câu đó thật vô nghiã.

 

Có nhiều chữ Nôm do tiếng Hán chuyển sang tiếng Việt, tuy đọc hơi khác nhau, nhưng nghiã vẫn giống nhau, thường người ta vẫn lận lộn. Thí dụ như chữ giao là chất dính, ta nói “keo sơn gắn bó” để chỉ đôi bạn thâm giao, tức là câu chữ Hán nói “Giao tất chi cố” - Gắn bền như keo sơn. Ta nói “kep loan” tức là loan giao: Keo nấu bằng xương chim phượng. Chỉ khác là khi nói tiếng Hán thì chữ giao ở dưới: Loan giao, nhưng khi nói tiếng Việt thì chữ keo ở trên: Keo loan. Câu “Keo loan chắp mối tơ thưà cậy em” cuốn truyện Thúy Kiều dịch “Giao loan chắp mối tơ thừa cậy em” là sai ngữ pháp.

 

Chữ tích Hán chuyển ra tiếng Việt là tiếc, chữ này có bản Kiều đề là “Nào người tích lục tham hồng là ai”. Lại có bản đề là “Nào người tiếc lục tham hồng là ai”. Đành rằng đều không sai cả, nhưng tôi thiết tưởng chữ “tích lục” hơn là chữ “tiếc lục” vì hai chữ tích lục đều thuần túy là chữ Hán cả, nghe thuận tai hơn. Lại như chữ trầm tức là do chữ trầm Hán chuyển ra, nhưng trong câu 2963 “Nàng đã giao ngọc chìm châu” mà trong cuốn truyện Thúy Kiều để là “Nàng đã gieo ngọc trầm châu” thì đã sai văn pháp. Chữ trầm châu là hai chữ Hán, đi với chữ gieo ngọc là hai chữ Việt đã không luyện mà lại nghiã mập mờ dễ lẫn với hai chữ trầm châu là đánh chìm thuyền xuống mà chết.

 

Nói tóm lại, truyện Kiều nghiã lý sâu rộng, lời văn ngắn gọn đã rất khó hiểu rõ, khó giảng giải, lại các bản Nôm cũ thì người sao chép lầm dần, thợ khắc in sai vụng, các bản Quốc ngữ thì người dịch không chịu khó suy nghĩ đích đáng, phiên âm bưà bãi để xuất bản lấy tiền thế là truyện Kiều đã giảm mất đôi phần hay đẹp, nhất là đối với các nhà khảo cứu ngoại quốc.

 

Bởi vậy, tôi phải rậm lời biểu lộ, trước khi không quản tài hèn, ra công giảo đính và chú giải. Trên đây, sau khi nêu rõ những cớ gây khó khăn cho người khảo cứu truyện Kiều, tôi đã kể cách thức tôi giảo đính để giúp sự khảo cứu được dễ dàng hơn được phần nào.

 

Dưới đây, tôi trình bày những cách thức chú giải để giúp độc giả được dễ hiểu, dễ nhớ truyện Kiều hơn. Truyện Kiều được chia ra làm 30 đoạn và chú giải riêng đoạn nào ngay dưới đoạn ấy để dễ tra khảo. Mỗi đoạn có những phần sau này: Phần chính văn phần giảo đính và xác định phần chú giải và dẫn điển phần chính văn có ghi rõ số từng hai câu lục bát và có đánh dấu những câu có chữ đính chính và những chữ sẽ chú giải ở ngay dưới. Trên mỗi phần chính văn, tôi có đề thêm hai câu bốn chữ đối nhau, tóm tắt đại khái sự tích trong đoạn, để độc giả dễ nhận, dễ tìm và dễ nhớ. Phần giảo đính và xác định tôi sẽ nêu rõ những chữ sai theo hình thức chữ Nôm để làm bằng cứ mà suy xét mọi lẽ biến chuyển sai dần ra chữ vô nghiã, rồi suy xét ngược lại lấy chữ hình dáng tương tự mà nghiã hay ý hợp để đính chính lại, chớ không khi nào dám tự ý đột ngột đổi hẳn ra chữ khác, trừ khi gặp những chứ tôi đã đích xác trông thấy trong một vài bản Kiều Nôm cũ xưa. Chú giải truyện Kiều là một sự khó khăn vô cùng, vì tác giả thu lượm điển cố rất rộng ở trong các sách Kinh, Sử, văn chương Nho, lại cả ở những phong dao, tục ngử và sự tích Việt ta nữa. Tôi thấy có lẽ chưa quyển truyện Kiều nào đã từng chú giải được đầy đủ và không sai lầm. Mặc dù các nhà chú giải là Cử nhân, Tiến sĩ thâm nho. Các nhà xuất bản truyện Kiều gần đây đều sao chép lại những lời chú giải ở các bản truyện Kiều cũ mà thêm bớt sửa chữa ít nhiều vậy thôi.

 

Trong lúc tuổi già trí quẫn, lại tay trắng không chút tài liệu nào, ngoài quyển truyện Thúy Kiều ở nơi đất khách này, tôi chỉ có thể một phần gần như chép lại những câu chú giải ở trong cuốn truyện Thúy Kiều mà tôi sửa chữa lại những chỗ sai lầm. Một phần tôi thêm vào hoặc những điều tôi đã khảo cứu được hay nhớ được ở các bản Kiều cũ, hoặc những điển cố ở phong dao tục ngữ ta. Tôi rất chú trọng đến việc giải thích những tiếng cổ của ta và những tiếng ta không hay nói đến nên nhiều người Việt ta không hiểu nghiã. Thí dụ như những tiếng thửa – của ai, thốt – nói, rén chường – rón rén trình thưa, dắng – tiếng ho hắng ra hiệu, góc chái (xem giảo đính câu 2853 đoạn XXIV) Bóng tầu (xem lời giải số 42 đoạn VI). Chữ bóng tầu này hai ông Kim Kỷ giảng lầm là bóng tầu lá cây (xem số 4 trang 84 cuốn truyện Thúy Kiều). Cặp sách – cái quang chứa sách nho làm bằng gỗ.. .

 

Tôi biết tuy tôi đã cố hết sức làm việc này nhưng thật chẳng thấm thiá vào đâu, vì tài cùng sức kiệt.

Hương ngạn đào tử

 

Viết hồi đầu năm 1976 tại Toronto

 

 

3. Lược thuật tiểu sử tác giả tên tuổi quê quán

 

Tác giả truyện Kiều họ Nguyễn, tên húy là Du, tên tự là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, lại có biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ - Phường săn Núi Hồng. Quê ông ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, miền Trung Kỳ. Vì quê ông ở làng Tiên Điền, nên mọi người thường gọi ông là Tiên Điền tiên sinh để tỏ lòng kính trọng, cũng như ông Phạm Quý Thích quê ở Hoa Đường, thường được gọi là ông Hoa Đường Tiên sinh.

 

Quê ngoại ông Du ở làng Hoa Thiều (1), huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sinh mẫu ông tên là Trần Thị Thấn (2), là con gái một họ thế phiệt ở làng Ông Mặc, huyện Đông Ngàn, nổi tiếng là một họ văn học trung nghiã, trai gái người rất đẹp. Con gái thường được tuyển vào làm Cung phi, Vương phủ (3). Bà Thấn lấy lẽ ông Thủ tướng Nguyễn Nghiễm, được bốn con trai là Trụ, Nễ, Du, Ức.

 

Ông Du sinh năm Ất Dậu (1765) Tức là năm thứ 26 niên hiệu Cảnh Hưng đời vua Hiển Tông nhà Hậu Lê (không đâu ghi chép ông sinh ngày nào, tháng nào). Ông mất năm Canh Thìn (1820) Tức là năm đầu niên hiệu Minh Mệnh triều Nguyễn, thọ 56 tuổi. Ông mất ngày mồng 10 tháng 8 âm lịch.

 

1/ Làng Hoa Thiều nguyên trước là nửa phiá Nam Ông Mặc (tên Nôm gọi là làng Me) Thuộc Tổng Nghiã Lập, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Cuối đời Hậu Lê mới chia làng Ông Mặc ra làm hai, thành làng Hương Mặc và làng Hoa Thiều. Làng Hương Mặc vẫn gọi là làng Me. Làng Hoa Thiều tên Nôm gọi là làng Mấc, tức là tiếng Mặc gọi trạnh ra. Bởi nguyên là một phần làng Ông Mặc, nên tổ tiên họ Trần là ông Tiến Sĩ Trần Ngạn Húc và ông Tiến Sĩ Trần Phi Nhỡn trong Đăng Khoa Lục đều ghi là người làng Ông Mặc. Chính tôi, Đàm Duy Đạo, người làng Me nên tôi biết họ Trần làng Mấc này lắm.

 

2/ Chữ Thấn tên sinh mẫu ông Nguyễn Du thật đáng ngờ là chữ Tần lầm ra. Chữ Tần nghiã là một bực vợ lẽ các vị vua chuá nghiã rất hay, còn chữ Thấn nghiã rất dở, là cái áo quan có người chết chưa chôn hay chôn tạm. Tôi tưởng con gái nhà sang trọng không ai đặt tên thế.

 

3/ Cung phi, Vươngphủ là các bà vợ lẽ vua chuá. Vợ cả vua là Hoàng Hậu, dưới Hoàng Hậu có các bà Phi và các bà Tần. Vợ cả các con vua gọi là Phi. Vợ cả Thái Tử gọi là Hoàng Phi. Gia thế

 

Ông Du là dòng dõi một nhà trâm anh, văn chương nổi tiếng xưa nay trong nước. Cụ thủy tổ phát tích đầu tiên khoa bảng lẫy lừng họ Nguyễn Tiên Điền là ông Trạng nguyên Nguyễn Thuyến, người làng Canh Hoạch, xứ Bắc (4). Ông Thuyến đỗ Trạng nguyên hồi đầu nhà Mạc đồng thời với ông Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Kém ông Khiêm mấy tuổi, nhưng lại đỗ trước ông Khiêm một khoa. Hai ông rất thân nhau, và đều có ý ân hận là không may sinh vào thời Ngụy Mạc, nên khi nhà Lê Trung Hưng ở Thanh Hoá, hai ông tuy đều đã làm quan to, được phong tước Hầu với triều Mạc, nhưng đều muốn vào Thanh Hoá Hiệu Thuận (5). Trong một bài thơ ông Khiêm hoạ lại thơ ông Thuyến, tỏ ý cho ông Thuyến biết: Thế nào nhà Lê cũng lên, nhà Mạc cũng xuống, việc ông định làm là việc rất phải và nên làm ngay kẻo lỡ, tôi cũng muốn làm mà chưa được. Thế là trước tôi đã thua ông một bước, nay tôi lại phải thua ông một bước nữa. (6) Ông Thuyến được lời đồng ý của ông Khiêm, liền đem gia đình vào Trung quy thuận (họ Nguyễn Tiên Điền bắt đầu vào ở xứ Trung từ đó). Ông Thuyến đi rồi, ông Khiêm bị vua Mạc giữ làm Quân sư trong cuộc Tây Chinh (7) Thành ra không đi được.

 

4/ Canh Hoạch là một làng rất nhiều người đỗ Tiến Sĩ.

 

5/ Hiệu Thuận là bỏ triều Ngụy- Mạc về với triều Lê- Chính thống. Lúc nhà Lê nổi lên ở Thanh Hoá, nhiều quan triều Mạc bỏ Mạc quy thuận vào với Lê. Ngoài ông Thuyến ra, sau còn mấy ông hiệu thuận rất giỏi nữa như ông Trạng Phùng Khắc Khoan và ông Lương Hữu Khánh văn võ toàn tài.

 

6/ Hồi ở Sài gòn, tôi có chép được một tập 100 bài thơ chữ Hán của ông Trạng Trình, trong đó có bài hoạ thơ ông Thuyến này. Tiếc thay, tôi quên hết nguyên văn, chỉ nhớ đại ý nói “Đêm sắp hết, mặt trăng sắp lặn, đàn chim ngủ ở cành cũ đã dậy gọi chào vầng đông. Ông muốn đón cảnh bình minh thì dậy sớm kẻo muộn. Thế là tôi lại thua ông bước dài nữa.”

 

7/ Tây Chinh là nhà Mạc mang quân đi đánh Gia quận công Vũ Văn Mật giữ vùng Hưng Hoá, Tuyên Quang chống lại Mạc Triều. Vua Mạc có ý giữ Khiêm nên không khiến ông làm Quân Sư đi đánh Lê Trịnh ở Thanh Hoá.

 

Ông Thuyến vào Trung, được Lê triều rất trọng dụng, nhưng đến đời cháu không biết vì việc gì mà phải chu di (8), may được một người trốn thoát lẩn ra Bắc với Mạc triều. Khi Mạc bại vong, gia đình họ Nguyễn lại tránh vào Trung và lập nghiệp ở làng Tiên Điền và truyền kế học hành đỗ đạt được sáu, bảy đời. Đời anh em ông Huệ, (9) Ông Nghiêm là hồi họ Nguyễn Tiên Điền thịnh đạt nhất. Ông Huệ đỗ Sỹ Vọng rồi lại đỗ Tiến Sĩ khoa Quý Sửu (1733), nhưng vinh quy rồi chết ngay, vua rất thương tiếc, truy phong Phúc Thần. Ông Nghiễm năm 24 tuổi đỗ Hoàng Giáp khoa Tân Hợi (1731) Làm quan đến chức Tham Tụng, Thượng Thư, Đại Từ Đồ, được phong tước Xuân quận công, về trí sĩ, sau lại khởi phục làm Đốc Tướng trong 10 năm. Ông làm quan trải 3 đời vua Thuần Tông, Ý Tông, Hiển Tông, tại chức gần 50 năm. Con trai cả ông là ông Nguyễn Khản cũng đỗ Tiến Sĩ và làm đến Tham Tụng Thượng Thư. Con thứ hai là ông Nguyễn Điều, thi Hội đỗ Tam Trường, rồi đổi sang nghề võ, làm Trấn thủ Hưng Hoá (10), được phong tước Điều Nhạc Hầu. Con thứ ba là Nguyễn Dao, đỗ Cử Nhân, làm Hồng Lô Tự Thừa.

 

8/ Vụ cháu chắt ông Thuyến bị chu di, trong cuốn Kỷ Yếu kỷ niệm Nguyễn Du không nói rõ vì tội gì. Có lẽ vì việc mưu chống Chúa Trịnh Tùng. Trong tập Kỷ Yếu này chép đủ tên các người thế hệ họ Nguyễn từ thời ông Thuyến đến đời ông Du, người nào cũng đặt tên theo bộ nhân.

 

9/ Chớ nhầm ông Nguyễn Huệ Tiên Điền với ông Nguyễn Huệ là vua Quang Trung.

 

10/ Sử chép: Năm 1786 khi quân Tây Sơn tiến đến đánh Thăng Long, Trịnh Khải cho gọi Hoàng Phùng Cơ là Trấn thủ Sơn Tây về cứu, thì biết ông Nguyễn Điều là anh ông Du đã bỏ chức Trấn thủ Sơn Tây mà mang gia đình tránh về quê ở xứ Trung ngay từ năm trước rồi.

 

Ông Du, tác giả truyện Thúy Kiều (11) Là con thứ 7 ông Nghiêm và là con bà Trắc Thất (vợ lẽ) Trần Thị Thấn. Bà có 4 con trai là Trụ, Nễ, Du, Ức.

 

Ông Trụ, ông Nễ đều đỗ Cử Nhân. Trong Việt Nam Sử Lược nói: “Năm Giáp Thân (1784) Kiêu binh Tam Phủ (12) Vào phá nhà quan Tham Tụng, nhưng ông Ly chạy thoát, rồi lên Sơn Tây cùng với em là quan Trấn thủ Nguyễn Điều bàn định rước chúa Trịnh Khải ra ngoài, gọi quân các trấn về trừ Kiêu binh Tam Phủ nhưng mưu cơ bị tiết lộ nên sự không thành.. .” Lời sử nói “quan Tham Tụng Nguyễn Ly” đây tức là quan Tham Tụng Nguyễn Khản mà sử gia chép lầm ra Nguyễn Ly. Chữ này đáng lẽ phải phiên âm ra Lệ mới đúng. Hoặc giả ông Khản sau đổi tên là Lệ chăng? Nhưng ở cuốn Đăng Khoa Lục không thấy nói đến sự đổi tên này. Xét trong một họ mà đồng thời có nhiều nhân vật tài cao chức trọng, chung vui chung buồn với nước như thế. Thật là ít có họ nào sánh kịp vậy.

 

11/ Hoa Tiên là cuốn truyện cũng viết lối thơ lục bát như truyện Kiều và lời văn còn văn hoa thanh tao hơn, nhưng kênh kiệu quá, rất khó hiểu, chỉ riêng giới văn sĩ thâm thúy mới hoan nghênh. Ông Cao Bá Quát cho văn Hoa Tiên hay hơn truyện Thúy Kiều.

 

12/ Kiêu Binh - Chúa Trịnh chỉ dùng lính người xứ Thanh, xứ Nghệ làm quân túc về canh phòng Vương Phủ và các nơi hiểm yếu ở Kinh đô Thăng Long gọi là Ưu Binh. Bọn Ưu Binh cậy thế Chúa Trịnh làm lắm điều càn rỡ, đến khi Ưu Binh ủng hộ lập được Trịnh Khải lên ngôi Chuá, lại càng kiêu ngạo càn rỡ hơn, cướp phá dân chúng, phá nhà và giết mấy ông quan to. Sử gọi lũ đó là Kiêu Binh. Tác phẩm

 

Tác giả sinh đã là dòng dõi trâm anh khoa bảng, sẵn văn chương nếp đất, sẵn thông minh tính trời, lại gặp hồi gia đình thịnh đạt. Cha, anh, chú, bác đều thanh giá lừng lẫy, văn đã không ai bằng, võ cũng chẳng kém ai. Tác giả thật đã dụng tâm khéo tả đúng với gia thế và tài hoa cùng tính tình của tác giả: Thật là nền phú hậu, thật là bậc tài danh, thật là phong nhã hào hoa.

 

Các thi sĩ nổi tiếng xưa nay phải có thiên tài đặc biệt đã vậy, nhưng lại phải được tình cảnh éo le, bước đường chật bật nó điêu luyện, nó kích thích thì mới nẩy ra được văn phẩm tuyệt tác. Ở Tầu xưa thì bài Quy khứ lai từ của ông Đào Tiềm, bài Đằng Vương Các tự của ông Vương Bột, bài Thục đạo nan của ông Lý Bạch, tám bài thơ Thu hứng của ông Đỗ Phủ, bài Tỳ bà hành của ông Bạch Cư Dị, hai bài Xích Bích Phú của ông Tô Đông Pha. Ở nước Việt ta thì như bài Tự tình ca của ông Cao Bá Nhạ, các bài hát nói tuyệt diệu của ông Nguyễn Công Trứ và ông Cao Bá Quát, lại còn nhiều bài thơ chữ Hán hay vô giá của các trung ng- Hiã thế cùng than thở, như bài Thuật hoài của ông Đặng Dung. Những bài thơ văn tuyệt phẩm này đều là sản phẩm trong bước gian nan của các thi sĩ.

 

Ông Nguyễn Du cũng vậy, có gặp cảnh long đong, nước phá nhà tan kích thích thì mới viết được quyển Đoạn Trường Tân Thanh, là cuốn văn thơ tuyệt tác, hiện nay lưu hành khắp thế gian, văn sĩ Đông Tây đều phải phục là hay vào bậc nhất trong kho văn chương thế giới. Tài tình & mệnh vận

 

Tác giả lúc nhỏ thông minh dĩnh ngộ (13), lớn lên văn tài siêu việt khác người, tính tình hào hoa khoáng đạt. Nói đến cậu Bảy (vì ông Du là con thứ bẩy của ông Nghiêm) Thì ai cũng phải yêu quý, chịu là bậc phong lưu Công tử đệ nhất ở Kinh đô Thăng Long.

 

Tiếng phong nhã của cậu Bảy này còn truyền tụng đến mấy mươi năm về sau. Trong thời kỳ trẻ trung vui tươi đầy hi vọng tốt đẹp này, được vui hãy cứ vui kẻo uổng tuổi thanh xuân, cậu Bảy đâu đã cần gì vội nghĩ đến cuộc tranh khôi đoạt giáp, vì sẵn tài hoa, sẵn nếp đất, cái cuộc Kim mã - Ngọc đường, cậu coi như nắm vững trong tay rồi, tội gì sớm buộc vào vòng công danh vội!

 

Nhưng tài, mệnh ghét nhau. Năm 19 tuổi, ông vừa bước chân vào đường khoa cử tiến thân, đỗ Tam Trường, khoa Quý Mão (1783) Thì ngay năm sau, Giáp Thìn (1784) Bọn Kiêu Binh Tam Phủ vào phá nhà ông Tham Tụng Nguyễn Khản là anh tác giả. Ông Khản chạy thoát rồi mang cả gia đình họ Nguyễn lên Sơn Tây với ông Trấn thủ Nguyễn Điều. Sau khi hai ông Khản, Điều định họp quân các trấn lại đón Chuá ra, để trừ quân Kiêu Binh Tam Phủ, nhưng cơ mưu bị tiết lộ, việc cứu Chúa dẹp loạn không xong. Thế là gia đình tác giả đương thịnh hoá tan, bỏ Thăng Long về ẩn quê miền Trung.

 

13/ Dĩnh ngộ là trí khôn mở mang sớm và thông minh hiểu biết hơn người.

 

Tác giả thật đã dụng tâm ngầm tả việc Kiêu Binh phá nhà họ Nguyễn làm tác giả vỡ mộng đẹp công danh tác giả vừa mới bắt đầu năm trước, bằng đoạn trong truyện Kiều tả lũ sai nha đầu trâu mặt ngựa, nách thước tay dao vào phá nhà họ Vương, làm cho Thúy Kiều tan duyên đẹp với Kim Trọng vừa mới đính kết đêm qua.

 

Còn thời kỳ tuổi trẻ tươi vui, và cái cuộc vỡ giấc mộng vàng thì tác giả ngụ ý nói bóng ở trong mấy câu tả tiếng đàn Kiều gẩy lần sau: Khúc đâu đầm ấm dương hoà Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh? Khúc đâu êm ái xuân tình Ấy hồn Thục Đế hay hình Đỗ Quyên? Tác giả ví hồi tuổi trẻ đó thật đầm ấm thảnh thơi như lúc ông Trang Sinh mơ hoá bướm bay lượn trên hoa vô lo vô sự “Khúc đâu đầm ấm dương hoà, ấy là Hồ Điệp” và thật là êm ái xuân tình lòng ông Thục Đế trong hồi làm vua lúc thái bình, tha hồ hưởng lạc thú “Khúc đâu êm ái xuân tình, ấy hồn Thục Đế”.

 

Còn cuộc vỡ mộng đẹp thì tác giả ví như ông Trang Sinh lúc tỉnh dậy ngơ ngẩn ngán mình lại hoá ra thằng Chu trăm lo nghìn chán về cuộc đời người: “hay là Trang Sinh” và ví như Thục Đế thác sinh ra hình Đỗ Quyên thảm sầu nhớ nước, kêu: “Quốc! Quốc! ” suốt đêm ngày “hay hình Đỗ Quyên?” lòng trung nghiã với lê hồi Nguyễn Triều. Tuy ông Hồng Sơn Liệp Hộ đã quyết định gác bỏ công danh, vui cảnh núi rừng để giữ trọn niềm trung nghiã với Cố Lê, nhưng khi vua Gia Long nhà Nguyễn diệt được Tây Sơn, thống nhất được sơn hà, muốn thu phục lòng người, mới ban chiếu chỉ chiêu dụ những trung thần trung nghiã của Cố Lê và những người đứng đắn dòng dõi thế gia vọng tộc ra lục dụng. Ông Du thật đầy đủ cả hai điều kiện không thể từ chối lẩn tránh được, nên đành phải ứng chiếu ra làm quan với Nguyễn triều cho gia đình được yên toàn. Cuộc ông phải ra làm quan với Nguyễn triều này chẳng khác gì cô sư Trạc Tuyền Thúy Kiều phải “ngắn thở dài than” mà đành nhận lời lấy Kim Trọng để chiều lòng cha mẹ. Nỗi khổ tâm đành phải tùy thời thất tiết với Cố Lê này, ông đã ngầm tỏ ở trong lời Kiều dở van dở trách nói với Kim Trọng:

 

Chữ trinh còn một chút này,

Chẳng cầm cho vững lại dầy cho tan.

 

Cái sự ông bất đắc dĩ phải nén lòng trung Lê xuống mà làm tôi nhà Nguyễn này, đã khiến ông mất lòng thành với nhà Nguyễn, nên tuy được trọng dụng mà ông chỉ làm trọn chức phận, không nói năng điều gì ngoài trách nhiệm, đến nỗi có khi vua Gia Long đã quở ông rằng: “Nhà nước dùng tài, cứ ai hiền tài thì dùng không phân biệt Nam hay Bắc. Ngươi đã làm đến chức Á Khanh, hễ biết việc gì hay thì phải nói, mới là làm hết chức trách, sao lại cứ rụt rè, e sợ, chỉ vâng- Vâng, dạ- Dạ xong lần như thế? ”

 

Cứ theo lẽ nông nổi bên ngoài mà nói, thì lời vua quở ông là đích đáng. Nhưng nếu chiếu theo cái khổ tâm “Từ Thứ quy Tào” của ông mà xét cho sâu sắc đúng tình lý, thì lời quở này thật oan ức, chẳng thấu tình cho ông chút nào. Vì cái thâm tâm “cầm vững chút chữ trung còn lại” với Cố Lê lúc này ông đâu dám tỏ chút nào cho ai biết, nên ông đành ngậm oan vâng lời vua quở mà mang mối uất hận suốt đời, chỉ dám ngầm tỏ cho thiên hạ đời sau biết trong hai câu thơ ông tả tiếng đàn Kiều gẩy lần sau:

 

Trong sao châu đỏ doành quyên

Ám sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!

 

Người ngoài vô tình thì nghe tiếng đàn trong trẻo tròn trĩnh như hạt ngọc rơi xuống mặt nước khu bể trong veo dưới ánh trăng sáng đẹp, nhưng có biết đâu dưới đáy bể có bọn giao nhân vẫn khóc, lệ châu rơi lã chã.

 

Người ngoài vô tình thì tiếng đàn có giọng tươi vui như bãi cỏ xuân mặt núi Lam Điền xanh rờn dưới ánh nắng ấm áp, nhưng có biết đâu dưới mặt đất núi có những hạt ngọc non mới đông bị khí nóng nắng ấm làm tan thành khói bốc lên.

 

Hai câu tả tiếng đàn này rõ ràng là ông dụng ý tỏ cho đời biết là chớ thấy ông được Nguyễn triều trọng dụng mà lầm tưởng ông được vinh hiển tươi vui. Thật ra ông chỉ gượng vẻ tươi vui ở bên ngoài, nhưng trong bụng ông đầy nỗi đau thương, vẫn tủi cực khóc thầm. Lý lịch trong quan trường của tác giả

 

Năm 1802, Gia Long thứ nhất, ông ra ứng chiếu được lục dụng bổ làm Tri Huyện huyện Phù Dực, tỉnh Thái Bình, được ít lâu thăng bổ Tri Phủ phủ Thường Tín, rồi ông cáo bệnh xin về.

 

Năm 1806, Gia Long thứ năm, phải triệu vào Kinh trao cho chức Đông Các Học Sĩ (năm đó ông 42 tuổi)

 

Năm 1809, Gia Long thứ tám, được bổ ra làm Cai Bạ (tức là Bố Chính) ở tỉnh Quảng Bình (năm đó ông 45 tuổi). Năm 1813, Gia Long thứ mười hai. Ông được thăng lên chức Cần Chánh Điện Học Sĩ và sung chức Chánh Sứ sang cống Trung Hoa (ông 49 tuổi). Đi Sứ về, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri và được nghỉ (không biết bao lâu). Mấy năm được nghỉ này, tức là hồi ông diễn cuốn Phong tình lục thành Đoạn Trường Tân Thanh, lúc ông 50- 51 tuổi.

 

Năm 1820, Minh Mệnh thứ nhất, lại có chỉ sai ông đi Sứ sang Tầu, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh mất. Ông mất vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn, thọ 56 tuổi.

 

.. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .....................

 

PHỤ LỤC ĐỘNG CƠ ÔNG NGUYỄN DU DIỄN TRUYỆN KIỀU?

 

Hồi tôi 15 – 16 tuổi, có học cụ Cử Nguyễn Đảng để tập văn thi khoa Hương Nhâm Tý ở trường thi Nam Định. Cụ người làng Nội Duệ, tỉnh Bắc Ninh, đỗ Tú Tài năm 17 tuổi, đỗ Cử nhân năm 27 tuổi khoa Bính Tuất (1886) Đồng bảng với ông Chu Mạnh Trinh. Cụ Cử Đảng là bậc thâm nho, học rộng biết nhiều, tính khảng khái, tránh xa nơi quyền thế. Suốt đời dạy học, hay đem những truyện nghiã khí kể cho học trò nghe.

 

Tôi còn nhớ một buổi giảng sử Nam đến đoạn nói: Khi Nhạc Huệ rút quân về nam rồi, buổi đầu tiên vua Lê Chiêu Thống ra coi triều, các quan cựu thần tan hết, chỉ còn 8 ông Tiến Sĩ tân khoa là các ông Trần Danh Án, Phạm Quý Thích, Phạm Nguyễn Du.. . Có anh học trò hỏi Cụ: “Có phải ông Nghè Phạm Nguyễn Du này đã viết ra truyện Kiều không?” Cụ Cử nói “Anh lầm rồi! Người viết truyện Kiều là ông Nguyễn Du, con cháu một nhà trâm anh thế phiệt, cha, anh làm Quốc Sư kia.”

 

Rồi nhân tiện cụ kể cho biết sở dĩ ông Nguyễn Du viết ra truyện Kiều là vì nhiều lẽ. Mà lẽ thứ nhất là vì trong bữa yến tiệc vua Gia Long đãi các cựu thần nhà Lê. Ông Nguyễn Du vì là con nhà vọng tộc lại có lòng khảng khái chống lại Tây Sơn nên cũng được mời. Trong khi dự yến, các vị Tòng Vong ở Tầu về được vua có ý trọng đãi hơn là các vị lẩn tránh ở trong nước, đã làm cho các vị cựu thần này mếch lòng, nhất là ông Phạm Quý Thích và ông Nguyễn Du.

 

Rồi lại thêm chuyện lũ phường tuồng ra hát giúp vui, diễn một tấn hài kịch bất nhã như sau:

 

Một ông vua bị giặc đánh phải bỏ chạy ra nước ngoài cầu cứu. Khi được viện trợ và khôi phục được nước rồi, có một vị cựu thần vào yết kiến chào mừng. Vua hỏi sao trước kia không theo phò vua xuất ngoại? Vị cựu thần thưa:

 

- Thần định ở nhà để lo sự khôi phục, rồi đi rước vua về.

 

Vua nói:

 

- Chí to ấy thật đáng khen! Nhưng chí to phải tài cũng to mới làm nên việc. Vậy nhà ngươi có đủ tài đó không?

 

Viên cựu thần vừa nói vừa chỉ vào bụng mà thưa rằng:

 

- Thần tưởng bụng thần đầy đủ lục thao, tam lược như thế này thì rất đủ sức thực hiện được chí đó.

 

Vua bảo:

 

- Thao lược nhà ngươi thế nào thử bầy tỏ cho ta coi!

 

Viên kia vâng lời, liền moi trong áo trước bụng ra 3 đôi thao nón cũ và 3 chiếc lược răng đã cùn gẫy ra trình mà nói:

 

- Tâu bệ hạ! Lục thao của hạ thần đây! Tam lược của hạ thần đây! Đâu phải tầm thường.

 

Vua Gia Long nghe thích chí vui cười, trong khi ông Thích, ông Du thật thâm gan tím ruột. Từ đó hai ông mất hết cảm tình với nhà Nguyễn. Ông Thích thì lấy cớ đau mắt xin được ở nhà dậy học, nhưng suốt đời ngồi trong mùng giảng sách, chấm bài, ít ai được thấy mặt. Còn ông Du thì vì tài chí lỗi lạc quá, bất đắc dĩ phải nhận chức ra làm quan.

 

Năm Gia Long thứ 12 (1813) Ông Du sang sứ Tầu thấy cuốn Phong Tình Lục tả cảnh nàng Vương Thúy Kiều chung kiếp bị Giời ghen với mình, mới mua hai cuốn về cho ông Thích xem rồi bàn mỗi người diễn riêng thành một truyện để gửi tâm sự mình vào đó cho thiên hạ đời sau biết. Ông Du về Trung, vì có công đi sứ, được nghỉ việc quan, chuyên tâm cố diễn Phong Tình Lục thành truyện Kiều trong khoảng hơn một năm thì xong, mang ra Bắc cho ông Thích xem. Ông Thích thấy ông Du diễn đã xong, mới bỏ quyển của mình đi và bàn nhau với ông Du cùng sửa lại đôi chỗ trong quyển của ông Du.

 

Lúc ông Du mới diễn xong truyện Kiều đặt tên là Đoạn Trường Tân Thanh. Ông Thích cho là tên đó nghe đã thê thảm quá, e lại lộ tâm tích, mới bàn với ông Du đổi tên là Kim Vân Kiều Truyện cho được bình thường và kín đáo hơn. Khi hai ông cùng sửa lại xong rồi, ông Thích đề một bài thơ Đường luật bằng chữ Hán coi như bài tựa và cho khắc mộc bản ấn hành. Bài thơ tựa này lúc mới chỉ có bản in bằng Hán văn, sau ông mới diễn ra tiếng Nôm nên không kịp khắc in.

 

Tôi được nghe cụ Cử Đảng kể cho học trò nghe rõ ràng như vậy, nên xin ghi lại để độc giả biết động cơ đã thúc giục hai ông Tố Như và Hoa Đường phỏng diễn quyển Phong Tình Lục thành Kim Vân Kiều Truyện. Ý nghĩa chữ “kim vân kiều”

 

Truyện Kiều có hai tên, trước đặt là Đoạn Trường Tân Thanh, sau đổi là Kim Vân Kiều Truyện.

 

Chữ Đoạn Trường Tân Thanh thì nhiều người biết là ở Tầu trước kia đã có một cuốn sách chép toàn những truyện đau thương thê thảm ở đời, tên là Đoạn Trường Thanh – Tiếng kêu đứt ruột. Trong cuốn này, đầu tiên là truyện một con vượn mẹ thấy con bị tên bắn chết, chạy tới ôm con rồi kêu lên một tiếng dài rất thê thảm, đứt ruột từng khúc, rồi lăn ra chết bên thây con. Người ta gọi tiếng kêu ấy là Đoạn Trường Thanh. Bởi vậy ông Nguyễn Du mới đặt quyển truyện Kiều ông diễn là Đoạn Trường Tân Thanh – Tiếng kêu đứt ruột mới.

 

Ông Phạm Quý Thích thấy tên Đoạn Trường Tân Thanh này vừa lộ tâm tích quá, vừa e không có điềm tốt lành, mới bàn với ông Du đổi là Kim Vân Kiều Truyện. Để ngoài thì nghiã rất thông thường khỏi ai để ý đến tâm tích bất mãn, mà trong thì ngụ ý thâm thúy mong đợi nhà Lê trung hưng, để lại được giúp vua Lê chính thống. Nghiã thâm thúy của ba chữ Kim Vân Kiều như sau:

 

Kim vân là mây vàng; Kiều là kiễng chân mà mong đợi. Kim Vân Kiều là kiễng chân lên mà mong đợi đám mây vàng. Mây vàng tức là điềm báo trước vua sẽ được gặp Hiền Tướng. Khoa ông Hàn Kỳ đỗ Trạng Nguyên, vua Tống Nhân Tông được toà thiên văn báo tin mừng là có đám mây vàng ánh ngũ sắc ôm dưới mặt trời. Khoa ông Văn Thiên Tường đỗ Trạng Nguyên, vua Tống Lý Tông nằm mơ thấy có đám mây vàng từ trên giời bay xuống phủ đầu vua. Ông Hàn Kỳ và ông Văn Thiên Tường đều là Tể Tướng trứ danh đời nhà Tống. Nghiã ba chữ Kim Vân Kiều kín đáo sâu xa là như thế chứ không phải là tầm thường. Vì mục đích gì ông du diễn truyện kiều? Xét trong hai đoạn cuối cùng, chúng ta thấy Đoạn Trường Tân Thanh có 3 cuộc kết thúc:

 

• Sau khi Thúy Kiều vâng lời cha mẹ, bất đắc dĩ phải kết duyên cùng Kim Trọng, thì có cuộc kết thúc thành giả phu thê.

 

• Sau khi thành hôn thì có cuộc kết thúc bằng tiếng đàn ngoài vui hoà, trong than khóc.

 

• Lời kết thúc cuốn truyện bằng 14 câu khuyến thiện, khuyên người có tài vun giữ thiện căn, khuyên người bạc mệnh đành chịu phong trần, chớ trách lẫn Trời.

 

Theo những kết thúc nhận thấy ở trên, thì biết tác giả Đoạn Trường Tân Thanh có 3 mục đích:

 

• Để ngầm tỏ cho thiên hạ biết tâm trạng tiên sinh bất thân với nhà Nguyễn, nhưng bất đắc dĩ phải ra làm quan vì nghĩ đến tổ tiên, gia tộc. Cuộc tiên sinh kết duyên giả quân thần với vua Gia Long để giữ chút lòng trung còn lại với Cố Lê Chính thống.

 

• Để gửi gắm tâm hồn đau đớn của tiên sinh lại mãi cho đời sau biết: Đau đớn vì thương nhớ cố quân, cố quốc; Đau đớn vì phải lơ láo đứng giữa tân triều. Ngoài mặt tỏ ra vui vẻ, mà trong lòng hổ thẹn.

 

• Để khuyến thiện trừng ác theo như mục đích thông thường của phần nhiều các truyện, các tiểu thuyết xưa.

 

Tuy mục đích tỏ tâm sự và gửi tâm hồn là hai điều chủ yếu đã thúc giục tiên sinh viết ra tác phẩm Quý vô giá này nhưng tiên sinh không dám bày tỏ rõ ràng, phải ngầm tỏ kín đáo. Nên phải lấy mục đích khuyến thiện làm chủ truyện để hậu thế thưởng thức và lưu truyền tấm lòng trung nghiã đau thương của tiên sinh; Hiểu thấu tâm sự tiên sinh mà viếng khóc tiên sinh mãi mãi.

 

Cụ Cử Đảng sau khi kể vì sao ông Nguyễn Du diễn truyện Kiều rồi, lại kể luôn cho học trò nghe thêm hai việc có liên hệ đến truyện Kiều sau khi truyện này được thịnh hành. Truyện kiều bị đề thơ chỉ trích Khi truyện Kiều xuất bản rồi, được mọi người thán phục đua nhau mua đọc. Có một người học trò cụ Hoa Đường lại chê là một quyển truyện phong tình lục không nên đọc, mới mua một cuốn mà đề một bài thơ ở ngoài rằng:

 

Hà tắng tạo vật đố hồng nhan? Chỉ tự hồng nhan khởi nghiệp đoan Mối tín vị thông xuân tứ loạn Tình lang tài khứ thệ bôi hàn Thanh lâu đáo khách giai Kim Trọng Hồng phấn tàn thì hựu Thổ quan Quái đắc Tân thanh lưu nhạc phủ Đáo kim ca vịnh mãn Tràng An Nào có bao giờ ông Giời ghen khách má hồng đâu?

 

Chỉ tự khách má hồng gây mối oan nghiệt cho mình thôi Chưa có tin mối lái gì, mà lòng xuân đã bùng rối lên rồi; Tình lang vừa mới đi khỏi, thì đã để chén rượu thề nguội lạnh đi rồi; Lúc ở lầu xanh, khách nào đến cũng coi là Kim Trọng cả; Khi má hồng đã phai tàn rồi, lại vẫn còn lấy tên Thổ quan, Thật quái lạ sao cuốn Tân thanh lại được để ở nhạc phủ. Mà đến nay người ta còn ngâm nga khắp Tràng An.

 

Cụ Hoa Đường thấy anh chàng này ngu gàn, ngông hỗn mới đánh cho mấy chục roi và xoá tên trong sổ cập môn, không nhận làm học trò của cụ nữa. Bài thơ này nhiều cụ đồ nho hạt Bắc Ninh biết. Có hôm một cụ đọc cho tôi nghe, tôi hỏi cụ có biết ai làm không và làm hồi nào, thì cụ không biết. Văn sĩ tầu khéo vu cho truyện kiều.

 

Một người văn sĩ Trung Hoa ở nước Nam đã lâu thông thạo cả chữ Nôm, thấy truyện Kiều rất hay, vượt cả các truyện hay của Tầu, mới theo khuôn mẫu truyện Kiều và lấy thêm nhiều chi tiết ở cuốn Phong Tình Lục, viết ra cuốn Thanh Tâm Tài Nhân rồi phao tiếng lên rằng ông Nguyễn Du đã theo cuốn Thanh Tâm Tài Nhân mà diễn ra truyện Kiều. Nhà văn sĩ Tầu làm chuyện giả mạo này một là để tỏ ra rằng truyện Kiều hay thế là vì dịch ở một truyện Tầu ra thôi chứ chẳng lạ gì; Hai là để cuốn Thanh Tâm Tài Nhân chàng viết được theo ảnh hưởng truyện Kiều mà cùng lưu hành rộng rãi bất tử.

 

Vào khoảng năm 1920 – 1922 gì đó, tôi đọc báo Trung Bắc Tân Văn có thấy đăng một bài khảo cứu về truyện Kiều của một vị mà rất tiếc tôi đã quên mất họ tên.

 

Bài khảo cứu đó nói đích xác là cuốn Thanh Tâm Tài Nhân không phải là quyển Phong Tình Lục mà ông Nguyễn Du đã dùng làm căn cứ để viết truyện Kiều. Mà trái lại cuốn Thanh Tâm Tài Nhân lại là một cuốn truyện do văn sĩ Tầu lấy những chi tiết hay ở truyện Kiều thêm vào những chi tiết tầm thường ở cuốn Phong Tình Lục, mà ông Du đã loại bỏ, để viết thành truyện. Rồi mang về Tầu in và mang lại sang Nam phát hành, nói lừa người Nam ta rằng cuốn đó là Phong Tình Lục, tức là nguồn gốc truyện Kiều.

 

Lời bài khảo cứu này nói đại khái vậy, tôi thấy phù hợp với lời cụ Cử Đảng kể với học trò ở trên, nên tôi nhớ mãi.

 

Vậy xin ghi ra đây để ta cùng suy xét cho khỏi bị tưởng lầm là truyện Kiều dịch ở cuốn Thanh Tâm Tài Nhân ra. Truyện Kiều đích xác Nguyễn Du lấy quyển Phong Tình Lục làm căn cứ, rồi thêm những chi tiết quan trọng vào, đồng thời bỏ bớt những tình tiết tầm thường trong nguyên văn mà diễn ra thơ để ký thác tâm sự đau thương của tiên sinh vào đó cho thiên hạ đời sau biết. Bài thơ đề truyện kiều của cụ hoa đường

 

Hán văn:

 

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,

 

Bán thế yên hoa trái vị thường.

 

Ngọc diện khởi ứng mai thủy quốc,

 

Băng tâm sự khả đối Kim Lang.

 

Đoạn trường mộng tỉnh căn duyên liễu,

 

Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.

 

Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,

 

Tân thanh đáo để vị thùy hương?

 

Giải nghĩa:

 

Cô giai nhân này nếu không đến sông Tiền Đường,

 

Thì dẫu cuộc trăng hoa nửa đời cũng vẫn chưa đền hết nợ.

 

Mặt đẹp như ngọc của cô sao nên chôn vùi ở dưới nước?

 

Vì tấm lòng trong như băng của cô đã không đủ thẹn với chàng Kim rồi.

 

Khi giấc mơ Đoạn trường tỉnh dậy cô đã hiểu rõ cả cội gốc nghiệp duyên rồi.

 

Nên khi gẩy xong khúc đàn Bạc mệnh, lòng cô mang mãi nỗi oán hờn.

 

Một mảnh tài tình từ nghìn đời đến nay, nó vẫn làm tai vạ cho người mãi.

 

Quyển Tân Thanh này kết cục vì ai mà tỏ lời khóc thương như vậy?

 

Diễn ra Quốc âm:

 

Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan, Phong hoa bao trắng nợ Hồng nhan. Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng, Mặt ngọc khôn nhòa chốn Thủy quan. Nửa gối Đoạn trường tan giấc điệp; Một dây Bạc mệnh dứt cầm loan.

 

Cho hay những kẻ tài tình lắm, Giời bắt làm gương để thế gian.

 

Theo lời cụ Cử Nguyễn Đảng thì Tố Như tiên sinh diễn truyện Kiều vào khoảng 1814 – 1815, sau khi đi sứ Tầu về và sau đó 4 năm thì tiên sinh tạ thế. Đính giải giả hương ngạn đào tử Đàm Duy Tạo kính đề Montréal, 1980 mùa đông năm Kỷ Mùi, 1979 nhập text, dàn trang & thiết kế bằng InDesign CS4 trên máy Apple MacBook Pro, tại trường nghệ thuật amiens hoàn thiện tháng 4,2012.

 

...............MỜI CÁC BẠN DOWNLOAD TOÀN BỘ TÀI LIỆU NÀY Ở PHẦN DƯỚI ĐÂY

 

 

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Xem-Nghe Giá Down
1 giảo đính và tường giải truyện Kiều AMBN(st) Đàm Duy Tạo 400Tr Download file giảo đính và tường giải tác phẩm kim vân kiều của nguyễn du 103
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN

Tìm bài thi Hỏi đáp Liên Hệ Tài liệu trên internet Tin giáo dục Quy định sử dụng

giảo đính và tường giải tác phẩm kim vân kiều của nguyễn du

giảo đính và tường giải tác phẩm kim vân kiều của nguyễn du

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN

Đăng nhập tài khoản
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 479
Hôm nay:4852
Hôm qua: 57328
Trong tháng 862758
Tháng trước1644276
Số lượt truy cập: 108176870