Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Tất cả PDF Doc/Xml/Ppt/Text Prc Chm Lit Âm thanh Video
share ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập

Ngày đăng: 07/02/2017 Lượt xem: 171 Người Upload: AMBN
Yêu thích: 0 Báo xấu: 0 Loại file: pdf

Luận án tiến sĩ ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập. Như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam với sự kết hợp giữa nhận thức về vai trò của văn hóa và nhận thức về sự cần thiết đẩy mạnh hội nhập quốc tế đã đưa ngoại giao văn hóa thực sự trở thành một trong 3 trụ cột của nền ngoại giao ViệtNam hiện đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu chủ trương: “Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại”

TRƯỜNG ĐẠI  HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI 2016


LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH VĂN HÓA HỌC
NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI ASEAN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP


CHUYÊN NGÀNH:   VĂN HÓA HỌC MÃ SỐ: 62310640
NCS NGUYỄN THỊ THÙY YÊN -  PGS.TS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG- PGS.TS. NGUYỄN DUY BẮC

 

 

 

MỞ ĐẦU

 

1. Tính cấp thiết của đề tài

 

Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bức tranh toàn cảnh về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.. . Của thế giới có nhiều thay đổi. Xu hướng chủ đạo của thế giới và khu vực là hòa bình, hợp tác và phát triển. Sự phát triển của mỗi quốc gia, khu vực và cả thế giới đang có xu hướng phụ thuộc ngày càng nhiều vào môi trường quốc tế. Những thành tựu của khoa học công nghệ và thông tin đã thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh. Các cuộc xung đột tôn giáo - sắc tộc, tranh chấp về lãnh thổ.. . Không chỉ ảnh hưởng đến một vài quốc gia mà còn lan rộng ra toàn khu vực, ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị, kinh tế quốc tế. Xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa trên tất cả các lĩnh vực là một xu hướng tất yếu. Vì vậy mỗi quốc gia muốn tham gia vào quá trình toàn cầu hóa thì phải chủ động xác định chiến lược hội nhập và xác định “vị thế” của mình trong quan hệ quốc tế, đặc biệt các quốc gia ngày càng chú trọng gia tăng sức mạnh mềm của mình trên trường quốc tế.

 

Sự vận động và phát triển của ASEAN trong những năm qua cũng nằm trong quy luật đó và Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy của khu vực và quốc tế.

 

Do vậy việc Việt Nam hội nhập ASEAN (1995) Là phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện hoàn cảnh riêng của đất nước. ASEAN mang lại cho đất nước ta nhiều lợi ích quan trọng và thiết thực, tạo thuận lợi và hỗ trợ rất lớn trong việc triển khai thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập khu vực và quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Trong 20 năm tham gia ASEAN, Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của hiệp hội ASEAN như kinh tế, quốc phòng - an ninh và đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác văn hóa. Tham gia hội nhập ASEAN, Việt Nam có điều kiện khai thác tối đa những thuận lợi để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển đất nước. Thành tựu lớn nhất mà ASEAN đạt được là không chỉ tăng cường sự hiểu biết, tin cậy nhau và sẵn sàng hỗ trợ nhau khi cần thiết, mà còn thúc đẩy tinh thần đoàn kết giữa nhân dân các nước ASEAN. Trong xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa như hiện nay, văn hóa là chiếc cầu nối quan trọng trong quan hệ quốc tế của mỗi nước.

 

Vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa nói chung và ngoại giao văn hóa nói riêng đã được thừa nhận rộng rãi trong nghiên cứu và trong chính sách phát triển chung trên toàn thế giới. Các quốc gia, ở mức độ khác nhau, đều sử dụng văn hóa như một công cụ trong hoạt động ngoại giao. Vì đây là kênh ngoại giao hữu hiệu làm gia tăng sức mạnh mềm, xây dựng lòng tin, quảng bá giá trị văn hóa ra thế giới, tiếp thu văn hóa nhân loại để làm giàu cho nền văn hóa đất nước. Từ đầu thế kỷ XXI, khi toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, ngoại giao văn hóa càng được sử dụng rộng rãi với nhiều hình thức phong phú và có vai trò quan trọng hơn trong nền ngoại giao của mỗi quốc gia bởi sức lan toả mạnh mẽ của văn hóa có vai trò to lớn trong việc xây dựng lòng tin giữa các quốc gia, giúp làm sâu sắc và thắt chặt hơn các mối quan hệ chính trị và kinh tế. Nhân tố văn hóa có ảnh hưởng, tác động đến quan hệ quốc tế và trong một số trường hợp mang tính quyết định. Do đó, việc vận dụng yếu tố văn hóa để nâng cao hiệu quả triển khai đường lối đối ngoại được các quốc gia ngày càng chú trọng. Sự trân trọng các giá trị văn hóa trong công tác ngoại giao trở thành cầu nối để vượt qua những khác biệt, đưa các dân tộc xích lại gần nhau và cùng chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu. Trong xu thế hòa bình, sự phân công lao động trên thế giới ngày càng sâu sắc sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng rõ nét và xu thế hội nhập đang nắm giữ vai trò chủ đạo trong đời sống kinh tế quốc tế thì ngoại giao văn hóa ngày càng trở nên quan trọng và được quan tâm hơn bao giờ hết.

 

Như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam với sự kết hợp giữa nhận thức về vai trò của văn hóa và nhận thức về sự cần thiết đẩy mạnh hội nhập quốc tế đã đưa ngoại giao văn hóa thực sự trở thành một trong 3 trụ cột của nền ngoại giao ViệtNam hiện đại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu chủ trương: “Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại” [26, tr. 235], đồng thời đề cập trực tiếp đến vai trò của ngoại giao văn hóa: “Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao Nhà nước và ngoại giao nhân dân; Giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa” [26, tr. 238].

 

Với vai trò ngày càng lớn của ngoại giao văn hóa, việc nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của ngoại giao văn hóa trong quan hệ quốc tế, trước hết là quan hệ với các nước trong khu vực rất quan trọng trong tình hình hiện nay. Nghiên cứu các hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, giúp chúng ta nhận diện được tình hình thực tế, đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN, nhận định xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam với các nước ASEAN trong những năm tới, từ đó đưa ra những bàn luận nhằm thúc đẩy công tác ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN để đáp ứng những yêu cầu thực tiễn hiện nay.

 

Xuất phát từ tình hình đó, nghiên cứu sinh (NCS) Chọn đề tài: “Ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN trong thời kỳ hội nhập” làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

 

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

 

2.1. Những nghiên cứu về ngoại giao văn hóa

 

2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

 

* Những luận điểm làm tiền đề cho lý luận ngoại giao văn hóa

 

- Thuyết xung đột văn minh

 

Thuyết xung đột văn minh do Samuel P. Huntington đề ra, ông cho rằng, nhân tố văn hóa ngày càng có vai trò quan trọng trong quan hệ giao lưu quốc và thế giới đang tiến vào một thời kỳ lịch sử của “Xung đột giữa các nền văn minh”. Thời kỳ sau chiến tranh lạnh, chính trị toàn cầu đang tiến hành tổ chức lại theo ranh giới văn minh. Đặc tính chung và sự khác biệt của văn hóa ảnh hưởng tới các quốc gia, những dân tộc và quốc gia có nền văn hóa tương tự đang tụ hợp lại, những dân tộc và quốc gia có nền văn hóa khác đang chia tách ra.

 

Các tác phẩm của ông bao gồm: “Sự xung đột giữa các nền văn minh” “Các loại quy phạm của thế giới sau chiến tranh lạnh. Nếu như không phải là văn minh thì sẽ là cái gì?” trên Tạp chí Ngoại giao, năm 1992; Năm 1996 ông xuất bản cuốn sách “Xung đột của văn minh và việc xây dựng lại trật tự thế giới”; Năm 2003 ở Việt Nam cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh” của Samuel P. Huntington đã được dịch ra tiếng Việt do Nxb Lao động, Hà Nội xuất bản. “Thuyết xung đột văn minh” của Huntington trong nhiều năm đã gây ra luận chiến gay gắt trong giới học thuật quốc tế. Học giả người Đức Harald Miluer, người đại diện thuyết chủ trương “Cùng tồn tại văn minh” với tác phẩm tiêu biểu “Cùng tồn tại văn minh” đã phê phán thuyết xung đột văn minh của Huntington (2001), cho rằng Huntington thổi phồng quá đáng sự xung đột giữa các nền văn hóa. Tuy nhiên “Thuyết xung đột văn minh” cũng đã tác động đến mọi người về sự thay đổi của tình hình thế giới từ góc nhìn văn hóa.

 

- Sức mạnh mềm

 

Những thảo luận về sức mạnh mềm đã xuất hiện khá sớm trong đời sống học thuật phương Tây. Sau đó khái niệm này được Joseph Nye - Nhà nghiên cứu chính trị học quốc tế Mỹ, giáo sư danh tiếng Đại học Havard định nghĩa và phát triển thành một luận thuyết. Ông nêu quan điểm: Cần chú ý đặc biệt khác nhau giữa “sức mạnh cứng” (khả năng kinh tế, quân sự của một nước tiến hành mua chuộc và tập hợp) Và “sức mạnh mềm” (khả năng cảm hóa và kêu gọi hình thái ý thức văn hóa để tiến hành thu hút) Được thể hiện trong cuốn sách “Nước Mỹ định một mình làm bá chủ thế giới chăng?” luận văn “Xác định lại ranh giới lợi ích quốc gia”, (1990).

 

Một tác phẩm vận dụng lý luận “sức mạnh mềm”, phân tích tường tận tác dụng của sức mạnh mềm là cuốn sách: “Sức mạnh mềm: Sự thống trị toàn cầu của phim ảnh, nhạc thịnh hành, truyền hình và quán ăn nhanh của Mỹ” (2005) Của Matthen Fraser, học giả Canada. Trong cuốn sách đó, ông đã trình bày tường tận sự khởi nguồn, phát triển của “sức mạnh mềm” của Mỹ và sự ảnh hưởng của nó trong ngoại giao quốc tế từ bốn mặt: Phim ảnh, truyền hình, âm nhạc thịnh hành và quán ăn nhanh.

 

Các nghiên cứu trên đã đi đến xác định: Sức hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách quốc gia là ba nguồn lực chính tạo nên sức mạnh mềm.

 

- Văn hóa trong quan hệ quốc tế

 

Vai trò văn hóa trong quan hệ quốc tế đã được các nhà nghiên cứu đề cập tới rất nhiều và ngày càng đi vào chiều sâu. Đã có rất nhiều tác phẩm bàn luận về vấn đề này tiêu biểu như: “Chính trị học toàn cầu” do Herano Kenichiro; “Thay đổi lớn toàn cầu” do David Held, giáo sư Đại học Mở Anh quốc; “Quan hệ văn hóa quốc tế” của học giả văn hóa Pháp Louis Doro; “Ngoại giao nhiều quỹ đạo” của hai học giả nổi tiếng người Mỹ Louise Diamond và John Mc Donald; “Nhân tố văn hóa trong quan hệ quốc tế Đông Tây” của Tư Trung Quân; “Lý luận văn hóa của chính trị thế giới” và trong luận văn cùng tên đã trình bày luận điểm: “Văn hóa có quan hệ với quan hệ quốc tế như thế nào?” của Tần Á Thanh; “Bàn về mối quan hệ giữa văn hóa và ngoại giao” của Phùng Thiệu Lôi; .. [61, tr. 14-22].

 

Các tác phẩm trên đều đề cập tới vai trò của văn hóa trong quan hệ quốc tế từ nhiều góc độ. Tiêu biểu là luận điểm của ông Herano Kenichiro, giáo sư trường Đại học Tokyo, chuyên gia về vấn đề quốc tế nổi tiếng của Nhật trong cuốn sách “Chính trị học toàn cầu” cho rằng, trong giao lưu giữa các nước ngoài quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế và quan hệ pháp luật ra còn có quan hệ văn hóa, hơn nữa quan hệ văn hóa không chỉ gián tiếp mà còn trực tiếp ảnh hưởng tới đời sống và lối sống của mọi người. Ông đề xuất, văn hóa trong quan hệ quốc tế bao gồm 4 mặt sau: (1), quan hệ giữa văn hóa và văn hóa lạ; (2), ý trực diện văn hóa trong quan hệ quốc tế; (3), quan hệ văn hóa có tính quốc tế; (4), văn hóa quốc tế [61, tr. 16].

 

Luận điểm của học giả văn hóa Pháp Louis Doro đã phân tích một cách hệ thống quan hệ văn hóa quốc tế, nhấn mạnh vị trí, vai trò của giao lưu văn hóa quốc tế trong ngoại giao tổng thể trong cuốn sách “Quan hệ văn hóa quốc tế”. Ông cho rằng hoạt động giao lưu văn hóa đối ngoại ngày càng hướng tới trung tâm sân khấu giao lưu quốc tế, lĩnh vực hoạt động ngoại giao nhà nước được mở rộng không còn giới hạn ở lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và quân sự nữa mà đi sâu vào lĩnh vực văn hóa. [61, tr. 17]. Những nghiên cứu về văn hóa trong quan hệ quốc tế ở trên sẽ là cơ sở cho nghiên cứu ngoại giao văn hóa sau này.

 

* Về ngoại giao văn hóa

 

Việc nghiên cứu của giới học giả về ngoại giao văn hóa bắt đầu tương đối muộn. Khái niệm mới “ngoại giao văn hóa” do nhà sử học ngoại giao người Mỹ Ralph Tumer đưa ra sớm nhất từ những năm 40 của thế kỷ XX. Sau này, nhà sử học ngoại giao Mỹ Frank Ninkovich đã trình bày và phát triển một cách hệ thống quan niệm trên. Ninkovich cho rằng: “Nhà chính trị có kiến thức sâu rộng luôn luôn thừa nhận ngoại giao cần suy tính kỹ quan niệm giá trị văn hóa, vì những quan niệm giá trị này có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành khả năng lập luận ngoại giao, do đó mà càng có ý nghĩa hơn so với tín ngưỡng, hình thái ý thức hay quan niệm trừu tượng của nó. Ở thế kỷ XX, hầu như tất cả các nhà chính trị quan trọng của Mỹ đều cân nhắc coi nhân tố văn hóa là bộ phận để xử lý công việc ngoại giao của họ; Quả thật văn hóa có tác dụng rõ ràng trong công việc ngoại giao của họ, thường là quyết định trong quyết sách đối ngoại của họ” [61, tr. 21].

 

Bước vào thế kỷ XXI, mang lại sự thay đổi có “tính cách mạng” cho nghiên cứu ngoại giao văn hóa phải kể đến cuốn sách “Ngoại giao nhiều quỹ đạo” của hai học giả nổi tiếng người Mỹ Louise Diamond và John Mc Donald. Các tác giả chỉ ra rằng, muốn tìm hiểu ngoại giao toàn diện thì phải tiến hành nghiên cứu và phân tích ngoại giao từ những góc độ khác nhau. Các tác giả nhận xét: Chính phủ, phi chính phủ hay cơ quan chuyên môn, hoạt động thương vụ, cá nhân công dân, nghiên cứu/đào tạogiáo dục, tôn giáo, tài trợ, thông tin và truyền thông đều có thể trở thành kênh quan trọng của trao đổi ngoại giao. Trong 9 “Quỹ đạo” ngoại giao mà các tác giả nêu có 3 lĩnh vực (nghiên cứu/đào tạogiáo dục, tôn giáo, truyền bá và truyền thông) Là thuộc về phạm trù ngoại giao văn hóa [61, tr. 17].

 

2.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

 

Trong giai đoạn hiện nay, quan hệ giữa Việt Nam với các nước ngày càng được gia tăng cả chiều sâu lẫn chiều rộng, trong đó văn hóa trở thành một lĩnh vực phát triển mạnh mẽ. Ngoại giao văn hóa là một đề tài rất quan trọng, nhưng các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này ở nước ta còn chưa nhiều và đây là lĩnh vực khá mới mẻ. Tuy nhiên cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngoại giao văn hóa ở dạng đề tài cấp Bộ, luận văn, sách, giáo trình và các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, hay trong kỷ yếu của các hội thảo khoa học.. .

 

Về sách giáo trình có một số cuốn tiêu biểu như: “Giáo trình quan hệ công chúng “Giáo trình quan hệ công chúng chính phủ trong văn hóa đối ngoại” trong văn hóa đối ngoại” (2011) Do Lê Thanh Bình chủ biên; “Ngoại giao và công tác ngoại giao” (2009) Của Vũ Dương Huân. “Những vấn đề quốc tế đương đại và quan hệ đối ngoại của Việt Nam” của Viện Quan hệ Quốc tế (Học viện Ngoại giao); …

 

Trong đó đáng chú ý là cuốn sách “Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng” (2012) Của Phạm Thái Việt. Có thể khẳng định đây được xem là một ấn phẩm đầu tiên của Việt Nam về ngoại giao văn hóa.

 

Cuốn sách chia thành 10 chương đề cập tới nhiều vấn đề nhưng dung lượng dành cho ngoại giao văn hóa còn hạn chế, các vấn đề như vai trò, nội dung, hình thức… của ngoại giao văn hóa thì chưa được đề cập tới. Tuy nhiên, khái niệm văn hóa, ngoại giao, đặc biệt về khái niệm ngoại giao văn hóa đã được tác giả nghiên cứu khá dày công.

 

Ngoài ra phải kể đến một số bài viết, bài phát biểu của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu ngoại giao văn hóa trình bày trong các Hội thảo:

 

Hội thảo quốc gia: “Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, phục vụ hòa bình, hội nhập và phát triển bền vững” (2008) Do Bộ Ngoại giao tổ chức. Đáng chú ý là các bài viết của Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Khiêu, Phạm Sanh Châu, Vũ Dương Huân, Trần Trọng Toàn.. . Đã nêu nên những ý kiến về ngoại giao văn hóa rất sâu sắc và bổ ích.

 

 

Luận án này gồm 25o Trang, nội dung cơ bản như sau:

 

 

MỤC LỤC

 

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA VÀ KHÁI LƯỢC VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM VỚI ASEAN

1.1. Cơ sở lý luận về ngoại giao văn hóa

1.2. Cơ sở lý thuyết của luận án

1.3. Khái lược về mối quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN

Tiểu kết

CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI ASEAN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

2.1. Những nhân tố tác động đến ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN

2.2. Các hình thức hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN

2.3. Đánh giá hoạt động ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN

Tiểu kết

CHƯƠNG 3. XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA NGOẠI GIAO VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI ASEAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

3.1. Xu hướng vận động của ngoại giao văn hóa Việt Nam với ASEAN

3.2. Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ngoại giao vănhóa Việt Nam với ASEAN

Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ

TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

 

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

AC: Cộng đồng ASEAN

ARF: Diễn đàn khu vực ASEAN

ASA: Hiệp hội Đông Nam Á

ASCC: Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEAN - COCI: Ủy ban Văn hóa - Thông tin ASEAN

CLM: Campuchia, Lào, Mianma

CLMV: Campuchia, Lào, Mianma, Việt Nam

CNXH: Chủ nghĩa xã hội

CSR: Trách nhiệm xã hội

HTQT: Hợp tác Quốc tế

NCKH: Nghiên cứu Khoa học

NCS: Nghiên cứu sinh

NGVH: Ngoại giao văn hóa

Nxb: Nhà xuất bản

PVS: Phỏng vấn sâu

SEAGAMES: Đại hội thể thao Đông Nam Á

UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

VHTTDL: Văn hóa, Thể thao và Du lịch

 

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

 

1. Nguyễn Thị Thùy Yên (2010), "Ngoại giao văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (311), tr. 3-7.

2. Nguyễn Thị Thùy Yên (2011), “Vấn đề, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác ngoại giao văn hóa và văn hóa đối ngoại”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Văn hóa đối ngoại trong thế giới hội nhập, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, tr. 193-199.

3. Nguyễn Thị Thùy Yên (2013), “Ngoại giao văn hóa Trung Quốc”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (354), tr. 27-31.

4. Nguyễn Thị Thùy Yên (2014), “Ngoại giao văn hóa với vai trò là sức mạnh mềm”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (361), tr. 27-31.

5. Nguyễn Thị Thùy Yên (2015), “Luận bàn về khái niệm ngoại giao văn hóa”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, (14), tr. 73-77.152

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Nguyễn Hải Anh (2013), Nghiên cứu hoàn thiện chính sách văn hóa đối ngoại của Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Bộ, Cục Hợp tác quốc tế, Bộ VHTTDL, Hà Nội.

2. Nguyễn Hoàng Anh (2010), Vai trò của ngoại giao văn hoá đối với sự phát triển của du lịch Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Du lịch học, Học viện Hành chính, Hà Nội.

3. Hoàng Chí Bảo (2012), Giao thoa văn hóa và chính sách Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

4. Đỗ Thanh Bình, Văn Ngọc Thành (đồng chủ biên) (2012), Quan hệ quốc tế thời hiện đại-những vấn đề mới đặt ra, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

5. Lê Thanh Bình (2009), “Đào tạo cán bộ truyền thông quốc tế và hoạt động NGVH phù hợp với xu thế hội nhập và hoàn cảnh nước ta”, Tạp chí Thông tin Đối ngoại (11), tr. 21-26.

6. Lê Thanh Bình (chủ biên) (2011), Giáo trình Quan hệ công chúng Chính phủ trong văn hóa đối ngoại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

7. Lê Thanh Bình (2012), Giao thoa văn hóa và chính sánh ngoại giao Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

8. Bộ Ngoại giao (2000), Ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

9. Bộ Ngoại giao (2008), "Ngoại giao văn hóa vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế", Kỷ yếu Hội thảo, Nxb Thế giới, Hà Nội.

10. Bộ Ngoại giao, Ban chỉ đạo công tác NGVH, Báo cáo tổng kết công tác ngoại giao văn hóa năm 2010,2011,2012,2013,2014,2015.

11. Bộ Ngoại giao (2010), Ngoại giao Việt Nam 2010, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội. 153

12. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Quan hệ quốc tế (1995-2015), Báo cáo công tác hợp tác quốc tế năm 1995-2015.

13. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Báo cáo kết quả công tác 2014, phương hướng nhiệm vụ 2015, Hà Nội.

14. Phạm Sanh Châu (2009), Hoạt động Ngoại giao văn hóa Việt Nam trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, Đề tài NCKH cấp Bộ, Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO, Bộ Ngoại giao, Hà Nội.

15. Bạch Ngọc Chiến (2008), “Vai trò của truyền thông trong công tác ngoại giao văn hóa”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về ngoại giao văn hóa-vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.

16. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2009), Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 581/QĐ-TTg  ngày 6 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ.

17. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2011), Chiến lược NGVH đến năm 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 208/QĐ-TTg ngày 14 tháng 2 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

18. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 210/QĐ-TTg  ngày 8 tháng 5 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ.

19. Đỗ Quý Doãn (2009), “Thông tin truyền thông và việc đẩy mạnh ngoại giao văn hóa”, Tạp chí Cộng Sản, (797), tr. 42-47.

20. Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

21. Dương Danh Dy (2008), “Một vài nhận thức ban đầu về ngoại giao văn hóa của Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về ngoại giao văn hóa-vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội. 154

22. Đại học Văn hóa Hà Nội (2010), "Văn hóa trong thế giới hội nhập", Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.

23. Đại học Văn hóa Hà Nội, Cục Quan hệ quốc tế (2011), "Văn hóa đối ngoại trong thế giới hội nhập", Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội.

24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đại hội Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội.

25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới khóa VI, VII, VIII, IX, X), phần I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

27. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

28. Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2007), ASEAN: 40 năm nhìn lại và hướng tới, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

29. Nguyễn Hoàng Giáp (chủ biên), (2013), Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

30. Thạch Hà (2009), “NGVH: Trung Quốc quảng bá quốc gia như thế nào?”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (77), tr. 173-183.

31. Trần Thị Thúy Hà (2010), Hoạt ngoại giao văn hoá của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2009, Luận văn Thạc sỹ Lịch sử Đảng, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.

32. Trương Duy Hòa (chủ biên), (2013), Hiện thực hóa cộng đồng ASEAN. Bối cảnh tác động và những vấn đề đặt ra, Đề tài NCKH cấp Bộ, Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

33. Học viện Hợp tác Quốc tế (1997), ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 155

34. Học viện Quan hệ Quốc tế (2001), Ngoại giao Việt Nam từ thuở dựng nước đến trước cách mạng tháng 8 năm 1945, Học Viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội.

35. Học viện Quan hệ Quốc tế (2007), Chính sách đối ngoại Việt Nam (tập I), Nxb Thế giới, Hà Nội.

36. Học viện Quan hệ Quốc tế (2007), Chính sách đối ngoại Việt Nam (tập II), Nxb Thế giới, Hà Nội.

37. Lê Thị Như Hồng (2012), Giao lưu văn hóa Việt Nam – Nhật Bản ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Văn hóa học, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

38. Mai Hồng (2009), “Cộng đồng doanh nghiệp và sự nỗ lực thúc đẩy ngoại giao văn hóa”, Toàn cảnh sự kiện-dư luận, số 3 (78), tr. 175-186.

39. Vũ Dương Huân (2006), “Phong cách dân tộc Mỹ, Nga trong đàm phán quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, 1 (64), tr. 85-95.

40. Vũ Dương Huân (2006), “Nét mới của ngoại giao thế kỷ 21 và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, (67), tr. 21-33.

41. Vũ Dương Huân (2007), “Vài suy nghĩ về ngoại giao văn hóa”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, 4 (71), tr. 13-24

42. Vũ Dương Huân (2008), “Nhân tố văn hóa trong ngoại giao: Lý luận và thực tiễn”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về NGVHư vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.

43. Vũ Dương Huân (2009), Ngoại giao và công tác ngoại giao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

44. Bùi Văn Hùng (2011), Ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

45. Hungtinton, Samuel (2003), Sự va chạm của các nền văn minh, Nxb Lao động, Hà Nội.

46. Cao Vũ Huyền (2012), “Ngoại giao văn hóa trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (336). 156

47. Nguyễn Thị Hương (2009), “Dự báo về xu thế và quan điểm phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020”, Tạp chí Lý luận Chính trị, tr. 69-73.

48. Nguyễn Thái Yên Hương (2011), “Ngoại giao văn hóa Việt Nam: Lý luận và thực tiễn thời kỳ hội nhập”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Văn hóa đối ngoại trong thế giới hội nhập, Hà Nội.

49. Trịnh Thúy Hường (2012), “Ngoại giao văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Lịch sử Đảng (4).

50. Joseph Nye: Việt Nam có nhiều lợi thế tạo "sức mạnh mềm", http: //www2. Vietnamnet. Vn/chinhtri/2007 tháng 11 năm 755223/, truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2013.

51. Phạm Trường Khang (2010), Các sứ thần Việt Nam, Nxb Văn hóa-Thông tin, Hà Nội.

52. Phạm Gia Khiêm (2007), “Đẩy mạnh triển khai thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách đối ngoại Đại hội X của Đảng”, Tạp chí Cộng sản (điện tử) (13), tr. 133.

53. Phạm Gia Khiêm (2007), “Vươn lên tầm cao ngoại giao khu vực và thế giới”, Tuần báo Thế giới và Việt Nam, (40+ 41), tr. 15-17.

54. Phạm Gia Khiêm (2009), “Tiếp tục triển khai thành công đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ X”, Tạp chí Lịch sử Đảng, tr. 5-9.

55. Vũ Khiêu (1987), Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

56. Vũ Khiêu, Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàng, Nguyễn Phúc Khánh (2000), Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

57. Nguyễn Quốc Lộc, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Thị Kim Yến, Đào Ngọc Tú (2010), “Các nước Đông Nam Á”, Nxb Văn hóa Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh.

58. Hoàng Minh Lợi, (chủ biên) (2013), Đối sách của các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về sự gia tăng quyền lực mềm, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 157

59. Lưu Văn Lợi (2000), Ngoại giao trong thời đại Hồ chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

60. Lưu Văn Lợi (2000), Ngoại giao Đại Việt, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội.

61. Bành Tân Lương (2008), Ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: Một góc nhìn toàn cầu hóa, Nxb Dạy học và Nghiên cứu ngoại ngữ Bắc Kinh, Trung Quốc, sách do Dương Danh Dy, Trần Hữu Nghĩa, Nguyễn Thị Mây… dịch ra tiếng Việt (lưu hành nội bộ)

62. Trần Thị Lý (1995), “Tương đồng và khác biệt-Những nét cơ bản trong nghệ thuật Đông Nam Á”, Tạp chí Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay (11), tr. 31.

63. Đinh Xuân Lý (2009), Tiến trình hội nhập Việt Nam-ASEAN, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

64. M. RAJaRetnam và Thái Quang Trung (2013), Một Đông Nam Á vận mệnh chung, tương lai chung, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

65. Trần Thị Mai (2007), Lịch sử bang giao Việt Nam-Đông Nam Á, Nxb Đại học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh.

66. Ngô Đức Mạnh (2010), Quốc hội Việt Nam với AIPA trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

67. Hồ Chí Minh (2009), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3 (1943-1944), --.--.Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

68. Thục Minh (2007), Thủ tướng Lý Hiển Long đánh giá cao duyên dáng Việt Nam, (http: /www2. Thanhnien. Com. Vn/2007/Pages/200733/204981. Aspx.) Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014.

69. Hải Miên (2008), Duyên dáng Việt Nam 20 tại Anh: Khách phương Đông đến phương Tây, (http: /www2. Thanhnien. Com. Vn/TNTS/2008/2 tháng 29 năm 228935. Tno), truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2014.

70. Nguyễn Thu Mỹ (chủ biên) (2012), Lịch sử Đông Nam Á tập VI: Đông Nam Á trong thời kỳ hòa bình, phát triển và hội nhập (1991-2010), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 158

71. Phạm Xuân Nam (2008), Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

72. Đức Ninh (chủ biên) (2013), Xây dựng Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

73. Nguyễn Dy Niên (2000), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

74. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.

75. Nguyễn Thị Thu Phương (2012), Sự trỗi dậy về sức mạnh mềm Trung Quốc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.

76. Nguyễn Thị Thu Phương (chủ biên) (2015), Sức mạnh mềm văn hóa Trung Quốc tác động tới Việt Nam và một số nước Đông Á, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội.

77. Nguyễn Duy Quý (2008), Nhận thức văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

78. Nguyễn Bắc Son (2008), "Định hướng của Đảng về NGVH trong tình hình mới", (http: // mofa. Gov.vn/vi/vd, Quantam/nr090310093719/nr090318161645/09032608255) Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2013.

79. Bùi Thanh Sơn (2008), “Vai trò của ngoại giao văn hoá trong chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về NGVH-vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.

80. Phạm Quốc Sử (2013), “Tôn vinh bản sắc dân tộc trong ngoại giao văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (344), tr. 7-12.

81. Lê Minh Tâm (2002), Bàn về tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phân công phối hợp trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Tạp chí Luật học, (5), tr. 40-48.159

82. Nguyễn Văn Tình (2008), Chính sách văn hóa trên thế giới và việc hoàn thiện chính sách văn hóa ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Văn hóa học, Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hà Nội.

83. Trần Trọng Toàn (2008), “Góp thêm một số ý kiến về xây dựng chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về ngoại giao văn hóa-vì một bản sắc Việt Nam trên trường quốc tế, Nxb Thế giới, Hà Nội.

84. Phạm Đức Thành (1995), Việt Nam-ASEAN, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

85. Phạm Đức Thành, Ngô Văn Doanh, Trần Thị Lý… (1995), Việt Nam – Đông Nam Á: Quan hệ lịch sử văn hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

86. Phạm Đức Thành (1999), Một số vấn đề về văn hóa với phát triển ở Việt Nam-Lào-Campuchia, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

87. Hoàng Vĩnh Thành (2009), “Ngoại giao văn hóa: Bắt đầu từ khái niệm”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (1), tr. 17-32.

88. Trần Ngọc Thêm (1997), Tìm về Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb, TP. Hồ Chí Minh.

89. Nguyễn Văn Thiện (2011), Việt Nam trong tiến trình hội nhập ASEAN, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.

90. Đỗ Thị Minh Thúy (2012), “Ngoại giao văn hóa qua Festival tại Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (335).

91. Nguyễn Thị Thanh Thúy (2010), Ngoại giao nhân dân trong quan hệ đối ngoại của Mỹ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

92. Lê Vĩnh Trương (2011), Sức mạnh mềm Việt Nam và ASEAN, Thời đại mới, Tạp chí Nghiên cứu và thảo luận (22).

93. Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1992), Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Bộ Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

94. UNESCO (2001), Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa, UNESCO 2 tháng 11 năm 2001.

95. Viện Quan hệ quốc tế (2010), Những vấn đề quốc tế đương đại và quan hệ đối ngoại của Việt Nam, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội. 160

96. Phạm Thái Việt (2006), Toàn cầu hóa: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

97. Phạm Thái Việt (2009), Quan hệ công chúng và ngoại giao văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế (3), tr175-186.

98. Phạm Thái Việt (2012), Ngoại giao văn hóa cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và ứng dụng, Nxb Chính trị-Hành chính, Hà Nội.

99. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

100. Phạm Hồng Yến (2009), “Ngoại giao văn hóaTrung Quốc và vai trò của nó trong quá trình hội nhập quốc tế”, Tạp chí nghiên cứu Trung Quốc, số 8, (96).

101. Phạm Hồng Yến (2011), “Ngoại giao văn hóa trong chiến lược phát triển hòa bình của Trung Quốc”, Tạp chí nghiên cứu Quốc tế, số 2, (85), tr. 101-116.

 

Tiếng Anh

102. Advisory Committee on Cultural Diplomacy, U. S. Department of State (2005), Cultural Diplomacy-The Linchpin of Public Diplomacy, report.

103. Banker Chris (2000), Cultural Studies: Theory and Practice, sage, London.

104. Commings Mitoln (2003), Culture Diplomacy and Unisted Stated Governement, Center for Arts and Culture, USA

105. Harvey B. Feigen Baun (2002), Globalization and Cultural Diplomacy, Issue Paper on Art, Culture $ The National Agenda, Center for Arts and Culture, George Washington University, Washington, DC.

106. Japa Foundation (2012), Survery report on Japanmessư Language education abroad, tr3-4.

107. Joseph Nye (1990), “Soft Power”, Foreign Policy.

108. Joseph Nye (1990), “Bound toLead: The changing Nature of American Power”, New York: Basic Books, P8.

109. Joseph Nye and William Owen (1996), “Americas information”, Foreign Affaies. 161

110. Joseph Nye (2004), “Soft Power: The means to sccess in World politic”, New York: Public Affairs.

111. Jovan Kurrbalija (1998), Modern Diplomacy, Malta (edited).

112. Kristen Bound, Rachel Briggs, John Holden, Samuel Jones, Cultural Diplomacy.

113. Marta Ryniejska-Kieldanowicz, Cultural Diplomacy as a Form of International Comunication, instituteforpr. Org.

114. Nalini Taneja (2006), US Cultural Diplomacy as Imperialist Foreign Policy, People’s Democracy, Weekly Organ of the Communist Party of India, Vol. XXX, (34).

115. Roy M. Melbourne, National Cultures and Foreign Affairs Thomas Bell (2008), Thailand and Cambodia Pledged peacefull resolution to deadly border dispute, Telegraph

 

 

Keywords:download filetype:pdf ncsnguyen thi thuy yen,ngoai giao van hoa viet nam voi asean trong thoi ky hoi nhap, van hoa hoc ma so 62310640,pgsts nguyen van cuong,nguyen duy bac

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Xem-Nghe Giá Down
1 ngoai giao van hoa asean DHVHHN NguyenThuyUyen 250tr Download file ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập 2511
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN

Tìm bài thi Hỏi đáp Liên Hệ Tài liệu trên internet Tin giáo dục Quy định sử dụng

ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập

ngoại giao văn hóa việt nam với asean trong thời kỳ hội nhập

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN

Đăng nhập tài khoản
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 486
Hôm nay:52861
Hôm qua: 68980
Trong tháng 1518420
Tháng trước2204563
Số lượt truy cập: 82475129