Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS

09.63.68.69.68

Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm

09.63.63.63.15

Mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 957
Hôm nay39022
Hôm qua 154762
Trong tháng 1211940
Tháng trước4088573
Số lượt truy cập: 156371120
MỤC LIÊN QUAN
Từ ngày: Đến ngày:

Chia sẻ phòng ngừa tai biến mạch máu não- đái tháo đường

phòng ngừa tai biến mạch máu não- đái tháo đường


View:1481 Ngày: Người up:

Tai biến mạch máu não (TBMMN) Stroke and diabetes mellitus are two separate conditions which share multiple common threads.và đái tháo đường (ĐTĐ) là hai bệnh lý khác nhau nhưng liên quan nhiều vấn đề chung.


PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO - ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2

 

                                                               Hoàng Khánh, Nguyễn Đức Hoàng, Lê Thanh Hải [1]

 

TÓM TẮT

Tai biến mạch máu não (TBMMN) Stroke and diabetes mellitus are two separate conditions which share multiple common threads.và đái tháo đường (ĐTĐ) là hai bệnh lý khác nhau nhưng liên quan nhiều vấn đề chung. Both are increasing in prevalence, both are diseases which affect blood vessels, and both are associated with other vascular risk factors, such as hypertension and dyslipidemia.Cả hai bệnh lý này ngày mỗi gia tăng nhanh, đều là bệnh có ảnh hưởng đến các mạch máu, và cả hai đều liên quan đến các yếu tố nguy cơ tim mạch khác, chẳng hạn như tăng huyết áp và rối loạn lipid máu. Abnormal glucose regulation, of which diabetes is one manifestation, is seen in up to two-thirds of people suffering from an acute stroke.Việc điều hòa đường máu bất thường, trong đó bệnh ĐTĐ là một trong những biểu hiện, chiếm 2/3 ở bệnh nhân TBMMN cấp. Surprisingly, aggressive management of glucose after an acute stroke has not been shown to improve outcome or reduce the incidence of further strokes. Đáng ngạc nhiên, nếu điều trị tích cực đường máu sau một TBMMN cấp đã không được chứng minh cải thiện kết quả hoặc giảm tỷ lệ TBMMN. More encouragingly, active management of other cardiovascular risk factors has been demonstrated to prevent stroke disease and improve outcome following a stroke in the diabetic person.Tuy nhiên, nếu khống chế, điều trị, quản lý các yếu tố nguy cơ tim mạch khác thì đã được chứng minh ngăn ngừa TBMMN và cải thiện hiệu quả sau một TBMMN do ĐTĐ. Hypertension should be treated with a target of 140/80 mmHg, as a maximTăng huyết áp (THA) cần được điều trị với mục tiêu là 140/80 mmHg. The drug of choice would be an ACE inhibitor, although the priority is blood pressure reduction regardless of the medication chosen.Thuốc được lựa chọn điều trị THA ở bệnh nhân ĐTĐ là thuốc ức chế men chuyển, mặc dù ưu tiên là giảm huyết áp không phụ thuộc vào loại thuốc được lựa chọn. Lipids should be treated with a statin whatever the starting cholesterol. Rối loạn lipid máu nên được điều trị, đặc biệt tăng cholesterol bằng nhóm thuốc hạ cholesterol là statin. Antiplatelet treatment is also essential but there are no specific recommendations for the diabetic person.Điều trị thuốc chống ngưng tập tiểu cầu cũng cần thiết nhưng không có đề xuất cụ thể cho mỗi bệnh nhân ĐTĐ. Tuy nhiên, trong dựAs these conditions become more prevalent it is imperative that the right treatment is offered for both primary and secondary prevention in diabetic people, in order to prevent disease and minimize disability.đự phòng cả tiên phát và thứ phát ở bệnh nhân ĐTĐ cần được bắt buộc, để ngăn ngừa bệnh và giảm thiểu các tai biến khác.

 

1. Tổng quan

Diabetes mellitus (DM) is a common problem whose prevalence is increasing due to population aging and the growing problem of obesity.ĐTĐ là một bệnh lý thường gặp có tỷ lệ ngày càng tăng do tuổi thọ ngày càng cao và bệnh béo phì ngày càng nhiều. According to the World Health Organization (WHO), the prevalence of diabetes for all age groups worldwide is estimated to be approximately 2.8%, and the total number of people with diabetes is projected to rise from 171 million in 2000 to 366 million in 2030 .Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ cho mọi lứa tuổi trên toàn thế giới được ước tính là khoảng 2,8%, và tổng số người bị ĐTĐ được dự kiến ​​sẽ tăng từ 171 triệu người trong năm 2000 tăng lên 366 triệu người vào năm 2030 . In the United States alone over 23 million people have diabetes, and the number of people with diabetes diagnosed is estimated to increase 165% between 2000 and 2050 [ 2 ]. Tại Hoa Kỳ, có hơn 23 triệu người mắc bệnh ĐTĐ năm 2000, và số lượng người bị bệnh ĐTĐ ước tính sẽ tăng lên 165% đến năm 2050 .

Việc điều hòa đường máuAbnormal glucose regulation can occur in a number of different clinical situations: diabetes, impaired glucose tolerance (IGT), or in times of acute illn bất thường có thể xảy ra trong một số tình huống lâm sàng khác nhau như: bệnh ĐTĐ, rối loạn dung nạp đường máu, hoặc trong thời gian mắc bệnh cấp tính. Diabetes is the clinical condition present when glucose is chronically raised.Bệnh ĐTĐ được chẩn đoán khi tăng đường máu mãn tính. It can remain undiagnosed in asymptomatic individuals while remaining a risk factor for the development of stroke.ĐTĐ có thể chưa được chẩn đoán ở những người không có triệu chứng nhưng nó là một yếu tố nguy cơ của TBMMN. IGT is a condition where glucose is not regulated properly but remains at levels below that of frank diabetes. Rối loạn dung nạp đường máu ít được phát hiện nhưng nó là yếu tố nguy cơ (YTNC) của TBMMN. Individuals are usually asymptomatic but remain at increased risk of diabetic complications and the condition often proceeds the development of diabetes. Rối loạn dung nạp đường máu tuy không có triệu chứng nhưng nó vẫn có nguy cơ biến chứng như ĐTĐ và tình trạng này thường phát triển thành bệnh ĐTĐ. Trong lúc bị Stress cũng là yếu tố tăng đường máu nhưng thật sự bệnh nhân không bị ĐTĐ hoặc rối loạn dung nạp đường.

Diabetes is an independent risk factor for stroke disease .Đái tháo đường là một yếu tố nguy cơ độc lập bệnh TBMMN . So Compared with nondiabetic patients, diabetic patients have at least twice the risk forstroke, and approximately 20% of diabetic patients will die from stroke, making it one of the leading causes of death in this popula Sovới người không bị ĐTĐ, bệnh nhân ĐTĐ là YTNC bị TBMMN tăng hơn gấp 2 lần so với người không bị ĐTĐ, và khoảng 20% ​​bệnh nhân ĐTĐ tử vong do TBMMN, nó là những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Diabetes duration has also been shown to increase the risk of ischaemic stroke disease, with every year of diabetes duration increasing the risk by 3% Thời gian mắc bệnh ĐTĐ cũng đã được chứng minh là làm tăng nguy cơ nhồi máu não, với mỗi năm của thời gian bệnh ĐTĐ làm tăng nguy cơ là 3% . Hyperglycaemia has been shown to increase the size of ischaemic stroke and worsen the clinical outcome following a stroke [  Tăng đường máu đã được chứng minh làm tăng kích thước nhồi máu não và làm trầm trọng thêm các kết quả lâm sàng sau một cơn TBMMN cấp .

The management of diabetes and stroke disease share many characteristics, primarily due to the fact that diabetes affects blood vessels (in addition to other organ systems) and stroke is a disease of blood vessels. Việc quản lý bệnh ĐTĐ và TBMMN liên quan nhiều yếu tố, nguyên nhân chủ yếu là do bệnh ĐTĐ ảnh hưởng đến các mạch máu (ngoài hệ thống cơ quan khác) và TBMMN là một bệnh của mạch máu. Further, diabetes is commonly associated with other cardiovascular risk factors such as hypertension and dyslipideamia.Hơn nữa, bệnh ĐTĐ thường được kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như tăng huyết áp và rối loạn lipid máu.

Consequently aggressive management and optimisation of cardiovascular risk factors are paramount. Do đó, việc quản lý tích cực và tối ưu hóa các yếu tố nguy cơ tim mạch là tối quan trọng. Theo nghiên cứu dọc của các nhà khoa học ở Anh về bệnh ĐTĐ For example, the United Kingdom Prospective Diabetes Study (UKPDS), a large exclusively diabetic cohort, showed that increased age, smoking, increased systolic blood pressure, and the presence of atrial fibrillation predicted the risk of a first cho thấy tuổi càng tăng, hút thuốc lá, THA tâm thu, và sự hiện diện của rung nhĩ dự đoán nguy cơ TBMMN đứng hàng đầu. With the exception of age, all are modifiable risk factors and form a routine part of the prevention of stroke disease in nondiabetic populations.Ngoại trừ tuổi, tất cả những yếu tố nguy cơ thay đổi được cần phải loại bỏ để dự phòng TBMMN ở bệnh nhân không bị bệnh ĐTĐ.

2. Ước tính tỷ lệ bệnh mạch máu não ở bệnh nhân đái tháo đường

 

The prevalence estimates of diabetes and stroke disease vary. Ước tính tỷ lệ của bệnh ĐTĐ và TBMMN có khác nhau. ĐTĐ chiếm khoảng 10-25% bệnh nhân bị TBMMN, tăng đường máu do stress chiếm 2/3 trong TBMMN cấp .

Theo nghiên cứu tại Minnesota Of which roughly half have diabetes or IGT.For example, the Minnesota Heart Survey estimated the prevalence of diabetes in people hospitalized for stroke, 22.4% in men and 24.7% in women  ước tính tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở những bệnh nhân nhập viện do TBMMN, có 22,4% là nam giới và 24,7% là nữ giới . Barzilay and colleagues  recruited 5712 people all aged over 65 years, in the Cardiovascular Heart Study.

Barzilay và các cs. , nghiên cứu 5.712 người ở độ tuổi trên 65 năm. They were screened for cerebrovascular disease and underwent fasting glucose measurements. Họ đã được sàng lọc bệnh mạch máu não và trải qua ăn chay và đo đường máu. In people found to have diabetes the prevalence of cerebrovascular disease was 12.6% for men and 12.7% for women.Trong những người phát hiện,  bệnh ĐTĐ là phổ biến, tỷ lệ TBMMN trong ĐTĐ là 12,6% đối với nam và 12,7% đối với nữ.

In the MRC Study of Older People, a community based questionnaire which surveyed over 15000 people aged over 75 years, the prevalence of stroke was estimated to be 15.5% in men and 12.6% in women  Theo nghiên cứu của MRC ở người cao tuổi, một bảng câu hỏi dựa vào cộng đồng đã khảo sát hơn 15.000 người ở độ tuổi trên 75 năm, tỷ lệ TBMMN được ước tính là 15,5% ở nam giới và 12,6% ở nữ .

 

3. The Pathological Effects of Hyperglycaemia on the Cardiovascular (CV) System and Brain Những ảnh hưởng của bệnh lý tăng đường huyết trên hệ thống tim mạch và não

 

Multiple indirect or direct pathways that result in accelerated atherosclerosis have been proposed to explain the deleterious effects of elevated glucose levels on the cardiovascular system . Nhiều con đường gián tiếp hoặc trực tiếp dẫn đến gia tăng tốc độ xơ vữa động mạch đã được đề xuất để giải thích những tác hại của đường máu cao trên hệ thống tim mạch . Indirect pathways promoted by hyperglycaemia include worsening of dyslipidaemia, especially the development of atherogenic dyslipidaemia (small dense low-density lipoproteins, reduced high-density lipoproteins, and increased triglyceride levels) and sympathetic nervous system dysfunction.Con đường gián tiếp thúc đẩy bởi tăng đường máu bao gồm rối loạn lipid máu, đặc biệt là sự phát triển của mảng xơ vữa do rối loạn lipid máu (tăng LDL, giảm HDL, và tăng Triglyceride) và rối loạn chức năng hệ thống thần kinh giao cảm. Direct acceleration of the atherosclerotic process by hyperglycaemia is in part related to the development of endothelial dysfunction which in turn promotes vasoconstrictive, proinflammatory, and prothrombotic processes that contribute to plaque development and rupture .Tăng tốc trực tiếp của quá trình xơ vữa động mạch do tăng đường máu một phần liên quan đến sự phát triển của rối loạn chức năng nội mô do đó thúc đẩy quá trình gây co mạch, tăng viêm, và prothrombin góp phần vào sự phát triển mảng bám và vỡ .

The pathophysiology of cerebrovascular disease in patients with DM is not fully characterized, but both large and small blood vessels seem to be affected . Sinh lý bệnh của bệnh mạch máu não ở bệnh nhân ĐTĐ chưa được hiểu biết đầy đủ và đặc trưng, ​​nhưng mạch máu lớn và nhỏ dường như bị ảnh hưởng . Both community and hospital based studies have not suggested any particular association between DM and any subtype of ischemic stroke .

 

4. Phòng ngừa TBMMN ở bệnh nhân đái tháo đường

4.1. Kiểm soát đường máu

Improved glycaemic control has been shown to reduce the incidence of other common complications of diabetes, such as retinopathy, nephropathy, and neuropathy Cải thiện kiểm soát đường máu đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ biến chứng thường gặp của bệnh ĐTĐ, như bệnh lý võng mạc, bệnh thận, và bệnh thần kinh .

Despite this and perhaps surprisingly, better glycaemic control has not been shown to reduce the incidence of acute stroke or improve survival from acute st

 

Tuy nhiên, kiểm soát đường máu tốt đã không được chứng minh là làm giảm tỷ lệ TBMMN cấp hoặc cải thiện sự sống còn của TBMMN cấp. Multiple observational and randomized controlled trials have consistently failed to demonstrate any benefit from tightly regulating blood glucose in relation to stroke disease .Nhiều thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên quan sát và đã liên tục thất bại trong việc chứng minh bất kỳ lợi ích từ điều tiết chặt chẽ lượng đường máu liên quan đến TBMMN .

Three major randomized clinical trials of intensive glucose management in persons with diabetes with a history of cardiovascular disease, stroke, or additional vascular risk factors have all failed to demonstrate a reduction in cardiovascular events, including stroke or death in the groups receiving intensive glucose therapy. Ba thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn, về việc quản lý đường máu tốt ở những bệnh nhân ĐTĐ có tiền sử bệnh tim mạch, TBMMN, hoặc các yếu tố nguy cơ tim mạch khác đều không cho thấy giảm các biến cố tim mạch, bao gồm TBMMN .

Nghiên cứu GRASP, đánh giá tính khả thi của việc quản lý đường máu tích cực, cho thấy có mối liên quan với hạ đường huyết và kiểm soát đường máu chặt chẽ trong bối cảnh TBMMN cấp . Further, hypoglycaemia, especially if severe and repeated, is associated with cognitive impairment.Hơn nữa, hạ đường máu, đặc biệt là nếu nghiêm trọng và lặp đi lặp lại, có liên quan đến suy giảm chức năng nhận thức. One possible explanation of the mechanism is that hypoglycaemia induces cerebrovascular damage, via direct hypoglycaemic induced neuronal damage .Một lời giải thích có thể có của cơ chế này là hạ đường máu gây ra thiệt hại mạch máu não, trực tiếp hạ đường máu gây ra thiệt hại tế bào thần kinh .

Another suggestion for the lack of improvement is that the drugs commonly used to treat diabetes may in themselves be harmful, for example, the fluid retention and increased incidence of heart failure seen with thiazolidinedione type medications or the weight gain associated with insulin therap Một gợi ý cho việc thiếu cải thiện là các loại thuốc thường được sử dụng để điều trị bệnh ĐTĐ có thể gây hại, ví dụ, giữ nước và làm tăng nguy cơ suy tim được thấy với thuốc loại thiazolidinedione hoặc tăng cân kết hợp với điều trị bằng insulin.

4.2. 4.HypertensTăng huyết áp

In contrast to glycaemic control, improved hypertensive management has been shown to reduce the incidence of stroke in diabetic people in a number of randomized controlled trials. Trái ngược với kiểm soát đường máu, cải thiện quản lý THA đã được chứng minh là làm giảm tỷ lệ đáng kể TBMMN ở những người mắc bệnh ĐTĐ trong một số thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát.

The landmark trial was the HOPE study which showed in 3577 people with diabetes, aged 55 years or older, who had a previous cardiovascular event or at least one other cardiovascular risk factor and were randomly assigned ramipril or placebo those given ramipril (an angiotensin converting enzyme inhibitor (ACE-I)) had a reduction in stroke risk of 33%

 

theoTTheo nghiên cứu HOPE cho thấy trong 3.577 người bị ĐTĐ, tuổi từ 55 tuổi trở lên, người đã có một biến cố tim mạch trước đó hoặc ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch khác và được điều trị bằng thuốc hạ huyết áp ramipril (một chất ức chế men chuyển angiotensin) so với giả dược thì hiệu quả của ramipril giảm nguy cơ TBMMN là 33% . Another well known study, PROGRESS, compared a perindopril based treatment regime against placebo.Một nghiên cứu khác cũng được biết đến, PROGRESS, điều trị dựa trên perindopril so với giả dược cũng cho kết quả tương tự. An analysis of their diabetic participants showed that they gained the same benefit from active treatment as their nondiabetic counterparts .Một phân tích ở bệnh nhân ĐTĐ cho thấy họ đã đạt được những lợi ích tương tự từ việc điều trị tích cực hạ huyết áp cũng như các bệnh nhân chưa bị ĐTĐ.

There is also debate surrounding the optimum levels for blood pressure. Ngoài ra còn có cuộc tranh luận xung quanh các mức độ tối ưu cho huyết áp. Until, recently, guidelines were suggesting ever lower blood pressure targets for diabetic people, often 130/80 mmHg.Cho đến gần đây, nguyên tắc này được đề xuất mục tiêu huyết áp luôn luôn thấp hơn cho bệnh nhân ĐTĐ, thường là 130/80 mmHg. This position has recently been challenged by analysis of the hypertensive data in the ACCORD study.Trị số này gần đây đã được thử thách bằng cách phân tích các dữ liệu THA trong nghiên cứu ACCORD. Using a wide variety and combination of blood pressure medications this study demonstrated that there was no benefit in lowering systolic blood pressure below 120 mmHg compared to 140 mmHg, in a population aged an average of 62 years .Sử dụng nhiều và sự kết hợp của các loại thuốc huyết áp nghiên cứu này đã chứng minh rằng không có lợi ích trong việc làm giảm huyết áp tâm thu dưới 120 mmHg so với 140 mmHg, trong quần thể nghiên cứu độ tuổi trung bình của 62 tuổi .

 

Nguyên tắc

 

NNNđiều trị tích cực THA ở bệnh nhân ĐTĐ không phụ thuộc vào thuốc được sử dụng để đạt được nhiều mục tiêu. That said, beta blockade type medications worsen glycaemia and are probably best avoided.Điều đó nói rằng, thuốc hạ huyết áp nhóm chẹn beta là loại thuốc phong tỏa đường máu trầm trọng hơn và có lẽ tốt nhất nên tránh trong điều trị THA ở bệnh nhân ĐTĐ. Also in view of the fact that a large part of the evidence base is derived from the use of ACE-I, many guidelines suggest this group of medications as a first line treatment for hypertension for both primary and secondary prevention of stroke. Theo quan điểm thực tế, phần lớn các cơ sở bằng chứng có nguồn gốc từ việc sử dụng thuốc ức chế men chuyền angiotensin (ACE-I), nhiều hướng dẫn gợi ý nhóm thuốc này được lựa chọn đầu tiên trong điều trị THA để phòng ngừa cả tiên phát và thứ phát của TBMMN. Further, in the presence of diabetic renal disease, micro, or macroalbuminuria, or impaired glomerular filtration, inhibition of the angiotensin-renin system should be recommended as a first line treatment . Hơn nữa, trong sự hiện diện của bệnh nhân ĐTĐ do thận, tiểu đạm vi thể hoặc đại thể, hoặc suy giảm lọc cầu thận, ức chế hệ thống renin-angiotensin nên được khuyến cáo như là một thuốc điều trị hàng đầu . This can be done either using an ACE-I or through direct blockade of the angiotensin-renin II receptor (ARB); both of which have been demonstrated to preserve and improve renal function in hypertensive diabetic individuals. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một ức chế men chuyển hoặc chẹn trực tiếp các thụ thể angiotensin II-renin (ARB), cả hai đều đã được chứng minh để bảo vệ và cải thiện chức năng thận ở những người mắc bệnh ĐTĐ có THA. When using either of these drugs it is important to titrate them up to the maximum tolerated dose, because their beneficial effect will be increased and they are commonly under prescribed. Khi sử dụng một trong những loại thuốc này điều quan trọng là để chuẩn độ liều dung nạp tối đa của thuốc, do tác dụng có lợi của thuốc sẽ được tăng lên .

4.3. Cholesterol4.3

Theo nghiên cứu đã The Heart Protection Study, amongst others, confirmed the benefit of lowering cholesterol in prevention of stroke diseaskhẳng định lợi ích của việc giảm cholesterol trong công tác phòng chống bệnh TBMMN. Collins and colleagues compared 40 mg simvastatin against placebo in prevention of first stroke event in a very large, high risk population .Trong một nghiên cứu trên quy mô rất lớn, Collins và cs. đã chứng minh hiệu quả của việc sử dụng simvastatin 40mg/ngày so với giả dược trong việc dự phòng TBMMN lần đầu ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao . Further analysis of the diabetic participants within this cohort, including those without other cardiovascular risk factors, demonstrated the benefit of simvastatin, in preventing cardiovascular outcomes, which included stroke as part of a composite end point. Phân tích đa biến ở bệnh nhân bị ĐTĐ trong nhóm này, bao gồm cả những người không có yếu tố nguy cơ tim mạch khác, thấy lợi ích của simvastatin, trong việc ngăn ngừa kết quả tim mạch, trong đó bao gồm TBMMN là một vấn đề rất quan trọng. Importantly, they found that even in diabetic people with initially low cholesterol (<3 mmol/L), any reduction in cholesterol was beneficial .Quan trọng hơn, họ đã tìm thấy rằng ngay cả ở những người mắc bệnh ĐTĐ có nồng độ cholesterol ban đầu thấp (<3 mmol/L), thì việc giảm cholesterol đều có lợi . Hence, any diabetic person who has suffered stroke disease should routinely be prescribed cholesterol lowering therapy regardless of their initial cholesterol level. Do đó, bất kỳ bệnh nhân ĐTĐ bị TBMMN thường xuyên được quy định điều trị hạ cholesterol cho bất kể mức độ cholesterol ban đầu của họ.

The role of LDL lowering for secondary stroke prevention had been unclear until recently. Ngày nay, vai trò của LDL-C giảm để phòng ngừa TBMMN đã rõ ràng. To address this question the SPARCL (Stroke Prevention by Aggressive Reduction in Cholesterol Levels) study was undertaken .Để giải quyết câu hỏi này SPARCL (dự phòng TBMMN bằng cách giảm nồng độ cholesterol xấu) nghiên cứu đã được thực hiện . In this study, 4,731 patients with prior strokes or TIAs, but no evident ischemic heart disease and no atrial fibrillation (AF), were randomized to placebo or atorvastatin 80 mg/day.Trong nghiên cứu này, 4.731 bệnh nhân bị TBMMN thật sự hoặc thoáng qua trước đó, nhưng không có bệnh tim thiếu máu cục bộ và không bị rung nhĩ (AF), được chọn ngẫu nhiên điều trị với giả dược hoặc atorvastatin 80 mg/ngày. The study showed a 16% risk reduction with atorvastatin treatment for fatal or nonfatal stroke (Nghiên cứu cho thấy giảm nguy cơ tử vong là 16% khi điều trị atorvastatin ) and a 23% reduction in risk for TIA or stroke ( và giảm 23% nguy cơ TBMMN thoáng qua ). There was also a reduction in coronary events (hazard ratio: 0.58Ngoài ra còn giảm trong biến cố bệnh động mạch vành ). A secondary analysis of the SPARCL trial, which tested the effect of treatment with atorvastatin in reducing stroke in the subgroup of subjects with type 2diabetes mellitus or metabolic syndrome and recent stroke or transient ischemic attack, found that subjects with type 2diabeteswere at higher risk for recurrent stroke (hazard ratio (HR) = 1.62; 95% confidence interval (CI), 1.33–1.98;Một phân tích thứ hai của thử nghiệm SPARCL, đã thử nghiệm hiệu quả điều trị với atorvastatin trong việc làm giảm TBMMN ở nhóm bệnh nhân ĐTĐ týp 2 hoặc hội chứng chuyển hóa và thiếu máu thoáng qua hoặc TBMMN ) and cardiovascular events and also found no difference in the effect of statin treatment in reducing these events in subjects with or without type 2diabetes.

4.4.4. Antiplatelet Therapy Liệu pháp kháng tiểu cầu

Platelets have a “key role” in atherogenesis and its thrombotic complications in subjects with diabetes. Tiểu cầu có một "vai trò quan trọng" trong xơ vữa và các biến chứng huyết khối trong bệnh nhân ĐTĐ. Platelets from subjects with DM, particularly from those with type 2 diabetes, exhibit increased reactivity .Tiểu cầu trong bệnh nhân ĐTĐ, đặc biệt là ĐTĐ týp 2, gây tăng phản ứng . Factors that may contribute to this are not completely elucidated and include metabolic abnormalities as hyperglycemia, hyperlipidemia, insulin resistance, and conditions as oxidative stress, inflammation, and endothelial dysfunction . Yếu tố có thể góp phần vào các rối loạn chuyển hóa như THA, tăng lipid máu, kháng insulin, oxy hóa do stress, viêm và rối loạn chức năng nội mô .

Besides, there is a reduced clinical efficacy (“ aspirin resistance ”) of aspirin in diabetic compared with a nondiabetic population . Bên cạnh đó, có một hiệu quả điều trị giảm ("kháng thuốc aspirin") của aspirin trong bệnh ĐTĐ . Hyperglycemia may be one of the mechanisms involved in this phenome

For primary prevention of cardiovascular disease in diabetic people, anti-platelet agents are often started on the basis of a composite cardiovascular risk factor score. Phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ, thuốc chống ngưng kết tiểu cầu thường bắt đầu trên cơ sở của một số yếu tố nguy cơ tim mạch. One commonly used score, the Framingham cardiovascular risk score, uses diabetes and stroke as risk factors to calculate the likelihood of future cardiovascular end points, including stroke.Một số điểm thường được sử dụng, số điểm nguy cơ tim mạch Framingham, sử dụng bệnh nhân ĐTĐ và TBMMN. Khuyến cáo về việc sử dụng aspirin như là một điều trị phòng ngừa tiên phát ở người bệnh nhân ĐTĐ[3]. Currently there is little evidence regarding other anti-platelet agents, such as clopidogrel, in relation to primary prevention of stroke disease in the diabetic person.Hiện nay có rất ít bằng chứng liên quan đến các chất chống ngưng kết tiểu cầu khác như clopidogrel, liên quan đến phòng ngừa tiên phát bệnh TBMMN ở bệnh nhân ĐTĐ.

For the secondary prevention of stroke, the evidence base comparing aspirin and clopidogrel in the diabetic person is relatively sparse, although the CAPRIE study did compare clopidogrel and aspirin in this population. Dự phòng thứ phát TBMMN, các cơ sở bằng chứng so sánh aspirin và clopidogrel trong bệnh nhân ĐTĐ, tác giả đã kết luận rằng clopidogrel dự phòng hiệu quả hơn so với aspirin ở bệnh nhân ĐTĐ . However, secondary prevention generally remains based on local guidelines and usually comprises of aspirin (with or without the addition of dipyridamole) or clopidogrel.Tuy nhiên, dự phòng thứ phát nói chung vẫn còn dựa trên hướng dẫn và thường bao gồm aspirin (có hoặc không có sự bổ sung của dipyridamole) hoặc clopidogrel.

Currently, there is no evidence to suggest that a combination of aspirin and clopidogrel, even in high risk people, such as those with diabetes, has any therapeutic advantage and may actually be harmful. Hiện nay, không có bằng chứng cho thấy sự kết hợp của aspirin và clopidogrel, ngay cả ở những người có nguy cơ cao, chẳng hạn như những bệnh nhân ĐTĐ, có bất kỳ lợi thế điều trị và thực sự có thể có hại. For example, the MATCH trial considered high risk individuals with stroke or TIA and one other risk factor.Ví dụ, thử nghiệm Match coi là người có nguy cơ cao TBMMN hoặc TBMMN thoáng qua và một yếu tố nguy cơ khác. Individuals already taking clopidogrel were randomised to receive either aspirin or placebo, in addition to clopidogrel. Cá nhân đã dùng clopidogrel được chọn ngẫu nhiên hoặc aspirin hoặc giả dược, ngoài clopidogrel. The trial failed to show a reduction in its composite cardiovascular end point (which included stroke) but did demonstrate increased rates of bleeding when using a combination of the two drugs.Thử nghiệm không cho thấy một sự giảm biến cố tim mạch (gồm TBMMN) nhưng đã chứng minh tăng tỷ lệ chảy máu khi sử dụng một sự kết hợp của hai loại thuốc trên . Further, the CHARISMA study, which compared over 15000 people with cardiovascular disease, did not show any benefit of clopidogrel and aspirin combined, when compared to aspirin alone, in their chosen end point, a composite of myocardial infarction, stroke, or cardiovascular death. Hơn nữa, nghiên cứu CHARISMA, so sánh hơn 15.000 người bị bệnh tim mạch, không cho thấy bất kỳ lợi ích của clopidogrel kết hợp aspirin, khi so sánh với aspirin đơn độc, hoặc clopidogrel trong dự phòng nhồi máu cơ tim, TBMMN hoặc tử vong tim mạch. Although this study did not show an increase in unwanted bleeding complications .Mặc dù nghiên cứu này không cho thấy sự gia tăng biến chứng chảy máu không mong muốn .

4.5. Rung nhĩ

Atrial fibrillation predisposes to embolic stroke disease.Rung nhĩ thường dẫn đến nhồi máu não. The risk of stroke disease varies between individuals and is often calculated using established risk stratification scores, such as the CHADS2 score, with diabetes being one factor which is often included in these scores.Nguy cơ mắc TBMMN khác nhau giữa các cá nhân và thường được tính bằng cách sử dụng thang điểm phân tầng nguy cơ, chẳng hạn như số điểm CHADS2, bệnh ĐTĐ là một yếu tố mà thường được bao gồm trong các điểm số. From these scores it is then possible to recommend the use of warfarin, which has been shown conclusively to reduce stroke.Từ những quan điểm đó, sau này có thể khuyến cáo sử dụng warfarin, đã được chứng minh một cách thuyết phục để giảm TBMMN . Warfarin does increase bleeding risk, takes time to work, and is not suitable for all peopleWarfarin làm tăng nguy cơ chảy máu, không thích hợp cho tất cả mọi người. Hence, aspirin is often prescribed as a suitable, if less efficacious, alternative.Do đó, aspirin thường được sử dụng. Recently factor IIa (thrombin) inhibitors have been developed as alternatives to warfarinGần đây yếu tố IIa (thrombin) chất ức chế đã được phát triển nhằm thay thế cho warfarin. Trials such as RE-LY , have demonstrated that these medications are as efficacious as warfariThử nghiệm như RE-LY , đã chứng minh rằng các loại thuốc này là hiệu quả như warfarin. While, this trial and others like it have included diabetic people, there is as yet no specific evidence for their use in exclusively diabetic populations.

4.6. Hút thuốc lá và lối sống tĩnh tại

Smoking and stroke disease is a very dangerous combination, either in a primary or secondary preventative setting. Hút thuốc lá ở bệnh nhân ĐTĐ là yếu tố rất nguy hiểm dẫn đến TBMMN. Those risks are multiplicative if that individual smoker also has diabetes.Cai nghiện thuốc lá nên được triển khai rộng rãi cho tất cả, không phân biệt của bệnh tiểu đường.

Likewise, healthy living, good diet, exercise, moderation of alcohol, and weight loss are just as important for the diabetic person as those without diabetes, for stroke prevention. Tương tự như vậy, sống lành mạnh, chế độ ăn uống tốt, tập thể dục, uống rượu điều độ, và giảm cân cũng quan trọng đối với người mắc bệnh ĐTĐ cũng như những người không có bệnh ĐTĐ, để phòng ngừa TBMMN. They should be recommended for all and form part of routine clinical care.Khuyến khích cho tất cả mọi người thự hiện thường quy.

 

 

5. Kết luận

 

TBMMN thường gặp ở bệnh nhân bị bệnh ĐTĐ. This is perhaps unsurprising given that diabetes is a major risk factor for atherosclerosis.Nguyên nhân chính là do bệnh ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ chính gây xơ vữa động mạch. What is more surprising is that, as yet, aggressively treating hyperglycaemia has not been shown to have beneficial outcomes in either primary or secondary prevention in stroke disease.Điều đáng ngạc nhiên là, tích cực điều trị tăng đường máu đã không được chứng minh có kết quả có lợi trong phòng ngừa chính hay phụ trong TBMMN.

Aggressive management of hypertension, however, has been shown to be particularly efficacious in diabetic people. Tuy nhiên, quản lý tích cực THA, đã được chứng minh đặc biệt hiệu quả ở những người mắc bệnh ĐTĐ. Currently, evidence would suggest target blood pressures should be 140/80 as a maximum but perhaps not lower than 120 mmHg systolic.Hiện nay, bằng chứng đề nghị huyết áp mục tiêu là 140/80 mmHg ở bệnh nhân TBMMN, HATT không thấp hơn 120 mmHg. Also an ACE-I would usually be a suitable first line agent in this populatThuốc hạ huyết áp nhóm ức chế men chuyển được lựa chọn đầu tiên ở bệnh nhân THA có ĐTĐ.

Cholesterol should be reduced, regardless of its starting point and other common and established primary and secondary stroke risk factors managed in diabetic people. Cholesterol nên được giảm, bất kể điểm khởi đầu của nó và các yếu tố khác thường được dự phòng tiên phát và thứ phát bệnh TBMMN kèm ĐTĐ. SFew, if any, management differences exist for diabetic people.SSs ự khác biệt quản lý dành cho những người mắc bệnh ĐTĐ. What evidence has been published, specifically for the diabetic person, suggests that they too benefit from thorough stroke risk factor management.Bằng chứng cho thấy, đặc biệt ở bệnh nhân ĐTĐ, họ cũng được hưởng lợi ích từ việc quản lý toàn diện các yếu tố nguy cơ TBMMN.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Hoàng Khánh (2012), “Dự phòng tai biến mạch máu não”, Tạp chí Y Học Đại học Y Dược Huế, tr. 34 -40.
  2. C. Banerjee, Y. P. Moon, and M. C. Paik (2012), “Duration of diabetes and risk of ischeamic stroke, The Northern Manhattan Study,” Stroke, vol. 43, pp. 1212–1217.
  3. H. Zhang, K. C. Dellsperger, and C. Zhang (2012), “The link between metabolic abnormalities and endothelial dysfunction in type 2 diabetes: an update,” Basic Research in Cardiology, vol. 107, no. 1, article 237.
  4. H. Zhang, K. C. Dellsperger, and C. Zhang (2012), “The link between metabolic abnormalities and endothelial dysfunction in type 2 diabetes: an update,” Basic Research in Cardiology, vol. 107, no. 1, article 237.
  5. H. Zhang, K. C. Dellsperger, and C. Zhang (2012), “The link between metabolic abnormalities and endothelial dysfunction in type 2 diabetes: an update,” Basic Research in Cardiology, vol. 107, no. 1, article 237.
  6. K. K. Ray, S. R. K. Seshasai, S. Wijesuriya et al. (2009), “Effect of intensive control of glucose on cardiovascular outcomes and death in patients with diabetes mellitus: a meta-analysis of randomised controlled trials,” The Lancet, vol. 373, no. 9677, pp. 1765–1772.
  7. K. M. V. Narayan, J. P. Boyle, T. J. Thompson, S. W. Sorensen, and D. F. Williamson (2003), “Lifetime risk for diabetes mellitus in the United States”, Journal of the American Medical Association, vol. 290, no. 14, pp. 1884–1890.
  8. F. Scott, G. M. Robinson, J. M. French, J. E. O'Connell, K. G. M. M. Alberti, and C. S. Gray (1999), “Prevalence of admission hyperglycaemia across clinical subtypes of acute stroke,” The Lancet, vol. 353, no. 9150, pp. 376–377.
  9. J. M. Sprafka, B. A. Virnig, E. Shahar, and P. G. McGovern (1994), “Trends in diabetes prevalence among stroke patients and the effect of diabetes on stroke survival, The Minnesota Heart Survey,” Diabetic Medicine, vol. 11, no. 7, pp. 678–684.
  10. J. I. Barzilay, C. F. Spiekerman, L. H. Kuller et al. (2001), “Prevalence of clinical and isolated subclinical cardiovascular disease in older adults with glucose disorders: the cardiovascular health study,” Diabetes Care, vol. 24, no. 7, pp. 1233–1239.
  11. L. Castilla-Guerra and M. Del Carmen Fernandez-Moreno (2007), “Stroke in diabetic patients: is it really a macrovascular complication?” Stroke, vol. 38, no. 10, article pp.106.
  12. T. K. Mattila and A. De Boer (2010), “Influence of intensive versus conventional glucose control on microvascular and macrovascular complications in type 1 and 2 diabetes mellitus,” Drugs, vol. 70, no. 17, pp. 2229–2245.

 


[1]   Trường Đại Học Y Dược, Huế; Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh TT Huế

 

 

BÌNH LUẬN
LIÊN HỆ
CÙNG ĐỀ MỤC
Viết Lời Bình về phòng ngừa tai biến mạch máu não- đái tháo đường




   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting


Tin Tức Hỏi đáp Thư Viện Luật Pháp

phòng ngừa tai biến mạch máu não- đái tháo đường

phòng ngừa tai biến mạch máu não- đái tháo đường

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting