Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share thách thức mới về tài năng sáng tạo đối với kiến trúc sư việt nam trong thế kỷ 21 kiến trúc bền vững lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

thách thức mới về tài năng sáng tạo đối với kiến trúc sư việt nam trong thế kỷ 21 kiến trúc bền vững


Lượt xem: 536 Tin đăng ngày: 14/12/2005 Bởi:

“Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” (Brundland Commission 1987). Để phát triển bền vững cần bảo đảm sự tồn tại đa dạng sinh thái và phát triển cân bằng của các hệ sinh thái, duy trì các tiềm năng tái sinh, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gồm đất, nước, không khí và các dạng năng lượng.

THÁCH THỨC MỚI VỀ TÀI NĂNG SÁNG TẠO ĐỐI VỚI KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM TRONG THẾ KỶ 21 KIẾN TRÚC BỀN VỮNG

 

 

 Phạm Đức Nguyên[1]

 

 

I- TẠI SAO LÀ “KIẾN TRÚC BỀN VỮNG”?

 

 “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai” (Brundland Commission 1987).

 

Để phát triển bền vững cần bảo đảm sự tồn tại đa dạng sinh thái và phát triển cân bằng của các hệ sinh thái, duy trì các tiềm năng tái sinh, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gồm đất, nước, không khí và các dạng năng lượng.

 

Trong lĩnh vực này, hiện nay trên phạm vi Thế giới có hai mối quan tâm đặc biệt, đó là sự biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ozone, đến mức người đứng đầu các Quốc gia trên thế giới phải ký tên vào các “Công ước Quốc tế”. Đó là:

 

- Công ước khung về biến đổi khí hậu (The United Nations Framework Convention on Climate Change) A)

 

- Công ước Viên về bảo vệ tầng ozone (The Vienna Convention on the ozone layer protection) B).

 

Sự biến đổi khí hậu Trái đất c) Gây thay đổi các yếu tố thời tiết, khí hậu, làm rút ngắn chu kỳ và tăng cường độ của thiên tai (bão, lụt, hạn hán, sóng thần), gây ra đói kém. Chúng có thể chuyển dịch cả một vùng sinh thái rộng lớn theo chiều hướng xấu. Biến đổi khí hậu cũng gây ra những biến động khó lường về xã hội, xuất hiện những dòng di dân không thể kiểm soát, những cuộc xung đột tranh giành nguồn tài nguyên…

 

Dự báo của Nhóm Liên Chính phủ (thuộc WMO/UNEP) Cho biết nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng 2oC trong thế kỷ này, trái đất sẽ “ấm” nhất trong vòng 10000 năm qua, khi đó mực nước biển sẽ tăng cao 50 cm, đủ gây ngập lụt các vùng đồng bằng thấp, ven biển và nhấn chìm một số quốc đảo [1].

 

Trong cuốn sách “Thế kỷ cuối cùng của chúng ta = Our Final Century”, GS Martin Rees, nhà vũ trụ học, nhà vật lý thiên văn thuộc Cambrdge nêu ra 8 nguy cơ đe doạ sự sống trên trái đất, mà theo ông, loài người chỉ có 50% cơ hội tránh bị huỷ diệt trong thế ký 21. Theo đánh giá của Tác giả khả năng huỷ diệt trái đất do biến đổi khí hậu là 60% [4].

 

Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu vạch ra khuôn khổ cho các hoạt động nhằm kiểm soát và cắt giảm phát thải các khí nhà kính. Mục tiêu của Công ước là nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển tại mức mà có thể ngăn chặn được các tác động nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu. Mức này phải đạt được trong khoảng thời gian đủ để cho phép các hệ sinh thái thích nghi với biến đổi khí hậu, bảo đảm sản xuất lương thực không bị đe doạ và bảo đảm phát triển kinh tế một cách bền vững [1].

 

Tiếp sau đó, Nghị định thư Kyoto (The Kyoto Protocol, ký tháng 12/1997) Đưa ra những cam kết các nước thành viên để giảm lượng phát thải các khí nhà kính trên toàn cầu, sao cho lượng phát thải CO2 trên toàn cầu còn 55% của năm tiêu chuẩn 1990 [1].

 

 “Sự suy giảm tầng ozone”  là do các hoá chất được gọi chung là ODS (ozone depleting substances (như CFCs, Halons, HCFCs, HBFCs, …), ít quan hệ với công việc của chúng ta hơn.

 

Ngành Kiến trúc - Xây dựng “đóng góp”  như thế nào vào sự biến đổi khí hậu?

 

Hiện nay quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi thế giới. Dự báo năm 2025 sẽ có khoảng 8 tỷ người sống trong các đô thị, chiếm 2/3 dân số thế giới.

 

Đô thị hoá gây ra bốn sức ép lên môi trường:

 

- Thu hẹp đất đai nông nghiệp và tự nhiên;

 

- Khai thác gây suy thoái tài nguyên thiên nhiên;

 

- Tăng cường sử dụng năng lượng hoá thạch;

 

- Lượng chất thải (khí, rắn, lỏng) Khổng lồ gây ô nhiễm môi trường.

 

 Do sự phát triển đô thị và công nghiệp, tại nước Anh trong thế kỷ 20 đã mất đi 20% đất sản xuất nông nghiệp. Người ta tính rằng, nếu tất cả đất nông nghiệp của nước Anh được sử dụng cũng không thể sản xuất đủ lương thực cho thành phố London. Tất cả khu rừng của nước Anh cũng không hấp thụ hết lượng CO2 do London thải ra.

 

Dự báo nước sinh hoạt sẽ cạn kiệt ở Liên hiệp châu Âu vào năm 2008, và ở nước Anh vào năm 2012 [3].

 

Trong thế kỷ 20 tiêu thụ năng lượng hoá thạch trên thế giới tăng 17 lần (riêng Nhật Bản tăng 74 lần [3]). Dự báo tiêu thụ năng lượng hoá thạch tiếp tục tăng, đặc biệt ở châu Á, sẽ gây tăng bột phát lượng phát thải khí CO2- nguyên nhân chủ yếu của sự nóng lên của trái đất.

 

Đó là vài ví dụ cho thấy quá trình đô thị hoá có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững.

 

Đô thị hoá làm biến đổi “Hệ sinh thái đô thị”  c), bởi vì:

 

Đô thị hoá gắn liền với các công trình xây dựng. Công trình xây dựng mọc lên thay thế cho rừng cây, đồng lúa, bãi cỏ, mặt ao hồ…, là làm mất đi, đuổi đi các sinh vật đang tồn tại cân bằng của một vùng sinh thái.

 

Công trình xây dựng cũng làm thay đổi đặc tính của bề mặt đất với cỏ cây, hoa lá. Vỏ công trình, đường phố, quảng trường bằng bê tông, đá, gạch, sắt thép, nhựa …, không được cây xanh che phủ, hấp thụ mạnh bức xạ mặt trời, sau đó thải dần vào môi trường, làm tăng nhiệt độ trong các đô thị. Các nghiên cứu môi trường đô thị bằng phương pháp “chụp ảnh nhiệt độ”  từ xa của GS. Akira Hoyano (Viện công nghệ Tokyo, Nhật bản [3]) Cho biết, tại những khu vực đô thị không có cây xanh và mặt nước, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ không khí nơi khác khoảng 20 oC và hơn nữa, và được định nghĩa theo sinh thái học như một “sa mạc đô thị”  (urban desert). Như vậy, các công trình Kiến trúc trong các đô thị đã làm biến đổi môi trường khí hậu, nói chung là bất lợi không chỉ với các sinh vật mà cả đối với con người.

 

Các công trình xây dựng tiêu tốn một năng lượng khổng lồ, được tính từ việc chế tạo các vật liệu để xây dựng công trình, công tác xây dựng nó, quá trình vận hành suốt cuộc đời, cho đến khi phá dỡ. Trong tất cả quá trình đó thì giai đoạn vận hành tiêu tốn nhiều nhất. Và đi kèm với nó là lượng chất thải, đặc biệt lượng khí CO2 thải ra trong vòng đời một công trình (Lifecycle CO2) - như một chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của công trình [3].

 

Để giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải CO2, thì việc sử dụng lại cấu kiện, tính linh hoạt của công trình, sự kéo dài tuổi thọ và đặc biệt, sự tận dụng tối đa năng lượng tự nhiên, giảm bớt sử dụng năng lượng nhân tạo trong vận hành, sự thích ứng của công trình với khí hậu có vai trò hết sức quan trọng.

 

Từ đó đã ra đời một hướng nghiên cứu và thực hành kiến trúc mới, được gọi là “Kiến trúc bền vững = Sustainnable Architecture”.

 

II- KIẾN TRÚC BỀN VỮNG LÀ GÌ VÀ THỰC HÀNH NHƯ THẾ NÀO?

 

Vậy Kiến trúc bền vững là gì và bắt đầu từ đâu?

 

Nói ngắn gọn thì Kiến trúc bền vững là kiến trúc, và kết quả của nó là những công trình xây dựng, trong suốt cuộc đời của chúng phải bảo đảm được sự phát triển bền vững của xã hội loài người, của trái đất, của mọi sinh vật, mà nhờ có sự tồn tại cân bằng của chúng môi trường sống của chúng ta mới không bị huỷ diệt. Cụ thể là:

 

Kiến trúc phải bảo vệ môi trường sống. Đô thị hoá là lấy đất đai có cây xanh, mặt nước để xây dựng công trình. Nhà cao tầng làm tăng mật độ sống của con người trên 1 m2 xây dựng, nhằm giải phóng đất đô thị cho tự nhiên, cho cây xanh, mặt nước, chứ không phải để có thêm diện tích xây chen các nhà liên kế, thậm chí nhà tiện nghi như biệt thự.

 

Kiến trúc không được làm thay đổi môi trường sống tự nhiên theo hướng xấu, hướng bất lợi đối với con người và sinh vật. Không khí sẽ bị ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt và công nghiệp, khí thải giao thông và các thiết bị phục vụ đời sống, làm tăng nhiệt độ không khí (vì dùng nhiều năng lượng…). Cây xanh phải được đưa nhiều nhất vào các đô thị, vào mỗi khu nhà chung cư, vào tận công trình, vào mỗi căn hộ, bởi vì cây xanh không chỉ là thẩm mỹ, có thể kéo theo sự tồn tại của nhiều sinh vật, là sự thể hiện của sự tồn tại của tự nhiên, giảm bớt bức xạ, nhiệt độ, lọc sạch không khí và đặc biệt còn được coi là lá phổi của đô thị. Có nhiều khu vườn nhỏ trong một đô thị sẽ cải tạo được khí hậu trong mỗi ngôi nhà chúng ta, làm tăng tiện nghi vi khí hậu, tăng tính vệ sinh môi trường, tuy có làm tăng ít nhiều độ ẩm không khí… Đó là lĩnh vực thực hành của kiến trúc môi trường (Environmental Architecture) Hay còn gọi là kiến trúc xanh (L’Architecture verte = The Green Buildings).

 

Rộng hơn, kiến trúc từ khi còn trên dự án, phải xem xét mọi khía cạnh để không làm biến đổi sinh thái tự nhiên của một vùng lãnh thổ. Ví dụ nước thải của nhà máy điện nguyên tử, của các nhà máy, của bệnh viện có thể phá huỷ không hồi phục một quẩn thể sinh vật. Sử dụng lại nước thải sinh hoạt để dùng ít nhất cho khu vệ sinh không chỉ để tiết kiệm nước, mà còn có ý nghĩa bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên nước cho thế hệ mai sau. Đó là lĩnh vực của Kiến trúc sinh thái (ecologic architecture). Trong kiến trúc sinh thái người ta còn quan tâm cả lĩnh vực sinh thái nhân văn, như phong tục, tập quán, tôn giáo, và các hình thức sinh hoạt cộng đồng khác.

 

Thiết kế kiến trúc phải được cân nhắc, tính toán để giảm bớt sự tiêu thụ năng lượng nhân tạo. Muốn vậy, ví dụ, vỏ nhà trong mùa nóng cần giảm bớt nhận nhiệt mặt trời, nhất là mặt trời vùng nhiệt đới, bởi vì nhận nhiều nhiệt MT ngay cả khi sử dụng ĐHNĐ cũng cần thêm một năng lượng, có khi rất lớn để bù đắp lại. Còn đa số người dân không có điều kiện sử dụng ĐHNĐ thì tiện nghi môi trường VKH sẽ rất xấu. Điều tra ở Hà Nội cho thấy, năng lượng điện tiêu tốn trong nhà văn phòng chiếm 36%, khách sạn 24% tổng năng lượng tiêu thụ. Trị số này phải nhân với 100 năm tồn tại của công trình.

 

Trong khi ánh sáng tự nhiên ngoài nhà của chúng ta dư thừa, thì ánh sáng trong nhà lại thiếu trong nhiều chung cư cao tầng, nhất là trong nhà chia lô. Và khi sử dụng đèn, chúng ta lại dùng đèn có hiệu suất sáng thấp. Chúng ta không quan tâm đến chỉ tiêu năng lượng trung bình trên một đơn vị diện tích công trình (W/m2), mà ngày nay được coi là một tiêu chí quan trọng trong kiểm toán năng lượng.

 

Ở Nhật Bản người ta nghiên cứu không gian nửa kín, nửa hở truyền thống (không gian chuyển tiếp, như hiên, logia - khái niệm “ireko” ) Như “vùng năng lượng zero (O)”, cần phát triển, nhưng trong nhà ở căn hộ hiện đại của chúng ta, nó bị giảm đến tối thiểu, thậm chí không còn!

 

Kiến trúc phải có tính thích ứng (adaptability) Cao, thấy trước được khả năng thay đổi công nghệ, điều kiện sử dụng để trong tương lai công trình chỉ cần ít thay đổi đã đáp ứng được, không phải phá bỏ, cũng là có hiệu quả về năng lượng.

 

Chủ động hơn, cần áp dụng rộng rãi các công nghệ sử dụng năng lượng tự nhiên (nhiệt mặt trời, gió, địa nhiệt, thuỷ triều v.v.) Phục vụ cho đời sống như chúng ta lợi dụng ánh sáng và gió tự nhiên.

 

Đây là lĩnh vực của Kiến trúc có hiệu quả về năng lượng (Energy – Efficient Building).

 

Muốn thực hành hiệu quả những lĩnh vực nêu trên, trước hết chúng ta phải hiểu biết sâu sắc về khí hậu địa phương, để lợi dụng nó tối đa, khắc phục hiệu quả nhất những bất lợi trong khi tiêu thụ tối thiểu năng lương nhân tạo. Công việc này phải bắt đầu từ việc sắp xếp hợp lý một tiểu khu, quy hoạch tốt một đô thị để đón được không khí trong lành vào các vùng có con người sống và hoạt động. Phải hiểu sâu sắc khí hậu sinh học mỗi vùng. Cùng nằm trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu miền Bắc, miền Trung, miền Nam, vùng đồng bằng, vùng núi, vùng ven biển không giống nhau. Ví dụ, ai cũng biết về cường độ bức xạ mặt trời toàn Việt Nam khác nhau không lớn, nhưng miền Bắc có một mùa đông lạnh, miền Trung có thời tiết nóng khô. Vì vậy công trình kiến trúc ở hai miền này tính phương hướng có ảnh hưởng quyết định rõ rệt đến tiện nghi VKH trong nhà hơn đối với miền Nam. Tuy nhiên, tại mỗi địa phương trên toàn Việt Nam, bốn hướng Đ, T, N, B đều có ảnh hưởng rất khác nhau đến chế độ nhiệt trong nhà, nhất là đối với nhà cao tầng trơ trọi giữa trời, không có gì che chắn. Vậy tại sao mặt bằng công trình lại hình vuông (?) Và mặt chính công trình cả bốn phía đều giống nhau (?). Những thực hành về Kiến trúc (sinh) Khí hậu (climatic/bioclimatic architecture) Cũng có thể gọi là Kiến trúc thích ứng khí hậu (climate-adaptive architecture) Cũng là cơ sở để công trình có hiệu quả về năng lượng và bảo vệ môi trường sống.

 

Khí hậu cũng là một trong những cơ sở để hình thành kiến trúc của một dân tộc. Điều này cũng hàm ý sự bắt chước, sự “ngưỡng mộ”  kiến trúc cổ và cả hiện đại châu Âu đều phải có cân nhắc cẩn thận. Ví dụ những mái nhà nhọn, sắc sẽ phải chịu áp lực lớn của gió bão, những tường kính, cửa sổ kính hướng nam rất có lợi để nhận nhiều nhiệt mặt trời sưởi ấm nhà ở châu Âu, sẽ phải trả giá bằng năng lượng lớn của ĐHNĐ trong khí hậu chúng ta.

 

Như vậy lĩnh vực nghiên cứu và thực hành kiến trúc bền vững là rất rộng lớn, rất đa dạng, đòi hỏi nhiều sáng tạo, tìm tòi của người thiết kế và cần sự liên kết với một số lĩnh vực khoa học và công nghệ khác. Bản thân các dạng kiến trúc chúng tôi đề cập ở trên cũng không có ranh giới rõ rệt, chúng đan xen vào nhau, gọi tên chúng chỉ là do sự ưu tiên trong các giải pháp.

 

Một công trình có thể không thể giải quyết cùng lúc mọi vấn đề, nhưng những sai lầm về thiết kế, nhất là về quy hoạch lại không thể sửa chữa được, và phải trả giá suốt cuộc đời công trình.

 

III- NHÌN QUA VỀ KIẾN TRÚC BỀN VỮNG VIỆT NAM

 

Trên thế giới đã có nhiều KTS đi tiên phong trong lĩnh vực này, trong đó phải kể đến trước hết những tư tưởng và công trình của Norman Foster.

 

Ở Việt Nam lĩnh vực này hiện nay còn bị xem nhẹ, chưa có những công trình mẫu mực để nêu gương.

 

Dưới đây chúng tôi chỉ lấy một vài ví dụ để phân tích mà không phải để chỉ trích.

 

Hình 1- Quy hoạch phổ biến: Nhà cao tầng

(Hình 1- Quy hoạch phổ biến: Nhà cao tầng) Cả ba phương án a, b, c, hình 3, đều có lõi nhà tối tăm, thiếu ánh sáng và gió tự nhiên, không thuận lợi nếu xẩy ra hoả hoạn. Phương án a bất lợi toàn diện. Phương án b và c tiếp xúc thiên nhiên nhiều hơn, đặc biệt phương án c thông thoáng tốt hơn. Phương án d là kiểu hành lang giữa, sẽ có một hướng bất lợi.

 

Phương án e là giải pháp của KTS Ken Yeang có rất nhiều ưu điểm về thông thoáng, tiếp xúc thiên nhiên cho tất cả căn hộ. (Hình 2- Mặt đứng các hướng đều xen kẽ nhà thấp tầng gióng nhau trong khi Mặt trời và gió khác nhau )

 

Hình 2- Mặt đứng các hướng đều xen kẽ nhà thấp tầng gióng nhau trong khi Mặt trời và gió khác nhau

 

Hình 3- Mặt bằng một số nhà cao tầng ở Việt nam (a, b, c, d) Và  của Ken Yeang (e - Nhà tháp MBF, Penang, Malaysia)

 

Hình 3- Mặt bằng một số nhà cao tầng ở Việt nam (a, b, c, d) Và  của Ken Yeang (e - Nhà tháp MBF, Penang, Malaysia)

 

 Hình 4- Dự án một khu chung cư cao tầng ở Việt Nam - Hình 5- Một giải pháp quy hoạch và kiến trúc chung cư cao tầng ở Sigapore

 

 

Trong khi quy hoạch và kiến trúc các khu nhà ở cao tầng Việt Nam không khác gì các khu nhà vùng ôn đới Âu châu, thì quy hoạch và kiến trúc khu nhà ở Singapore

 

 (hình 5) Thể hiện rõ tính nhiệt đới, sự bảo đảm tiện nghi cho con người và bảo vệ môi trường sống tốt hơn rõ rệt.

 

IV- CÁC NỘI DUNG CẦN NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH KIẾN TRÚC BỀN VỮNG Ở VN

 

Dưới đây chúng tôi đề nghị một số nội dung cần nghiên cứu và thực hành trong kiến trúc bền vững ở Việt Nam.

 

1/ Trước hết, trong điều kiện ở nước ta còn thiếu những tiêu chuẩn, quy phạm để thực hành kiến trúc bền vững, thì người thiết kế cần thấm nhuần sâu sắc và coi nó như một tư tưởng chủ đạo của kiến trúc thế kỷ 21, để thuyết phục chủ đầu tư chấp nhận các dự án theo hướng này. Hãy quan tâm nhiều hơn tới giá trị kinh tế trong suốt cuộc đời công trình, hơn là giá trị xây dựng như một loại hàng hoá.

 

2/ Trong kiến trúc thì quy hoạch luôn đi trước một bước, và có tính quyết định giá trị của toàn bộ dự án. Theo chúng tôi, ở Việt Nam khi quy hoạch cần quan tâm những vấn đề sau:

 

 - Địa hình (đồi núi, rừng cây), nhà cửa có thể làm thay đổi khí hậu, nhất là hướng gió địa điểm so với hướng gió chung của khu vực lãnh thổ do các đài khí tượng cung cấp. Vì vậy cần khảo sát lại khí hậu địa điểm trước khi lập dự án;

 

 - Các đường giao thông giống như những kênh dẫn gió mát, gió biển, gió trong lành từ những rừng cây ngoại vi vào sâu trong đô thị, cần lợi dụng. Nhưng chúng cũng có thể dẫn cả gió nóng, gió lạnh tới trung tâm đô thị hoặc xa hơn, lại nên tránh.

 

Chú ý rằng hiệu ứng “hút gió”  có thể làm tăng vận tốc trong các kênh này lên 2,5 đến 3 lần.

 

 - Bên trong đô thị tổ chức càng nhiều công viên nhỏ, vườn cây càng đem lại điều kiện tốt về vi khí hậu hơn là một công viên lớn. Gió mát từ các vườn cây này sẽ tràn vào nhà đem theo không khí trong lành;

 

 - Trong vùng thời tiết nóng khô (miền trung) Nên tổ chức nhiều hồ nước, nhất là các bể phun nước trên đường phố (nút giao), và trong mỗi khu nhà. Gió nóng thổi qua sẽ lấy hơi ẩm và hạ thấp nhiệt độ đáng kể trước khi vào nhà.

 

3/ Hướng nhà ở Việt Nam quyết định rõ rệt chế độ nhiệt trong nhà, được xem xét chủ yếu bới bức xạ mặt trời và hướng gió. Vấn đề thứ hai đặc biệt quan trọng đối với miền Bắc và miền Trung. Ví dụ ở miền Bắc, hướng B-N tốt hơn hướng ĐN – TB, do vào những tháng nóng nhất (tháng 5 à 7) Hướng TB nhận nhiều BXMT hơn rõ rệt so với hướng B.

 

4/ Không nên vì bài toán kinh tế mà cắt giảm hiên, logia, ban công, đặc biệt trong các nhà ở. Đó là những không gian có tính nhiệt đới rõ rệt. Không những thế cần mở thêm trong mỗi tầng nhà, trở thành những không gian cây xanh, giao tiếp cộng đồng truyền thống Việt.

 

5/ Sân trong, giếng trời đã từ lâu được sử dụng trong nhà ở đô thị, như một bộ phận quan trọng để điều hoà gió và ánh sáng, tận dụng năng lượng tự nhiên. Đối với nhà cao tầng có độ dầy lớn, bị phơi nắng suốt ngày cả 5 mặt, nhất là khi gặp thời tiết mưa to, bão lớn thì sân trong càng có ý nghĩa. Nếu khéo tổ chức nó sẽ kéo thiên nhiên trong lành vào nhà và trở thành nơi giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng kiểu Việt.

 

 6/ Tổ chức mặt bằng cố gắng sao cho mỗi căn hộ có hai mặt tiếp xúc với thiên nhiên để thuận lợi thông gió và sinh hoạt kín đáo. Các căn hộ nằm ở hướng bất lợi về gió mát cần tạo hành lang dẫn gió từ phía đối diện, đặc biệt các công trinh nằm ở miền khí hậu phía Bắc.

 

7/ Đối với nhà cao tầng, các tường nhà bị phơi nắng suốt ngày, nhất là những hướng bất lợi, buổi chiều, cần có giải pháp giảm bớt nhận bức xạ, ví dụ tạo bóng, sử dụng vật liệu ít hấp thụ, cách nhiệt v.v.

 

8/ Cần thiết áp dụng rộng rãi công nghệ chuyển đổi năng lượng mặt trời thành nhiệt và điện. Bản thân các tấm bẫy nhiệt và bộ pin mặt trời có thể trở thành những tấm che BXMT hiệu quả cho tường và mái.

 

9/ Nước ta tuy thuộc vùng lãnh thổ có nhiều mưa, nhưng đã xuất hiện tình trạng thiếu nước trầm trọng. Cần áp dụng công nghệ sử dụng lại nước thải trong nhà cao tầng, vừa giảm ô nhiễm môi trường, vừa bảo vệ tài nguyên nước.

 

10/ Mỗi thiết kế cần tính toán sao cho đạt được các chỉ tiêu về năng lượng cao nhất. Hai chỉ tiêu quan trọng loại này là năng lượng (sử dụng) Trung bình trên một đơn vị diện tích (W/ m2) Và lượng nhiệt trung bình truyền qua 1 m2 vỏ nhà (mái và tường, W/ m2), đã được sử dụng trong kiểm toán thiết kế. /.

 

 

------------------------------------------------------------------------------

 

a) Có 162 Quốc gia trong đó có Việt nam ký kết tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc về Môi trường và phát triển tai Rio de Janẻio, Brazin, tháng 11/1994),

b) Ký kết 22/3/1985 là những cam kết quốc tế nhằm bảo vệ sức khoẻ con người khỏi tác dụng xấu do tầng ozone bị suy giảm. Tháng 1/1994 Việt nam chính thức gia nhập Công ước Viên.

c) Sự biến đổi khí hậu có nguyên nhân từ các hoạt động của con người đặc biệt trong các ngành liên quan đến sử dụng nhiên liệu hoá thạch làm tăng đáng kể lượng CO2, và các khí khác như CH4, N2O, và các sol khí trong khí quyển. Các khí này được gọi chung là khí nhà kính (GHG = greenhouse gases)

d) Hệ sinh thái đô thị là tập hợp tất cả các hệ sinh thái tồn tại trong một đô thị, bao gồm các thành phần hữu sinh (con người và các sinh vật), vô sinh (đất, nước, không khí…) Và công nghệ (nhà cửa, trường học, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, công trình văn hoá, bệnh viện,…), trong đó con người có vai trò quan trọng và quyết định nhất).

 

Tài liệu tham khảo

 

1/ Tài liệu của “Văn phòng công ước quốc tế” về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ozone, thuộc Tổng cục khí tượng thuỷ văn.

2/ Brian Edwards & David Turrent. Sustainable Housing. Principles & Practice. E & FNSPON (London and New York).

3/ Sustainnable Architecture in Japan. The Green Buildings of Nikken Sekkei. 2000. Wiley- Academy. Eiji Maki & William A. McDonough; Toshiharu Ikaga.

4/ 8 nguy cơ đe doạ sự sống trên trái đất. Tri thức trẻ 152, tháng 6-2005

 

 

[1] Trường ĐH Xây dựng - Báo cáo tại Hội Thảo “Những vấn đề của nền kiến trúc Việt Nam đương đại 9/2005 của Hội Kiến trúc sư Việt Nam”

 

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận về: thách thức mới về tài năng sáng tạo đối với kiến trúc sư việt nam trong thế kỷ 21 kiến trúc bền vững
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

thách thức mới về tài năng sáng tạo đối với kiến trúc sư việt nam trong thế kỷ 21 kiến trúc bền vững

thách thức mới về tài năng sáng tạo đối với kiến trúc sư việt nam trong thế kỷ 21 kiến trúc bền vững

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 561
Hôm nay:23477
Hôm qua: 71621
Trong tháng 1152627
Tháng trước2025149
Số lượt truy cập: 86197940