Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share yêu cầu hiệu quả năng lượng của vỏ công trình xây dựng lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

yêu cầu hiệu quả năng lượng của vỏ công trình xây dựng


Lượt xem: 309 Tin đăng ngày: 18/09/2008 Bởi:

Báo cáo nhằm làm sáng tỏ sáng tỏ những ý nghĩa khái niệm, thuật ngữ, giúp cho người thiết kế dễ dàng tìm hiểu QCXDVN 09: 2005. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đưa ra bàn luận vài nội dung, hoặc cần thảo luận thêm, hoặc còn chưa được nghiên cứu và quy định ở Việt Nam, mà nếu chưa được bổ sung thì không thể tính toán được một vài đại lượng theo Quy chuẩn.

Lớp vỏ công trình trong quy chuẩn xây dựng các công trình có hiệu quả năng lượng – QCXDVN 09: 2005

 

(The Envelopes of Building in the energy efficiency building code QCXDVN 09: 2005[1])

 

 PGS. TS. Phạm Đức Nguyên[2]-KTS. Giang Ngọc Huấn[3]

 

 

Mở Đầu

 

Bước vào thế kỷ 21, khi “Biến đổi Khí hậu” được quan tâm đặc biệt trên toàn cầu, thì việc ban hành Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 09: 2005 “Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả = Energy Efficiency Building Code” có thể coi là mốc quan trọng trong xây dựng Việt Nam.

 

 QCXDVN 09: 2005 được Bộ Xây dựng ban hành ngày 17/11/2005, là Quy chuẩn (QC) đầu tiên quy định những yêu cầu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ để sử dụng năng lượng có hiệu quả khi thiết kế xây dựng mới hoặc cải tạo các công trình thưng mại, các c quan nghiên cứu, trụ sở hành chính Nhà nước, chung cư cao tầng và các khách sạn lớn, v.v. Có sử dụng điều hoà không khí, các thiết bị sử dụng nhiều năng lượng. Như vậy QCXDVN 09: 2005 ra đời sau Singapore (1980), Malaysia (1987), Thái Lan (1988), Philipine và Indonesia (1989). Còn ở Hoa Kỳ, Văn phòng tiêu chuẩn quốc gia (US National Bureau of Standards) đã có dự thảo Quy chuẩn từ năm 1974, sau cuộc khủng hoảng năng lượng năm 1973, để cho ra đời chính thức QC đầu tiên năm 1975 (do ASHRAE1) Và IESNA2) Soạn thảo). Nhờ áp dụng QC trong xây dựng, so với năm 1975, năm 1999 ở Hoa Kỳ đã tiết kiệm được khoảng 60% năng lượng [5].

 

 Bộ Xây dựng cho thời gian hai năm để “khởi động” QC (tuyên truyền, giới thiệu, làm quen) đã hết, nghĩa là thời điểm phải thực hành QC đã tới, nhưng hình như các c quan thẩm định thiết kế, kiểm toán năng lượng chưa xây dựng được các chưng trình tính toán đánh giá chất lượng công trình theo các quy định của QC này, và còn nhiều người thiết kế chưa hiểu thấu đáo QC để vận dụng. Có thể là do cách viết quy chuẩn rất chặt chẽ, c“ đọng, không giải thích các khái niệm về bản chất vật lý/sinh lý, lại sử dụng các ký hiệu thường dùng ở các nước phưng Tây bằng tiếng Anh, nên làm khó hiểu ngay cả cho nhiều cán bộ kỹ thuật chuyên ngành được đào tạo theo các giáo trình quen thuộc trước đây ở nước ta, mà tác giả chính của QCXDVN 09: 2005 là các Chuyên gia của Công ty tư vấn Quốc tế Deringer Group (Hoa Kỳ) Thì đã về nước.

 

 Trong bài viết này, chúng tôi muốn làm sáng tỏ những ý nghĩa khái niệm, thuật ngữ, giúp cho người thiết kế dễ dàng tìm hiểu QC. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đưa ra bàn luận vài nội dung, hoặc cần thảo luận thêm, hoặc còn chưa được nghiên cứu và quy định ở Việt Nam, mà nếu chưa được bổ sung thì không thể tính toán được một vài đại lượng theo QC. [tạm ghi là à TS 1,2,3,4,5].

 

I.  Về các đại lượng SHGC và SC

 

 SHGC là hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời (solar heat gain coefficient) Của kết cấu và SC là hệ số che nắng (shading coefficient) Của cửa sổ, có thể tìm thấy trong tài liệu [2,3].

 

 Chúng ta đều biết, khi kết cấu (tường hoặc mái nhà) Chịu BXMT có cường độ I chiếu tới, thì nhiệt độ tính toán bên ngoài kết cấu được gọi là nhiệt độ tổng, ký hiệu ttg theo các sách kỹ thuật Việt Nam [1,2,3]. Các tài liệu phưng Tây gọi là sol-air temperature, ký hiệu SAT, hay còn gọi là nhiệt độ ảo (fictitious temperature).

 

 Ta có:   ttg = tn + Ia/ hn (1) . Trong đó:

tn – nhiệt độ không khí bên ngoài,

 I - cường độ BXMT chiếu lên kết cấu,

 a - hệ số hấp thụ BXMT của bề mặt kết cấu.

 hn - hệ số trao đổi nhiệt mặt ngoài kết cấu.

 

 Công thức (1) đã bỏ qua phần nhiệt trao đổi bức xạ giữa bề mặt kết cấu và bầu trời, mà các tác giả phưng Tây cho r”ng chỉ có thể hoàn toàn bỏ qua đối với các tường đứng [3] (do phần nhận được gần như bằng phần bức xạ).

 

 Như vậy khi có BXMT, nhiệt độ tính toán bên ngoài có thêm một lượng (Ia/ ho) Gọi là nhiệt độ tưng đưng của BXMT (ký hiệu ttd [1,2] hay sol - air excess temperature, ký hiệu SAXT [3]. Khi đó coi như có thêm một dòng nhiệt, ký hiệu qmt, (tiếng Anh: Solar excess heat flow rate) đi qua một “bức tường mờ” (opague wall) Có giá trị là:

 

 qmt = IaU/ hn (2) trong đó U – tổng hệ số truyền nhiệt của kết cấu.

 

 Giá trị (aU/ hn) Trong công thức (2) Thể hiện khả năng nhận nhiệt BXMT của kết cấu và gọi là hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời, ký hiệu là SHGC – solar heat gain coefficient – một đại lượng không thứ nguyên (trong [2] ký hiệu là hI). Vậy:

 

 SHGC (hay hI) = aU/ hn (3)

 

 Do nhận thức được vai trò của SHGC có ý nghĩa rất lớn khi kết cấu nhận nhiệt BXMT nên O. H. Koenigsberger (Australia) đã kiến nghị:  SHGC không được lớn hn 0,04 đối với khí hậu nóng ẩm và   SHGC không được lớn hn 0,03 đối với khí hậu nóng khô.

 

 Trường hợp xẩy ra với tường bằng kính hoặc cửa sổ kính, lượng nhiệt nhận thêm do BXMT biểu diễn trong công thức (2) Là chưa đủ, do phải kể tới lượng nhiệt trực tiếp xuyên qua kính vào phòng. Khi đó công thức (2) Sẽ có dạng:

 

 qmt, k = I t + IaU/ hn (4)   trong đó t - hệ số xuyên BXMT của kính.

 

 Tương ứng ta có hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời của cửa sổ kính là:

 

 SHGCk = t + aU/ hn (5)   (trong [3] gọi là solar heat gain factors)

 

Ở Hoa kỳ thừa nhận kính hai lớp dày 3 mm (double strength sheet glass – DSA) Làm kính chuẩn, có các hệ số hấp thụ, phản xạ và xuyên BXMT tưng ứng là [3]:  a = 0,06; R= 0,08 và t = 0,86 (6)

 

 Ngay cả hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời của cửa sổ kính chuẩn cũng không là một giá trị cố định, vì ta thay đổi phụ thuộc góc chiếu của tia mặt trời, mà góc chiếu lại thay đổi theo vị độ địa lý địa điểm và ngày, giờ quanh năm. Trường hợp tia MT chiếu vu“ng góc (góc tới bằng 0) Tính được với kính chuẩn [3]: SHGCkc = 0,87 (7).

 

Trong thực tế xét tới cửa sổ sử dụng nhiều loại kính khác nhau, đồng thời có ảnh hưởng của các kết cấu cửa (khung, đố cửa), nên hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời của cửa sổ thường - SHGCCS khác với SHGCkc (của kính chuẩn). Vì vậy để thuận tiện tính toán người ta đưa vào khái niệm hệ số che nắng SC (shading coefficient) Là tỷ số giữa SHGCCS (của cửa sổ bất ký xem xét) Và SHGCkc. Ta có:

 

 SC = SHGCCS/ SHGCkc = SHGCCS/ 0,87 = 1,15 SHGCCS (8).

 

 Trong QCXDVN 09: 2005 giới thiệu công thức (4.1, trang 13):  aofa = SCcg ´ 0,86 (9)

 

Và gọi aofa = hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời cho toàn bộ diện tích cửa sổ, SCcg = hệ số che nắng (SC) Tại tâm cửa sổ.

 

 Như vậy theo QC [4] aofa là SHGC cho toàn diện tích cửa sổ, và được quy định không được lớn hn các giá trị trong bảng 4.1 và 4.2 (theo aMax).  Trường hợp “đối với các cửa sổ trên mặt đứng được che nắng bởi các tấm che nắng ngang hoặc đứng cố định, hệ số SHGC sẽ được giảm đi bằng việc sử dụng các hệ số trong bảng 4.3,4.4,4.5 hoặc 4.6 cho từng loại cửa sổ có kết cấu che nắng tưng ứng” [4].

 

II. Bàn luận

 

1/ Theo công thức (8) Thì  SHGCCS = aofa = SCcg SCcg ´ 0,87, mà không phải là … ´ 0,86 như (9).  Tuy nhiên điều này có thể bỏ qua vì sai số chỉ là 1%. Nhưng quan trọng hn là ở Việt Nam chưa thừa nhận kính hai lớp dày 3 mm (DSA) Với các đặc tính quang học (6) Là kính chuẩn [à TS 1].

 

2/ Theo công thức (9) Hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời của cửa sổ bằng hệ số che nắng nhân với hệ số xuyên BXMT của kính chuẩn (0,86). Nói khác đi, hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời của cửa sổ aofa thực chất là hệ số xuyên BXMT của cửa sổ có xét đến sự che bóng của cấu tạo cửa, cho biết lượng BXMT thực vào phòng (giảm ít hn so với kính chuẩn), chứ chưa phải là SHGC của cửa, có xét thêm lượng nhiệt truyền qua cửa (như công thức 5). Điều này cũng có thể chấp nhận được, do lượng nhiệt này nhỏ hn đáng kể so với lượng BXMT trực tiếp vào phòng, nên đã được bỏ qua. aofa phụ thuộc loại kính (hệ số t) Và cấu tạo cửa (chưa xét đến kết cấu che nắng). Khi có kết cấu che nắng, hệ số này sẽ giảm bớt do được nhân với hệ số trong bảng 4.3,4.4,4.5,4.6 (thường nhỏ hn 1). Điều này là hoàn toàn đúng đắn.

 

3/ Hệ số aMax quy định trong các bảng 4.1 và 4.2 phụ thuộc:

 

- Diện tích lắp kính: Diện tích kính càng lớn à càng phải giảm bớt, nhằm giảm lượng nhiệt BXMT vào phòng. Điều này hợp lý.

 

- Hướng cửa sổ: Các hướng Đ/T, ĐN/ TN, N nhỏ hn B, ĐB/TB. Chúng tôi cho r”ng quy định này chưa thật thuyết phục, vì: Hướng Đ/T có BXMT lớn và ảnh hưởng hn các hướng khác, nhất là T. Ở miền KH phía Bắc hướng TB xấu hn ĐN, TN

 

- Công trình văn phòng, khách sạn cao tầng nhỏ hn các công trình khác (ví dụ 0,45 so với 0,47). Điều này cũng hợp lý.

 

- Mái, sân trời nhỏ hn tường.

 

- Miền KH phía Nam (vùng B V) Nhỏ hn miền KH phía Bắc (A III). Điều này cũng hợp lý.

 

4/ Trong QCXDVN 09: 2005 cũng như các tiêu chuẩn đã có chưa cho các giá trị của hệ số che nắng SCcg (công thức 8). Do đó không thể, xác định aofa (công thức 9) để kiểm toán theo giá trị Quy chuẩn ban hành (bảng 4.1 và 4.2) [à TS 2].  Chúng tôi xin giới thiệu trong bảng 1 và bảng 2 một số giá trị SC được sử dụng ở Hoa kỳ [3] để tham khảo.

 

 Bảng 1. Đặc tính của các loại kính

 

Loại kính

t,% ánh sáng

t,% BXMT

SC

Kính nổi 1 lớp, 3 mm

2 lớp, 3 mm

1 lớp, 6 mm

2 lớp, 6 mm

90

82

88

78

86

71

77

60

1,00

0,88

0,93

0,80

Kính nổi màu ghi 1 lớp, 3 mm

1 lớp, 6 mm

62

42

63

44

0,82

0,67

Kính phản xạ màu ghi, 1 lớp

8 - 34

11 - 37

0,36–0,62

Kính hút nhiệt 3mm

6mm

84

76

65

48

0,82

0,68

Tấm nhựa (acrylic) 2 lớp, màu sáng

Màu trắng

83

70

83

67

0,97

0,81

Polycarbonate, hai lớp

73

74

0,88

 

 Bảng 2. Đặc tính của một số thiết bị che nắng

 

Thiết bị

t,%

r,%

a,%

SC

Rèm kiểu Venise

Màu sáng, ngang

Màu nhẹ, ngang

Màu trắng, đứng

5

5

0

55

35

77

40

60

23

0,55

0,64

0,29

Che nắng kiểu con lăn

Màu trắng, mờ

Màu trắng, đục

Mùa tối, đục

25

0

0

60

80

12

15

20

88

0,39

0,25

0,59

 

Về trị số OTTV

 

 OTTV là giá trị truyền nhiệt tổng qua tường và mái công trình, ký hiệu theo danh từ tiếng Anh (overal thermal transmission value), tính theo W/m2. Cách làm này là đúng và phổ biến trong kiểm toán năng lượng các công trình trên thế giới, so với cách quy định trị số trở nhiệt R của kết cấu thường dùng trước đây, bởi vì giá trị OTTV cho biết trực tiếp lượng nhiệt đn vị qua kết cấu theo W/m2.

 

 Giá trị OTTV cực đại cho phép trong QCXDVN 09: 2005 được quy định theo vùng khí hậu, loại công trình và riêng cho tường hoặc mái nhà, như trong bảng 3.

 

 Bảng 3. Giá trị truyền nhiệt tổng (OTTV) Cực đại cho phép [4]

 

Vùng KH

Loại công trình

OTTVtường, W/m2

OTTVmái, W/m2

A III

B V

A III

B V

Văn phòng cao tầng & Khách sạn

Văn phòng cao tầng & Khách sạn

Tất cả các c“ngtrình khác

Tất cả các c“ngtrình khác

76

58

76

64

24

24

19

19

 

 

Giá trị OTTV tổng cho toàn bộ tường bao che bên ngoài công trình, ký hiệu OTTVW là giá trị trung bình trọng số (trung bình theo diên tích) Của tất cả các OTTVi của từng tường riêng biệt.

 

Giá trị OTTVi (W/m2) Qua mỗi tường ngoài có hướng khác nhau được xác định bởi công thức trong PL A của QCXDVN 09: 2005:

 

 OTTVi = (TDeq – DT) X CF x Ac x Uw x (1- WWRi) + DT x Uw x (1- WWRi) + SFi + CFi + SHGC x XSi x WWRiDT x Uf x WWRi + Lp x (1- Rc x Kd) X ATP/ AXW (10)

 

Trong đó:

 

 Ac = hệ số hấp thụ BXMT của bề mặt tường (là trị số a trong công thức 5),

 

 Uw = nhiệt truyền qua tường, W/m2. OC,

 

 WWR = tỷ lệ tổng diện tích cửa sổ trên tổng diện tích tường bao che xem xét,

 

 TDeq = chênh lệch nhiệt độ tưng đưng giữa bên trong và bên ngoài công trình, oC, có xét đến BXMT chiếu lên tường, xác định theo bảng A. 1.

 

 DT = chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài nhà, oC,

 

 Uf = hệ số truyền nhiệt của cửa sổ, W/m2. OC,

 

 SHGC = hệ số hấp thụ BXMT của hệ thống cửa sổ trong công trình,

 

 SFi = giá trị TB theo giờ của BXMT chiếu lên cửa sổ hướng thứ i, W/m2, tra bảng.

 

 CFi = hệ số hiệu chỉnh với hướng thứ i xét đến sự thay đổi BXMT trên các hướng.

 

 XSi = hệ số nhân xét đến kiểu kết cấu che nắng và hệ số đua ra (bảng 4-3 à4-6).

 

 Lp = mật độ công suất chiếu sáng lắp đặt (LPD), W/m2 cho không gian bên trong hướng thứ i.

 

 Rc = tỷ lệ diện tích sàn hướng i được chiếu nắng (ADL) Trên tổng diện tích sàn (ATP) Hướng i, lấy bằng 0,25.

 

 AXW = tổng diện tích tường ngoài hướng thứ i,

 

 Kd = hệ số giảm mật độ công suất chiếu sáng trong vùng diện tích hướng i.

 

Bàn luận:

 

1/ OTTV tổng đã xem xét đã xem xét một cách toàn diện giải pháp thiết kế công trình: Hướng nhà lợi hay bất lợi về BXMT (rất quan trọng!), tổ chức mặt tường bằng vật liệu đặc hay kính (được che nắng hay bị nắng chiếu), diện tích mặt tường các hướng khác nhau (diện tích lớn ở hướng bị nắng chiếu nhiều là bất lợi), vật liệu của vỏ nhà, diện tích và loại kính sử dụng. V.V.

 

2/ Hai giá trị TDeq và DT được cung cấp kèm theo trong QC chúng tôi thấy chưa thoả đáng, cần được thảo luận. Ví dụ:

 

- Theo bảng A. 1: Tường càng dày thì TDeq càng nhỏ?

 

- Giá trị DT = 12,2 oC cho Hà Nội và 9,5 oC cho TP HCM? [à TS 3].

 

3/ Hệ số đua ra trong các bảng từ 4-3 đến 4-6 chưa được giải thích.  [à TS 4].

 

4/ Trong công thức (10) Có mật độ công suất chiếu sáng lắp đặt (Lp), W/m2, có lẽ là chưa hợp lý, do OTTV là tính toán nhiệt, không phải ánh sáng [à TS 5].  Các công thức tính OTTV cho tường và cho mái của ASHRAE (90A-1980) Dẫn tong tài liệu [5] cũng không có sự tham gia của các đại lượng này.

 

5/ Đề nghị công bố phần mềm VN-OTTV nói đến trong mục 4.3/ QCXDVN 09: 2005 và thực hành tính toán mẫu, bởi vì nếu thiếu sự hỗ trợ của nó, các c quan kiểm toán rất khó thực hiện theo QC 09: 2005 [4].

 

 Trong báo cáo mới đây trong Hội thảo “Kiến trúc thụ động và năng lượng thấp” tại Singapore, các tác giả [5] đã đề nghị một “Công cụ đánh giá nhanh năng lượng theo QC Việt Nam” (Vietnam quick energy rating tool= VQERT). Phưng pháp là xây dựng một “M“ hình nhà giả thiết = Notional Building Model” cho Hà Nội và TP Hồ Chí Minh theo QCXDVN 09: 2005, để so sánh với ng“i nhà thực khi đánh giá. Đây là một phưng pháp sử dụng công cụ tính toán hiện đại, thuận tiện thực hành, rất đáng hoan nghênh. Tuy nhiên qua bước đầu tìm hiểu, tôi nhận thấy các tác giả chọn 25oC là giới hạn trên của nhiệt độ trong nhà cho giá trị DT khi xác định OTTV là quá thấp. Theo lựa chọn này, thì số giờ cần làm mát bằng hệ thống c khí trong một năm tại Hà Nội chiếm tới 53,50%, còn tại TP Hồ Chí Minh tới 91,20% [5, bảng 1].

 

 III. Kết luận

 

 Lớp vỏ công trình không chỉ là yếu tố quyết định nhất tính hiệu quả năng lượng của nó, mà còn quyết định m“i trường – sức khoẻ trong nhà. Hiểu rõ điều đó, KTS nổi tiếng Ken Yeang (Malaysia) Gọi vỏ nhà là “bộ lọc khí hậu”. Cần giúp cho người thiết kế Việt Nam hiểu r”ng, đ”ng sau những con số có vẻ kh“ khan của QC, là những giải pháp th“ng minh, sáng tạo liên quan tới vị trí, hướng, các cấu tạo kiến trúc (hiên, ban c“ng, kết cấu che nắng, vườn treo, giếng trời …), vật liệu xây dựng (tường gạch, bê t“ng, nh“m, kính hay gỗ, nhựa…), thậm chí cả màu sắc công trình.

 

Bên cạnh đó là nhiệm vụ và trách nhiệm của người thiết kế trong sự hợp sức với toàn nhân loại đóng góp cho sự tồn vong của Trái đất. Chúng tôi mong các vấn đề kỹ thuật cuối cùng nhanh được giải quyết để QCXDVN 09: 2005 sớm được áp dụng vào thực tế xây dựng Việt Nam.

 

 Tài liệu tham khảo

 

1- Phạm Ngọc Đăng. Nhiệt và khí hậu kiến trúc. NXB Xây dựng 2002.

2- Phạm Đức Nguyên. Kiến trúc sinh khí hậu. NXB Xây dựng 2002.

3- Donald Watson & Kenneth Labs. Climatic building Design - Energy- efficient building principles and practice. 1992

4- QCXDVN 09: 2005. Các công trình xây dựng sử dụng năng lượng có hiệu quả. NXB Xây dựng 2005.

5- Viet Tuan Do, Alan N. Young, Nico Kienzi, Gerald Pde. The Development of Energy Efficiency Building Codes in the ASIAN Area-A Quarter-Century Review and The Proposal for a Design Tool for Commercial Buildings in Vietnam. The 24th Conference on Passive and Low Energy Architecture, Singapore November 2007.

1) American Society of Heating Refrigerating and Air-conditioning Engineers

2) Illuminating Engineering Society of North America

 

quy chuan xay dung vo cong trinh xay dung ve nang luong

 

Keywords:lop vo cong trinh trong quy chuan xay dung cac cong trinh co hieu qua nang luong,qcxdvn 09: 2005,the envelopes of building in the energy efficiency building code,pgs ts pham duc nguyen,kts giang ngoc huan

 

[1] Báo cáo tại Hội thảo Khoa học quốc gia “M“i trường- sức khoẻ, Hiệu quả năng lượng trong xây dựng & Biến đổi khí hậu” Hội M“i trường xây dựng Việt Nam & Viện NCKH Bảo hộ lao động. Hà Nội 12/01/2008 - Đăng trong Tạp chí “Người Xây dựng 3/2008”

[2] ĐHXD Hà Nội

[3] ĐHKT TP Hồ Chí Minh

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận về: yêu cầu hiệu quả năng lượng của vỏ công trình xây dựng
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

yêu cầu hiệu quả năng lượng của vỏ công trình xây dựng

yêu cầu hiệu quả năng lượng của vỏ công trình xây dựng

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 455
Hôm nay:42142
Hôm qua: 38696
Trong tháng 736456
Tháng trước1768947
Số lượt truy cập: 106406292