Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án
09.63.68.69.68
My status
Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ Mrs Lan Anh Vấn Luận Văn Th.Sĩ
09.63.63.63.15
Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản Mr Kính- Hướng Dẫn Thanh Toán- Lập Tài Khoản
0986742669
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
024.62.97.0777
Cô Hân(Vật Lý  LTĐH) Cô Hân(Vật Lý LTĐH)
0983274486
Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy Tư Vấn Sử Dụng Hóa Chất- Công Nghiệp Giấy
0964664810

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share hình phạt tử hình qua các thời kỳ lịch sử lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

hình phạt tử hình qua các thời kỳ lịch sử


Lượt xem: 381 Tin đăng ngày: 19/02/2017 Bởi:

Quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Trong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”. Vì vậy, khi một người có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân của người khác thì hành vi này cần bị trừng trị nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục họ không phạm tội mới, ngăn...

HÌNH PHẠT TỬ HÌNH QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ

 

 

Quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm. Trong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 quy định: “Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân”. Vì vậy, khi một người có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân của người khác thì hành vi này cần bị trừng trị nghiêm khắc nhằm cải tạo giáo dục họ không phạm tội mới, ngăn ngừa những người khác thực hiện tội phạm này. Biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, áp dụng để trừng phạt những hành vi này là áp dụng hình phạt tử hình. Tuy nhiên, việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội dù đặc biệt nghiêm trọng cũng xâm phạm đến quyền sống của con người. Do đó, xu thế chung của thế giới hiện nay là giảm dần, tiến tới xóa bỏ, Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó. Nhận thức được vấn đề này, Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã tái khẳng định Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp” về án tử hình: “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”.

 

1. Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ trước năm 1945

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam từ thời Hùng Vương đến nhà nước Âu Lạc

 

hinh phat tu hinh viet namThời kỳ này bắt đầu từ khi hình thành nhà nước đầu tiên – Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng và kết thúc bằng cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tần. Trong quyển 54 của bộ Hậu Hán Thư của Trung Quốc được biên soạn vào thế kỷ thứ V sau công nguyên (s. CN) Có đề cập đến pháp luật của thời kỳ này như sau: “Có điều trần tấu về luật của người Việt, so sánh với luật Hán hơn 10 điều. Rồi ban bố phép cũ cho người Việt biết để bó buộc dân Việt. Từ đó về sau, dân Lạc Việt phải tuân theo phép cũ của Mã Viện"[1]

 

Ngoài tài liệu trên thì không có thông tin nào khác để làm sáng tỏ 10 điều khác nhau giữa Việt luật và Hán luật.

 

* Hình phạt tử hình thời kỳ Bắc thuộc

 

Thời kỳ này bắt đầu từ thế kỷ thứ II tr. CN (khi Triệu Đà xâm lược nước ta) Đến thế kỷ thứ X s. CN (khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, năm 938. Đây là thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc ta.

 

Trong giai đoạn này, pháp luật của nhà nước Trung Quốc phong kiến được áp dụng tại Việt Nam, trong đó có hai bộ luật chủ yếu là Bộ luật nhà Hán và Bộ luật nhà Đường. Mặc dù không có nhiều tài liệu để nghiên cứu về luật hình sự Việt Nam thời kỳ này, nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng hệ thống hình phạt “ngũ hình” của luật hình sự Trung Quốc cổ đại đã được áp dụng ở Việt Nam, trong đó có hình phạt tử hình.

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ nhà Ngô, nhà Đinh và nhà Tiền Lê (939 – 1010)

 

Thời kỳ này bắt đầu từ năm 939, sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước, xưng vương đến năm 1010 – khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế.

 

Thời kỳ này nước ta mới thoát khỏi sự đô hộ của Trung Quốc, cho nên Bộ luật nhà Đường vẫn tạm thời được áp dụng. [2] Đây là thời kỳ đầu của nền quân chủ phong kiến tự chủ. Để bảo vệ nền thống trị mới được thành lập, để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đã “đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. [3] Hình phạt đó vẫn được vua Lê Đại Hành duy trì. Đến thời vua Lê Long Đĩnh, với bản chất bạo ngược, tàn ác, lấy việc giết người làm thú tiêu khiển, hình phạt tử hình được áp dụng tùy tiện, phổ biến và hết sức man rợ: “vua tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh quấn vào người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết hoặc sai người lấy dao ngắn, dao cùn xéo từng mảnh, để cho không được chết chóng, …

 

Pháp luật thời kỳ này là chính sách “bàn tay sắt” của một quân vương độc tài vừa dẹp xong nội loạn, muốn thị uy để củng cố quyền lực, và đây là những biện pháp cá biệt, nhất thời, không phản ánh hoàn toàn nền hình luật.

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ nhà Lý (1010 – 1225)

 

Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, lập nên triều đại nhà Lý. Thời kỳ này, quyền thống trị của giai cấp phong kiến đã được thiết lập, nhưng do quan lại còn giữ cách làm tùy tiện cũ nên tình trạng xét xử oan sai ngày càng nhiều.

 

Năm 1042 – đời vua Lý Thái Tông – đã lập ra “Hình thư” đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Hiện nay, bộ luật này không còn vì khi nhà Minh đô hộ nước ta (1407 – 1427) Đã thu nhiều sách quý, trong đó có bộ Hình thư đem về Trung Quốc tiêu hủy. Tuy nhiên, qua một số chiếu chỉ do các vua Lý ban hành vào thời kỳ này về hình phạt tử hình: Cấm bọn hoạn quan tự tiện vào trong cung ai phạm thì bị tội chết, nếu canh giữ mà để người khác vào trong cung cũng bị tội chết, … cách thức thi hành hình phạt tử hình cũng tàn khốc: Người phạm tội bị cắt thịt, róc xương ở chợ, bị đóng vào một tấm ván đưa đi bêu chợ, sau đó mới đem đi tùng xẻo hoặc bị chặt hết chân tay, …[4]

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ nhà Trần (1225 - 1400)

 

Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng – vị vua Bà duy nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam – nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, khởi nghiệp triều đại nhà Trần. Năm 1400, Hồ Quý Ly chiếm vị, vương nghiệp nhà Trần chấm dứt.

 

Trong thời kỳ này, có hai bộ hình luật được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông (bộ Quốc triều thống chế) Và vua Trần Dụ Tông (bộ Hình thư). Hai bộ luật này cũng bị quân Minh mang về Trung Quốc tiêu hủy. Tuy nhiên, qua các chiếu do các vua Trần ban hành thì trong số các tội thập ác, hình luật triều Trần quy định tội mưu phản phải chịu hình phạt nặng nhất là bị giết hết thân tộc. Đối với hành vi trộm cắp hoặc nô tì trốn đi bị bắt lại thì bị chặt hết ngón chân tay và giao lại cho chủ cũ hoặc cho voi dày chết.

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ nhà Hồ (1400 – 1407))

 

Cuối thế kỷ XIV, vương triều nhà Trần mục nát, Hồ Quý Ly là người có uy thế lớn trong triều đình đã chiếm đoạt ngôi vua của nhà Trần vào năm 1400, lập nên nhà nước Đại Ngu.

 

Để khôi phục kỷ cương và củng cố uy quyền, nhà Hồ quy định: Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất, tài sản bị tịch thu; Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả; Dân chúng ai lấy trộm măng (tre gai vây quanh làm tòa thành lớn bọc phía ngoài thành) Thì bị xử tử.

 

Năm 1399, Trần Khát Chân mưu giết Quý Ly không thành, tất cả 370 người thân thích đều bị giết, tịch thu gia sản, con gái bắt làm nô tì, con trai từ một tuổi trở lên hoặc bị chôn sống hoặc bị dìm nước chết. [5]

 

Mặc dù chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nhưng nhà Hồ đã thi hành chính sách hình sự vô cùng khắc nghiệt, hình phạt tử hình được áp dụng tràn lan, làm cho lòng dân oán hận.

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ nhà Lê (1428 - 1788)

 

Triều đại nhà Lê trị vì đất nước ta 360 năm, bắt đầu từ khi Lê Lợi đánh bại quân Minh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Lê Thái Tổ (1428) Đến khi Lê Chiêu Thống bị nghĩa quân Tây Sơn đánh đuổi, chạy sang Trung Quốc cầu cứu (1788).

 

Bộ luật quan trọng nhất của nhà Lê là “Quốc triều hình luật được biên soạn và ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức còn gọi là Bộ luật Hồng Đức.

 

Bộ luật Hồng Đức đặt ra chế độ ngũ hình là xuy (đòn roi), trượng (đòn gậy), đồ (bắt làm việc nặng nhọc), lưu (đày đi nơi xa), tử (chết). Trong đó hình phạt tử hình được chia làm ba loại từ nhẹ đến nặng là: Giảo (thắt cổ), hay trảm (chém đầu); Trảm khiêu (chém bêu đầu) Và lăng trì (tùng xẻo).

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ nhà Nguyễn (1802 - 1883)

 

Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1802, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long và kết thúc vào năm 1883, khi nhà Nguyễn ký “Hiệp ước Hòa bình” với thực dân Pháp, thừa nhận Pháp đặt quyền thống trị trên toàn bộ đất nước Việt Nam, đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều Nguyễn.

 

Năm 1812, Bộ “Hoàng Việt luật lệ” còn gọi là Bộ luật Gia Long vẫn quy định hình phạt “ngũ hình” (xuy, trượng, đồ, lưu, tử), vẫn giữ ba hình thức tử hình là chém hay thắt cổ, chém bêu đầu và lăng trì.

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự thời kỳ Thuộc địa (1883 - 1945)

 

Ngày 01.9.1858, Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu thời kỳ chiếm đóng Việt Nam. Sau đó, thực dân Pháp nhanh chóng chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và ba tỉnh miền Tây Nam kỳ, đánh ra đất Bắc, đã mở đầu cho thời kỳ thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị lên đất nước ta.

 

Trong giai đoạn này, thực dân Pháp thực hiện chính sách “chia để trị”, chia đất nước ta ra làm ba kỳ với ba chế độ chính trị và pháp luật khác nhau:

 

- Nam kỳ là đất thuộc địa, áp dụng pháp luật hình sự của Pháp (Hình luật Canh Cải) Chém đầu đối với tất cả các hành vi chống lại thực dân Pháp, trừ một số trường hợp khác áp dụng Bộ luật Gia Long.

 

- Bắc kỳ là đất “nửa thuộc địa”, pháp luật áp dụng là Luật hình An Nam vẫn chém đầu đối với tất cả các hành vi chống lại thực dân Pháp; Mọi sự biểu lộ ý định lôi kéo nhân dân hay xâm phạm tính mạng nhà vua đều bị xử tử.

 

- Trung kỳ pháp luật áp dụng là Bộ Hoàng Việt hình luật: Tử hình được quy định trong hệ thống hình phạt chính, áp dụng với các tội đại hình.

 

2. Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ từ năm 1945 đến nay

 

* Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam thời kỳ (1945 - 1985)

 

Sau ngày 02.9.1945, chúng ta bắt đầu chín năm kháng chiến chống Pháp, 30 kháng chiến chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam … đến năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới được ra đời.

 

Trong giai đoạn này, nhà nước ta ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự như sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh, thông tư … hình phạt tử hình chủ yếu được áp dụng đối với Việt gian, địa chủ chống chính sách cải cách ruộng đất, các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

 

* Hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985

 

Ngày 27.6.1985, Quốc hội nước Việt Nam đã thông qua Bộ luật hình sự đầu tiên của nhà nước ta (gọi tắt là Bộ luật hình sự 1985), có hiệu lực kể từ ngày 01.01.1986 và hết hiệu lực lúc 00 giờ ngày 01.7.2000.

 

Trong Bộ luật này, hình phạt tử hình được quy định:

 

- Tử hình là hình phạt đặc biệt được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử. Tử hình được hoãn thi hành đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 12 tháng;

 

- Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm thì tử hình chuyển thành tù chung thân.

 

- Chỉ trong trường hợp đặc biệt có luật quy định riêng thì tử hình mới được thi hành ngay sau khi xét xử.

 

Trong phần các tội phạm, hình phạt tử hình quy định đối với hành vi phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của xã hội như: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia (14 điều luật quy định hình phạt tử hình), các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa (6 điều), các tội phạm về ma túy (7 điều), các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (4 điều), các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (4 điều), …

 

Trong 15 năm có hiệu lực thi hành, Bộ luật hình sự 1985 đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989,1991,1992,1997. Qua mỗi lần sửa đổi, bổ sung này một số hành vi phạm tội mới được quy định trong đó có hình phạt tử hình; Một số tội phạm cũ được nhà làm luật nâng mức cao nhất lên thành hình phạt tử hình.

 

* Hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

 

Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 liên quan đến hình phạt tử hình:

 

- Tử hình là hình phạt đặc biệt, chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Không áp dụng tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử;

 

- Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

 

- Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân.

 

Sau 10 năm ban hành và áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009, đã bỏ hình phạt tử hình trong tám điều luật liên quan đến các tội: Tội hiếp dâm; Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội buôn lậu; Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả; Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thủy; Tội đưa hối lộ; Tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.

 

Tóm lại, nghiên cứu hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, chúng ta thấy được sự phát triển của luật hình sự về những quy định liên quan đến hình phạt tử hình từ thời Văn Lang – Âu Lạc, trải qua ngàn năm Bắc thuộc, đến các triều đại Đinh, Lý, Trần … cho đến luật hình sự thời hiện đại. Chúng ta thấy rằng, khi đất nước thanh bình, hưng thịnh thì các chế tài hình sự khoan dung, nhân đạo, phạm vi áp dụng thu hẹp; Khi vận nước lâm nguy, tình hình chính trị bất ổn hoặc các triều đại suy vong thì chế tài hình sự hà khắc, hình phạt tử hình được áp dụng rộng rãi.

 

Tài liệu tham khảo:

 

1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1995), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội.

2. GS. TS. Nguyễn Quang Quýnh (1994) Hình luật tổng quát, Lửa Thiêng, Hà Nội.

3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (2004), Đại Việt sử ký Toàn thư, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. TS. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Bộ luật hình sự 1985 (sửa đổi, bổ sung các năm 1989,1991,1992,1997).

6. Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

 

 

 

 

 

[1] TS.Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị  quốc gia, tr.8.

[2] GS.TS. Nguyễn Quang Quýnh, Hình luật tổng quát, Lửa Thiêng,  tr.41.

[3] Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1995), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh Niên, tr.61.

[4] TS. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị  quốc gia, tr.16.

[5] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ, Lê Hy (2004), Đại Việt sử ký Toàn thư, Tập II, NXB Khoa học Xã hội, tr.209-210.

 

Keywords:cac hinh thuc phat tu,nghien cuu ve luat hinh su thoi phong kien,toi tu hinh o viet nam

 

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận về: hình phạt tử hình qua các thời kỳ lịch sử
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

hình phạt tử hình qua các thời kỳ lịch sử

hình phạt tử hình qua các thời kỳ lịch sử

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 354
Hôm nay:17196
Hôm qua: 71770
Trong tháng 1218116
Tháng trước2025149
Số lượt truy cập: 86263429