Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS
09.63.68.69.68
My status
Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm
09.63.63.63.15

Từ ngày : Đến ngày :
Chia sẻ share kinh ánh sáng ánh sáng vi tế và cao tầng ánh sáng lên facebook cho bạn bè cùng đọc!
Post to MySpace! MySpace

kinh ánh sáng ánh sáng vi tế và cao tầng ánh sáng


Lượt xem: 976 Tin đăng ngày: 09/09/2017 Bởi:

Khởi đầu: Tâm nguyện Kinh Ánh Sáng Chân lý và mục đích cuộc sống là điều tất cả nhân loại tìm kiếm. Đó chính là hạnh phúc thật sự. Tất cả nhân loại sống đều mưu cầu hạnh phúc. Mỗi chúng sinh, mỗi người đều có những nhận định về hạnh phúc tương ứng với tầm hiểu biết người đó và cũng là phản ánh trí tuệ người đó trong một thời điểm. Người hạnh phúc là sức khỏe, người hạnh phúc là tình yêu, người...

KINH ÁNH SÁNG ÁNH SÁNG VI TẾ VÀ CAO TẦNG ÁNH SÁNG

 

 

Sư phụ Hồ Mạnh Trung

 

 “Ánh Sáng của chân lý Soi rọi mọi chúng sinh”

 

Kinh Ánh Sáng

 

Khởi đầu: Tâm nguyện Kinh Ánh Sáng Chân lý và mục đích cuộc sống là điều tất cả nhân loại tìm kiếm. Đó chính là hạnh phúc thật sự. Tất cả nhân loại sống đều mưu cầu hạnh phúc. Mỗi chúng sinh, mỗi người đều có những nhận định về hạnh phúc tương ứng với tầm hiểu biết người đó và cũng là phản ánh trí tuệ người đó trong một thời điểm. Người hạnh phúc là sức khỏe, người hạnh kinh anh sangphúc là tình yêu, người hạnh phúc là của cải, người là địa vị quyền lực. Nhưng mỗi khi một con người đó đạt được hạnh phúc trong tâm trí của họ tương ứng với trí tuệ tại thời điểm đó, họ vẫn thấy rằng đây chưa phải là hạnh phúc đầy đủ. Thậm chí là ngược lại, cánh cửa hạnh phúc đó mở ra thêm những cánh cửa bất hạnh khác. Chư vị đang có một công việc tốt, người vợ chồng con cái như ý, cả quyền lực và tài sản. Những người khác vẫn phải tranh đấu để được như chư vị nhưng họ vẫn chưa đạt được. Vậy có phải là chư vị đã tìm được hạnh phúc và chân lý. Vào tại lúc chư vị đạt được mục tiêu hạnh phúc đó, chư vị lại thấy có các mục tiêu hạnh phúc khác cao hơn nữa và chư vị lại phải tiếp tục đấu tranh để đạt được mục tiêu đó. Nhưng cuộc sống luôn có nhiều điều bất trắc như bệnh tật, chiến tranh, tuổi già. Những điều mà chư vị coi là rất vất vả để có được trước kia nay chư vị phải buông bỏ lại hết khi đối mặt với những bất trắc này. Tất cả không mang theo được bên kia cánh cửa tử, chư vị sẽ đau khổ hay nuối tiếc.

 

Vậy đau khổ, nuối tiếc được coi là khởi nguồn của một đau khổ mới. Đó chính là bản chất thật của cuộc sống này, có rất nhiều điều là hư ảo, một cánh cửa hạnh phúc mở ra thêm nhiều cánh cửa hạnh phúc và bất hạnh riêng nó. Bản chất thật đã bị che dấu. Thời gian trôi qua mỗi ngày mỗi giờ, mỗi khoảnh khắc đó qua đi là nhân loại đều đi gần về với cái chết. Điều này có nhắc nhở chư vị điều gì. Chư vị sẽ sống có ích hơn, yêu thương hơn, hay hưởng thụ kẻo muộn. Nhưng thực tế tất cả những điều đi xa rời chân lý đều phải trả giá. Sinh hữu hạn, tử vô kỳ. Chư vị sống trong cuộc đời để lao động, làm việc có ích, dậy dỗ con cái thành người như là một sứ mệnh khi mang thân người. Nhưng hơn hết chư vị cần phải sống, tìm chân lý để hạnh phúc xuyên suốt cuộc đời chư vị mãi mãi, chính là sự giác ngộ, là điều chư vị luôn khao khát. Chư vị cùng sống trong một thế giới, cùng mang thân người, nhưng thực tế chư vị đang sống trong những tầng thứ thế giới tâm linh khác nhau. Tầng thứ tâm linh càng cao thì càng tiếp cận chân lý và hạnh phúc hơn. Chư vị ngay khi đang còn sống vẫn tồn tại ở hai thế giới là thế giới tâm linh và thế giới vật chất. Thế giới vật chất là thế giới này, trái đất này, địa cầu này, chư vị cảm nhận bằng 5 giác quan, thậm chí là 6 giác quan. Giác quan thứ 6 là giác quan trung gian có thể cảm nhận được cả hai thế giới vật chất và tâm linh. Với chủ yếu 5 giác quan, chư vị cảm nhận tương đối rõ nét về thế giới vật chất này là sách vở, nhà cửa, công thức, vũ trụ quan sát bằng kính viễn vọng. Thế giới vật chất này thật bao la với hàng vô số điều bí ẩn chưa thể khám phá được. Khoa học chưa thể giải thích được nhiều những vấn đề bí ẩn từ vi mô đến vĩ mô, từ trái đất đến đến vũ trụ. Vũ trụ bao la huyền bí là điều quá khó để khoa học có thể nguyên cứu chuyên sâu. Song tồn tại một vũ trụ khác trong chính chư vị, gọi là thế giới tâm linh, là thế giới tâm hồn của chư vị. Thế giới tâm linh chư vị, cũng như một vũ trụ rộng lớn không thấy giới hạn như thế. Chư vị có rất ít công cụ để cảm nhận, chỉ có thể bằng linh cảm và suy nghĩ. Mỗi chư vị với những đặc điểm phúc đức, nhân duyên khác nhau mà mỗi chư vị ở một cảnh giới, một tầng trong thế giới tâm linh khác nhau. Tầng càng cao càng đến gần với chân lý, thì càng hạnh phúc và giải thoát. Thông thường chư vị ở tầng thứ thấp với các cảnh giới tối, với nghiệp quả và các nhục dục do sự đua tranh, nghiệp ác nhiều kiếp tích tụ lại. Tất cả tạo nên một trường khí mầu đen che lấp đi ánh sáng từ cõi giới cao, tạo nên cảnh giới tối mê mờ với những hư ảo như là chân lý giam hãm chư vị tại đây. Chư vị không thể biết đâu là chính mình, sẽ xuất hiện nhìêu ảo ảnh mang chính thân chư vị, làm chư vị lầm tưởng, để dẫn chư vị đi vào cảnh giới tối hơn. Đó chính là các nghiệp quả của chư vị, có nhân duyên với chư vị.

 

Thế giới vật chất song song với thế giới tâm linh và phản ánh qua lại với nhau. Trong thế giới tâm linh, chư vị ở cảnh giới thấp, đen tối với nghiệp quả như thế nào thì điều đó được phản ánh ngay lại thế giới vật chất với những đau khổ, nỗi dầy dò không thóat ra được như thế. Chư vị đa phần chìm đắm trong hư ảo thế giới tâm linh nên phản ánh lại thành một xã hội ở thế giới vật chất với những chân lý sai lạc, tạo nên những nỗi đau khổ. Những điều này lại phản ánh tiếp vào thế giới tâm linh khiến cảnh giới tối lại trở nên u ám hơn và tiếp tục chìm sâu hơn vào trong cảnh giới này. Điều này giống như là một mê cung vậy. Đó chính là lý do mà chư vị cần được giải thóat. Hạnh phúc đích thực trong cuộc sống tại thế giới vật chất và thế giới tâm linh phải bắt đầu bằng những tia sáng soi rọi đi những bóng tối trong thế giới tâm linh đó. Ánh sáng đó chính là ánh sáng giải thoát, ánh sáng vi tế. Kinh Ánh Sáng được phổ truyền để mang đến cho chư vị ánh sáng vi tế đó, nhằm thay đổi số phận chư vị đáng nhẽ rơi vào cảnh giới tối với vô vàn đau khổ vì các nghiệp ác quả báo. Thì nay, được tràn ngập ánh sáng nhân ái hạnh phúc. Kinh Ánh Sáng được phổ truyền thành hai phần. Phần một, Kinh Ánh Sáng độ cho người thường đạt được cuộc sống hạnh phúc tại thế giới vật chất với những mong cầu về hạnh phúc. Đó là bản thân vui vẻ, vợ chồng hạnh phúc, con cái phát triển ngoan ngoãn thành đạt, bệnh tật tiêu trừ, tai hạn bất ngờ được khắc chế. Phần này Kinh Ánh Sáng chỉ ra cội nguồn vấn đề để chư vị tự biết cách hóa giải mà đạt được hạnh phúc mình mong muốn.

 

Phần một dành cho các chư vị không mong muốn tu hành, chỉ muốn sống tốt đời trần tục tại thế giới vật chất. Phần hai, Kinh Ánh Sáng phổ truỳên dành cho người muốn tu hành đến cảnh giới người giác ngộ, vượt sinh tử luân hồi đạt hạnh phúc vĩnh cửu. Phần này Kinh Ánh Sáng phổ truỳên đến chư vị những điều cốt lõi nhất trong tu hành, là những cõi mê nhất để chư vị có thể vượt qua. Và dù ở phần nào thì Kinh Ánh Sáng cũng được chứng thực và cảm nhận ngay trong cuộc sống.

 

Phần một. Dành cho người thường muốn giác ngộ đạt hạnh phúc trong cuộc đời

 

Mục đích chính phần này sẽ giúp chư vị đạt được những ước nguyện hạnh phúc người thường của chư vị trong cuộc đời này. Đó là gia tăng sức khỏe, giảm trừ đi các bệnh tật, cuộc sống thanh thản, tiêu trừ các tai nạn đến bất ngờ, hóa giải các mâu thuẫn gia đình và xã hội, tiền đề sự hạnh phúc, thành đạt. Kinh phổ truyền tránh rườm rà để chư vị khỏi đi lạc đường mà tập trung hẳn vào các phần cốt lõi với các pháp lý. Chư vị là người thường không tu hành thì đọc phần một, còn với những chư vị phát tâm tu hành thì đọc cả hai phần. Phần một này và các ý nghĩa đã được nói như trên. Vậy làm sao để đạt những hạnh phúc này của người thường. Chư vị cần phải hiểu rằng, tất cả những chuyện xấu mà chư vị không muốn điều đó xẩy đến, hay đến mà được giảm trừ hóa giải đi được. Chính là, điều đó được đến như là số phận của chư vị, nghiệp xấu đó đã được chư vị chọn khi chư vị khởi lên một hay nhiều nhân xấu để có được một mục đích nào đó. Chư vị muốn hóa giải điều này, giống như là thay đổi càn khôn, tức là xoay chuyển số phận của chư vị. Chư vị phải tác động vào nhân quả để hóa giải những nghiệp quả này. Các tôn giáo, đạo pháp nói phải làm phúc, rồi các giới luật, sám hối để chư vị có thể giảm đi nghiệp quả của mình. Đó là hàm ý của tôn giáo, một người phát tâm tu hành là đã được thay đổi số phận của mình, đạo pháp chân chính là như vậy. Điều đó là rất đúng, nhưng nghiệp quả chư vị kết lại từ nhân xấu nhiều đời và trong kiếp này thế nên vẫn chưa đủ để chư vị hóa giải các nghiệp quả xấu đó của chư vị. Nhưng chư vị vẫn phải tích cực làm những điều nêu trên từ tâm chân thành của chư vị. Kinh Ánh Sáng phổ truyền đến chư vị một bí mật cốt lõi là con đường tác động của nhân quả. Nhân xấu chư vị đã chọn để chiếm một tiện nghi nào đó và nghiệp lực đã hình thành quả. Vậy nghiệp quả này sẽ tác động vào chư vị một cách đi từ thế giới tâm linh rồi phản ánh đến thế giới vật chất. Chi tiết tác động đến chư vị như thế nào chính là con đường của nhân quả sẽ phổ truyền kỹ cho chư vị. Chỉ có hiểu rõ được con đường đi của nhân quả này, chư vị mới hóa giải được triệt để các nghiệp quả xấu này. Và chư vị sẽ đạt được hạnh phúc chư vị mong cầu trong cuộc sống. Tuy nhiên trước khi đến với điều cốt lõi này, dù chư vị không là người tu đạo, chư vị vẫn cần có những đặc tính ngộ đạo trước đã để hóa giải. Có thể coi tất cả những nỗi đau khổ chư vị đều bắt đầu từ gốc là đây. Gốc này chư vị hòan tòan có thể can thiệp vào được nếu chư vị có minh trí. Trước khi giải được nghiệp quả chư vị phải bắt đầu từ ngộ tính của chư vị và hiểu rõ bản chất một số việc.

 

Mâu thuẫn là sự khác biệt về quan niệm của mỗi tầng thứ trong tâm linh. Tầng thứ tâm linh của mỗi người phụ thuộc nhiều vào yếu tố riêng của mỗi người đó, phúc đức nhân quả nhiều kiếp. Ai ở tầng thứ cao hơn thì có chân lý khác hơn và đến gần với chân lý tối thượng hơn, hạnh phúc hơn. Điều này được phản ánh là trí tuệ hai người, hay nhóm người có sự nhìn nhận về sự việc khác nhau với cách đánh giá khác nhau. Khi chưa tiếp cận được chân lý thật sự thì cả hai đều là sai, vì vậy vị tha là yếu tố căn bản để đạt tầng thứ cao hơn, đến gần hạnh phúc hơn. Vị tha là yêu tố chư vị cần nhớ.

 

Thanh thản là yếu tố ngộ tính như đã nói lúc đầu, một cánh cửa hạnh phúc là có thể mở ra nhiều cánh cửa có thể bất hạnh, có thể hạnh phúc khác. Điều này tùy thuộc cách chư vị mở cánh cửa đó. Điều đó theo chư vị là hạnh phúc, chư vị có thể cố gắng để đạt được hạnh phúc đó nhưng phải là trong thanh thản thì hạnh phúc đó sẽ là lớn nhất. Nếu không đạt được hạnh phúc đó chư vị vẫn phải thanh thản. Hạnh phúc đi kèm với nhân quả chư vị, khi chư vị cố gắng lấy hạnh phúc, tức là nhân quả chưa đủ duyên với mình, chư vị lập tức rơi vào ma tâm, nghiệp quả xấu khởi tác dụng ngay tức thì. Vậy thanh thản là yếu tố tiếp theo chư vị cần phải nhớ. Chư vị phải trả vô số nhân xấu đã kết thành nghiệp quả. Khi gặp những chuyện làm tâm can chư vị lay động, tức giận hay phát sinh ra nhiều cảm xúc, cảm giác như bị thiệt hại điều gì đó. Sự thật ở đây là chư vị đang đứng trước thử thách của sự trả nghiệp. Nếu chư vị có thể phát tâm từ bi, vị tha, và các chủng loại đạo đức, chư vị sẽ hóa giải được nghiệp quả này. Còn không chư vị sẽ phải trả hoàn toàn nghiệp này. Đó là hình thức biến đổi của ma nạn khi một nghiệp quả bắt đầu khởi tác dụng, hoàn toàn có thể làm thay đổi cuộc đời chư vị đi sang hướng khác, vào những đau khổ. Vì thế trước khi đứng trước các mâu thuẫn chư vị cần cân nhắc. Lúc này, thật sự, sự thiệt thòi của chư vị thật sự không đáng gì, chư vị hoàn toàn có thể vị tha để hóa giải đi những điều xấu sắp đến. Các nghiệp quả giải trừ dần, chư vị sẽ tự nhận thấy cơ thể mình nhẹ nhõm, các bệnh tật như tiêu trừ đi. Nếu không thì chư vị sẽ nghiệp cuộn lấy nghiệp, sự thỏa mãn là một phút chốc nhưng chư vị đã rơi vào cõi cảnh giới đen tối hơn, tuyệt vọng hơn.

 

Con đường tác động của nghiệp quả đến thế giới vật chất: Thế giới tâm linh của chư vị rộng lớn như một vũ trụ với nhiều tầng thứ. Đây thật sự là một thế giới tâm linh phức tạp mà chư vị hiểu đơn giản là tâm hồn mỗi người. Trong thế giới tâm linh này, có rất nhiều thể sinh mệnh, nghiệp quả có linh tính tức là trí tuệ có nhân duyên với chư vị. Chư vị ở một tầng thứ tâm linh nào đó và đưa chư vị càng lên tầng thứ tâm linh cao đến gần chân lý chính là con đường giác ngộ, con đường tu hành. Bộ não chư vị chính là phương tiện phản ánh vào nhau của hai thế giới tâm linh và thế giới vật chất này. Các suy nghĩ là tín hiệu câu thông giữa hai thế giới. Bộ não chư vị là phương tiện giao tiếp chung của tất cả sinh mệnh có linh tính tại thế giới tâm linh đó. Đây là cách mà nghiệp quả có linh tính, có nhân duyên với chư vị tác động đến chư vị, ép chư vị rơi vào nỗi đau khổ của cả hai thế giới. Các nghiệp quả đưa ra các tín hiệu sai lệch gọi là suy nghĩ tạp để có thể tác động đến chư vị. Trong khi đó chư vị vẫn nhầm lẫn đó là các suy nghĩ của mình, và chư vị đau khổ bất hạnh là từ các tín hiệu tâm linh, suy nghĩ tạp này. Trong con đường tu hành, chư vị có đắc đạo giải thoát hay không đây cũng là một cửa ải.

 

Điều đó lý giải vì sao chư vị rơi vào trạng thái không muốn nghĩ, nhưng vẫn cứ nghĩ trong vô thức. Mà các suy nghĩ này đều hướng đến điều xấu, những suy nghĩ quanh quẩn, thậm chí những suy nghĩ vui vẻ hưng phấn cũng dần chuyển thành suy nghĩ xấu một cách từ từ và tinh vi. Các nghiệp quả có linh tinh phát ra các tín hiệu, suy nghĩ tạp để điều khiển chư vị rơi vào những nỗi đau khổ để trả nghiệp. Điều này càng được thể hiện rõ nhất khi chư vị dùng bia rượu, những chất kích thích này khiến chư vị không kiểm soát bộ não mình một cách có ý thức nữa và các nghiệp quả này sẽ kiểm soát, để đưa chư vị vào cõi tâm linh tối. Hay chư vị bị kích động mạnh cũng vậy, các thế lực tâm linh cõi giới tối luôn chờ đợi để điều khiển chư vị, đưa chư vị vào những cõi giới tối tăm, muốn chư vị phạm những điều ác nhất, đầy đọa được chư vị để trả các nghiệp xấu. Mỗi chư vị ở những tầng thứ tâm linh khác nhau, có những đặc tính phúc phận khác nhau nên các chư vị sẽ chịu ảnh hưởng của nghiệp quả khác nhau. Nghiệp quả cũng có linh tính và biết cách bảo vệ mình, thế nên đọc nhiều các đạo lý các chư vị sẽ có những lý luận riêng tự nhiên xuất hiện để phủ nhận các đạo lý chư vị đọc như một cách bảo vệ các thế lực ở thế giới tâm linh, cảnh giới tối. Trong thế giới vật chất, cơ thể vật chất của chư vị có phát sinh những bệnh hiểm nghèo khiến cơ thể chư vị đau đớn, có thể rơi vào trạng thái phân rã như các khối u. Thì ở thế giới tâm linh chư vị cũng có những biến đổi tương tự như bệnh tật ở thế giới vật chất, giống như các khối u nên được goi là u tâm linh. Các khối u này cũng có thể lây lan vào thế giới tâm linh của chư vị khác như bệnh tật bình thường. Khối u đó tồn tại trong thế giới tâm linh, một khối hay rất nhiều khối. Những điều này chư vị có thể hiểu đơn giản là những ám ảnh, nhưng thật sự bản chất của nó cũng rất phức tạp và tinh tế. Tất cả những vấn đề này chư vị gặp rất thường xuyên trong cuộc sống vì đấy là cội nguồn của những đau khổ chư vị, để chư vị phải trả nghiệp. Thế nên chư vị đều có những định nghĩa mơ hồ nhưng không hiểu bản chất thật sự của nó. Tác hại của u tâm linh thì rất khủng khiếp, từ u tâm linh trong thế giới vô hình sẽ có thể phát tác thành các bệnh thật sự tại thế giới vật chất, dầy vò trong cả thế giới vô hình, những tai nạn trên đường, những mâu thuẫn bất hòa, gia đình tan vỡ, kể cả những vụ án mạng đều có nguồn cội từ những cảnh giới tâm linh tối này. Hai thế giới tâm linh và thế giới vật chất liên tục phản ánh qua lại với nhau và liên thông với nhau. Các linh thể trong thế giới tâm linh chư vị phát các tín hiệu suy nghĩ mạnh, nhưng ở thế giới tâm linh là những đường sâu đậm và tồn tại ở đó. Tại thế giới vật chất, chư vị phát sinh một nhân xấu, các linh thể này hình thành và phát ra các đường sâu đậm đó.

 

Đó được coi là những suy nghĩ mà chư vị không thể thoát ra được, các suy nghĩ tạp này. Và các linh thể tại cõi giới tối, chính là những nghiệp quả này liên tục phát ra thêm các đường sâu đậm khác và bện lại thành một hình khối. Chư vị có thể cảm nhận rằng đó là những suy nghĩ dồn đến liên tục hay từ từ một cách khéo léo. Các điều này được diễn ra một cách rất tinh tế đánh lừa chư vị, nhưng chư vị luôn nghĩ đó là mình nghĩ, bản thể thật mình đang nghĩ. Và khối u này hình thành với năng lực tâm linh rất mạnh để kiểm soát bộ não chư vị, thay đổi số phận chư vị vào cõi giới tối, dập tắt các minh trí le lói của chư vị, thay vào đó là những u ám, đau khổ, không lối thoát, bất hạnh, tự thấy bất công. Điều này được coi như các ám ảnh không thoát ra được. Nhưng đây là bản chất của u tâm linh còn thực tế sự biến thiên của u tâm linh được coi là rất tinh tế và phức tạp. Khi một khối u quá mạnh hay hình thành nhiều khối u, các khối u sẽ liên tục phát ra các tín hiệu mạnh, khiến chư vị mất hẳn quyền kiểm soát với bộ não của mình gọi là điên, trầm cảm, stress hay tâm thần…Nếu khối u nắm quyền kiểm soát trong ngắn hạn chư vị sẽ tự sát hay gây ra các vụ án, thậm chí giết người phạm các tội ác như bản chất tối của thế lực cõi giới tối này. Nếu khối u tồn tại song hành với cuộc đời chư vị, khối u ẩn đi nhưng vẫn luôn ở đó, thì chư vị sẽ dần đi vào đường tà một cách từ từ, tâm luôn khởi lên các suy nghĩ dục vọng, tự thuyết phục bản thân đi vào các con đường tà, các hận thù. Số phận chư vị sẽ biến đổi theo những hướng xấu mà có thể chư vị sẽ không bao giờ ngờ đến, gẫy khúc như rơi hẳn từ trên bầu trời cao xuống vực thẳm. Rất nhiều trong số các chư vị, cuộc đời đã chìm hẳn vào cõi giới tối hay đang sống trong những đau khổ không thoát ra được vì không biết những pháp lý này. Đây cũng chính là con đường nghiệp quả ở cõi giới tâm linh tác động đến thân thể chư vị ở thế giới vật chất. Đây cũng chính là những pháp lý phổ truyền trong con đường tu hành đạo Ánh Sáng. Tuy nhiên chư vị vẫn có thể hiểu được dù không tu hành và có thể hóa giải được.

 

Các cách hóa giải cũng được phổ truyền, là bản chất mâu thuẫn, vị tha và thanh thản. Là những thủ pháp cũng mang tính chất buông bỏ của tu hành và bù phúc bản thân, sự vị tha để hóa giải đi những nhân quả xấu đã có hay sắp khởi tác dụng. Chư vị phải lắng nghe những điều thiện trong mình khi thanh thản. Chư vị phải gạt bỏ đi và đề phòng những suy nghĩ xấu, những suy nghĩ dục vọng khi kích động. Đó là những tín hiệu đến từ các cảnh giới tâm linh tối. Hiểu và hóa giải được những điều này chư vị đã đạt được những mong muốn về hạnh phúc của người thường nơi chư vị, vì đây là nguồn gốc của hầu hết những bất hạnh. Từ đó chư vị cũng tự đề cao được cảnh giới tâm linh của mình, chư vị dù không tu hành cũng không e ngại cuộc sống sau cái chết nữa. Tâm thiện của chư vị sẽ đưa chư vị đến những điều tốt đẹp, chư vị sẽ trở nên hòa nhã hơn cũng là một phần của ngộ tính. Sớm mai thức dậy trước ánh sáng của ngày mới, ánh sáng ấm áp dịu dàng, lòng chư vị không chút âu lo trong thanh thản và trí tuệ.

 

Phần 2. Dành cho người muốn tu thành người giác ngộ

 

Ngộ: Ngộ ở đây là giác ngộ trước chân lý. Đó là cảm giác hạnh phúc chân chính tồn tại mãi mãi khác xa với hạnh phúc hư ảo dễ tan biến trong các cõi mê hư ảo. Càng đến gần với chân lý thì hạnh phúc cảm nhận được càng tinh khiết ấm áp. Ngộ là hạnh phúc tột cùng, hạnh phúc tối đa con người có thể tu thành trong việc tiếp cận chân lý. Ngộ là quá trình dứt bỏ những điều không cần thiết để đạt được hạnh phúc. Qúa trình buông bỏ đó được chư vị tiến hành một cách tự nhiên như chính con người chư vị tiến bộ dần qua việc ngộ các đạo lý như được ánh sáng soi rọi con đường để đi. Vì thế người tu đạo cảm thấy một cảm giác hạnh phúc xuyên xuốt quá trình tu hành. Nhiều con đường tu hành có đề ra các giới luật, nhưng đó là tiêu chuẩn cao của người giác ngộ. Vậy nên khi phổ độ cho con người trên diện rộng, đa phần các học viên không đạt tiêu chuẩn giới luật ấy ngay được nên phải gò ép bản thân. Điều cứng nhắc này khiến một phần lớn hoang mang tu khó thành.

 

Gỉa dụ như hai người cùng làm việc, một người yêu thích mà làm công việc đó, một người gò ép bản thân để làm một việc gì đó. Kết quả thành quả hai người đó đạt được là như nhau nhưng con đường đi và kết quả tinh thần lại khác nhau hoàn toàn. Một người luôn cảm thấy hạnh phúc xuyên suốt quá trình làm việc và coi công việc là niềm vui, thậm chí thanh thản khi làm việc. Một người coi xong việc là được trút gánh nặng và hạnh phúc khi được nghỉ xả hơi. Vậy hai người này chênh lệch ở sự giác ngộ cốt lõi. Do vậy tu đạo là quá trình buông bỏ tự nhiên để dần tiếp cận đến chân lý. Chư vị vẫn sống như người bình thường, và dần tự đề cao tâm tính mình lên, mỗi lần buông bỏ được một yếu tố xấu trong chính mình, chư vị sẽ cảm thấy được cốt lõi vì sao mình nên bỏ yếu tố đó và thấy hạnh phúc khi buông bỏ nó. Và như thế, dần dần tu hành đến cảnh giới người giác ngộ mà cuộc sống không có sự biến động, không có sự gò ép. Sự thay đổi dần dần khiến chư vị ngày càng sống cuộc đời tốt hơn, đạo đức hơn, thẩm thấu tự nhiên hàng ngày. Chư vị không phải thông qua những lý thuyết lý luận rất dài, nhiều lý luận khó nhớ. Mà khi chư vị nổi lên các ham muốn chư vị không thể nhớ ra các lý luận dài như vậy, các giới luật cũng khó nhớ như vậy. Hay nhớ ra mà không kiềm chế được vì thiếu mất sự giác ngộ cốt lõi. Tu hành là tu như chính cuộc sống bình thường của chư vị thôi.

 

Vì sao cần ngộ và tu thành người giác ngộ: Bởi vì chư vị [con người] luôn tồn tại ngộ tính và ai cũng mong muốn, vô thức mong muốn được giải thoát tu thành người giác ngộ. Và bất cứ ai trong chư vị đều có thể tu thành người giác ngộ. Để đạt được sự hạnh phúc vĩnh cửu trong ánh sáng từ bi ấm áp trong khi sống và sau khi chết, chứ không còn đau khổ ở thế giới tâm linh. Khao khát tìm kiếm chân lý giải thoát là mong muốn của cả nhân loại, kể cả người nghiệp ác nhất, vấn đề chỉ là thời gian họ nhận ra và khởi nguyện tâm nguyện đó. Mỗi ngày mỗi giờ chúng ta sống đua tranh, dù thành bại được mất, thời gian cũng có tính chất vô thường. 10 năm hay 20 năm dường như chỉ cách nhau một cái nháy mắt trong kỷ niệm của chư vị với những sự kiện. Đua tranh được mất, quyền lực tiền bạc, tranh giành nhưng mỗi giây phút trôi đi, chư vị và tất cả nhân loại đều đang tiến về cái chết. Nơi chỉ còn sự phán xét: Đau khổ - hay – Giác ngộ. Nơi chư vị phải bỏ lại tất cả phía sau và tay trắng đi về sự phán xét. Đã đôi lần chư vị hoảng loạn, rơi nước mắt, tỏ lòng thương cảm trước những tai họa cuộc sống, tai nạn chết bi thương, tranh giành cướp giật hại chết nhau, chìm trong nhục dục và kết quả là bệnh tật. Đôi khi chư vị rợn người khi đọc lại tư liệu của các cuộc chiến tranh. Ánh sáng lương tri giác ngộ, hối thúc chư vị khi nhìn thấy các mảnh đời bất hạnh. Và chư vị mệt mỏi muốn thoát ra chính những đua tranh với vô vàn âm mưu mà có khi chính chư vị là người thắng cuộc. Ánh sáng đó lóe lên nhưng chư vị, chưa có câu trả lời nên đành gác lại, tạm thời quên lãng để tiếp tục đua tranh trong sinh tồn và vật chất. Thật may thay, giây phút này chư vị vẫn còn sống để có thể đi tìm chân lý đích thực. Đó chính là mục đích để chư vị sống. Là chư vị phải tìm thấy chân lý để hạnh phúc, chư vị phải được giải thoát, che chở. Chư vị phải tu hành thành người giác ngộ. Đó không phải là điều gì quá xa vời mà chính là chư vị tu hành để đạt được hạnh phúc lớn lao nhất, chân thực nhất, ngay khi chư vị đang tồn tại và cả ở thế giới tâm linh, đưa chư vị lên tầng thứ cao trong ánh sáng chân lý.

 

Cầu nguyện có thể giải thoát?

 

Chư vị cầu nguyện các đấng giác ngộ che chở chư vị. Điều đó là rất tốt vì khi cầu nguyện, ánh sáng ngộ đạo soi rọi cõi giới tâm linh của chư vị. Đó là ánh sáng lương tri của chư vị. Nhưng nếu chỉ cầu nguyện thì ánh sáng đó không bền vững, sẽ lúc sáng lúc tăm tối, ngay khi tăm tối có thể chư vị đã rơi vào nghiệp ác. Chư vị vẫn chưa biết cốt lõi để tu hành, sự thật vẫn còn đó, các nghiệp ác vẫn theo đuổi chư vị. Các đấng giác ngộ có nghe chăng lời nguyện cầu của chư vị. Có thể có. Nhưng đó là nhân quả duyên nghiệp của chư vị. Liên quan đến đó là chúng sinh khác với nhân duyên có thể bị chư vị làm hại, họ không buông bỏ được. Đấng giác ngộ có thể giúp một người mà làm chúng sinh khác bất mãn không, chúng sinh này cũng chưa thể ngộ được, cũng chìm trong hư ảo như chư vị. Đó là nhân duyên của chư vị sao có thể xen vào. Vì thế để giải nghiệp quả, chư vị phải tu hành, lấy đức mình để hóa giải đi các nghiệp lực và giải thoát. Chư vị phải tự tu hành mà trở thành người giác ngộ, không thể quá dựa dẫm vào ai được. Thần thánh và đấng giác ngộ chính là từ người thường tu thành trong ngộ tính. Ánh sáng chân lý không phân biệt giai cấp, giới tính, tất cả đều bình đẳng trước chân lý. Chư vị hoàn toàn có thể tự làm chủ vận mệnh của chính mình.

 

Lý luận quá phức tạp có thể tu thành?

 

Kinh Ánh Sáng phổ truyền rằng, tu hành là việc siêu thường nhưng cũng rất giản dị. Tu hành chỉ tập trung thẳng vào những điều cốt lõi để tu hành và gạt bỏ đi những điều hư ảo trong thế giới tâm linh, thế giới vật chất cho quá trình giác ngộ này. Tập trung vào những lý luận quá dài mà xa rời cốt lõi thì chỉ là nạp thêm những điều hư ảo vào cõi giới mỗi chư vị, đó càng làm con đường tu hành chư vị thêm xa, thậm chí đi sai lệch. Tu hành đưa con người về thể tinh khiết, bỏ hết đi những sự ô trọc nặng nề, càng tinh khiết nhẹ nhàng, thể tâm linh chính mỗi con người càng thăng hoa lên các cảnh giới cao tầng, dần đạt đến cao tầng Ánh Sáng. Sự nhớ quá nhiều lý luận phức tạp xa rời chân lý, thì khi tu lên các cảnh giới cao lại thành những trở ngại khi tiếp cận với ánh sáng vi tế tại cao tầng. Lý luận dài dòng không đi vào cốt lõi cũng là một phạm trù phải buông bỏ.

 

Thủ pháp ánh sáng trong Kinh Ánh Sáng:

 

Là con đường tu hành theo phương pháp luyện ánh sáng tại cao tầng ánh sáng trong thế giới tâm linh. Ánh sáng trong khi luyện và khi luyện thành chính là bản thể của chư vị. Đươc gọi là ánh sáng vi tế. Ánh sáng vi tế chư vị tu hành chính là phần ánh sáng trong linh hồn mỗi chư vị, đó được coi là phần tốt đẹp nhất, tinh khiết và các nhân thiện phúc đức nhất của chư vị kết tinh lại thành ánh sáng lương tri của tâm hồn. Ánh sáng lương tri trong tâm hồn này của chư vị sẽ kết hợp với ánh sáng vi tế tại cao tầng ánh sáng, chính là ánh sáng giải thoát tạo nên một ánh sáng vi tế ấm áp từ bi soi sáng cảnh giới tâm linh tăm tối của chư vị. Quán liên tục để cơ thể chư vị tinh khiết, hóa giải liên tục các nghiệp quả xấu trong cõi giới tâm linh chư vị, chuyển hóa bóng tối thành ánh sáng để thể tâm linh chư vị dần thăng lên các tầng thứ cao trong tâm linh để tiếp cận với các cao tầng. Dần lên đến cao tầng ánh sáng, là tầng cao nhất trong tu hành và đạt quả vị người giác ngộ tại cao tầng ánh sáng. Trong quá trình tu hành, chư vị thấy được ngay ánh sáng vi tế trong cảnh giới tâm linh của mình, ánh sáng vi tế đươc coi như ánh sáng chân lý soi sáng chư vị, tâm hồn chư vị ngập tràn ánh sáng chân lý, chư vị nhìn vào ánh sáng thấy được những cảnh giới tăm tối của chính mình, thấy được những điều mình cần buông bỏ và chư vị buông bỏ một cách tự nhiên trong sự hiểu biết, giác ngộ.

 

Càng ngày chư vị càng trở nên tinh khiết, hạnh phúc, cảm giác giác ngộ được chứng thực ngay, cơ thể chư vị trở lên nhẹ nhõm, ánh sáng vi tế ngày một rõ ràng và ấm áp hơn. Ánh sáng vi tế quán thân chư vị tinh khiết, và hóa giải đi các nghiệp quả xấu trong tầng thứ mỗi chư vị, giúp chư vị buông bỏ tu đến các cảnh giới cao của giác ngộ, chính vì thế nên ánh sáng vi tế tạo lên sự cốt lõi khi tu hành một cách tự nhiên. Đó là lý do tu hành thủ pháp ánh sáng theo Kinh Ánh Sáng, tuy là một đạo riêng biệt song vẫn cấp cho các chư vị tu hành ở các con đường chân chính khác được cơ hội tiếp cận ánh sáng chân lý để dễ dàng tu thành tại chính con đường tu hành chư vị đang đi trong việc hiểu và tu ngay các điều cốt lõi, để soi sáng mọi chủng loại ma nạn mà cấp cho chư vị con đường. Kinh Ánh Sáng phổ truyền để có thể độ cho mọi chúng sinh, mà không có sự phân biệt, mà tất cả là bình đẳng đều có thể tiếp cận được ánh sáng của giải thoát.

 

Cõi mê hư ảo:

 

Chư vị phải chịu cảnh hư ảo đến từ hai thế giới là thế giới vật chất và thế giới tâm linh. Hai thế giới này phản ánh qua lại với nhau. Các cảnh hư ảo đó là gì. Là hạnh phúc trước mắt đạt được nhưng thực chất là hạnh phúc ảo để mở ra vô số cửa bất hạnh trong thế giới vật chất. Là các cảm xúc mạnh, kích động với vô vàn suy nghĩ nhưng là hư ảo để đẩy chư vị vào những cảnh giới tối là hiện thân của thế giới tâm linh. Chư vị phải thanh thản, tĩnh tâm thì dưới ánh sáng của chân lý, những cảnh hư ảo này lại tan biến. Bản chất thật luôn bị che dấu như thế. Điều này được phổ truyền cho những người tu hành. Chư vị buồn thì sau một thời gian chư vị sẽ lãng quên, vấn đề là thời gian là bao lâu. Đằng nào nỗi buồn cũng phải tan biến, vậy mà chư vị đã lãng phí một khoảng thời gian dài chìm trong cõi mê với những ô trọc ở cảnh giới thấp. Nỗi buồn cũng có tính chất hư ảo là thế. Rất nhiều chuyện khác như thế, có những tính chất tương tự, hay sự hư ảo tinh vi hơn, cấp độ cao hơn. Chư vị hoàn toàn có thể buông bỏ được mà thanh thản tu luyện và sống hạnh phúc trong cuộc đời. Thế gian này là cõi mê mà chư vị là người tu hành chư vi phải thừa nhận và công nhận. Điều đó không có nghĩa cảnh hư ảo chư vị không quan tâm, chư vị vẫn sống như người bình thường, vẫn cố gắng chân chính đạt được những gì chư vị đáng đạt được một cách đạo đức, vẫn yêu thương nhưng từ tâm chư vị đã thanh thản trước sự được mất. Chư vị biết rằng cõi giới này là hư ảo và có lúc chư vị phải bỏ lại tất cả. Điều gì đủ nhân duyên với chư vị nó sẽ đến mà không miễn cưỡng. Hạnh phúc đã đầy đủ trong ánh sáng vi tế, hạnh phúc của ánh sáng đã tràn ngập tâm hồn chư vị. Hạnh phúc đầy đủ như thế thì chư vị đã hoàn toàn có thể thanh thản buông bỏ, khi những điều đó không cần thiết, hay không thuộc về chư vị.

 

Ma tâm lốc xoáy:

 

Vì sao chư vị tu hành ở nhiều con đường tu hành khác mà phần đông hay đại đa số chư vị thay đổi được mình là rất ít, chứ chưa nói chư vị tu thành người giác ngộ. Người giác ngộ ở đây chính là tu thành các bậc Đại Giác Giả, là Phật thể. Mọi con đường tu hành chân chính đều sẽ cùng đi về một con đường khi đi đến các cảnh giới cao. Bên cạnh các pháp lý cốt lõi để tu thành phát sinh rất nhiều các nhận thức xa rời pháp lý cốt lõi đó nhưng vẫn cố gắng hướng về pháp lý cốt lõi. Tựa như cây lớn nhưng phát triển từ một nhân nhỏ. Chư vị đọc pháp lý ở cành hay lá thì chư vị không thể tu thành, mà chư vị phải tìm về đúng cội nguồn đó, chư vị phải tu ngay cái nhân đó, nếu không cả cuộc đời tu hành của chư vị vẫn là đi tìm chân lý, chứ không phải tu hành trong chân lý. Hay chư vị phải dựa quá nhiều vào các đấng quyền năng, có những đặc quyền tâm linh mà chư vị không thể có, có thể áp đặt được chư vị. Chư vị ngoài tâm tu hành ra, buông bỏ và nâng cao đạo đức hóa giải nghiệp quả ra, thì việc tu thành hay không cũng dựa vào quyết định của những bậc phi phàm này. Chư vị không được làm chủ vận mệnh chư vị hoàn toàn. Chư vị sẽ dựa dẫm và được cứu rỗi, đó là theo cảm nhận của chư vị, và điều này cũng là có thật. Nhưng nếu tu thành bậc giác ngộ hoàn toàn trong giải thoát hạnh phúc thì có lẽ chư vị sẽ khó mà đạt được. Bởi vì dẫu sao chư vị vẫn phải dựa dẫm, dựa dẫm thế đâu phải là hoàn toàn giải thoát. Cái tâm đấy chư vị cũng chưa buông bỏ được, bản chất thật sự tu hành chư vị cũng chưa nắm được. Chư vị muốn tu thành, chư vị phải tìm về cõi giới tâm linh, vì khi tu ở bất kỳ con đường tu hành nào chư vị đều đang tu ở hai cõi thế giới vật chất và thế giới tâm linh, cõi giới vi tế trong tâm hồn chư vị. Chư vị phải tìm về với thế giới tâm linh, để thấy được bản thể thật của chư vị, đó chính là ánh sáng lương tri của chư vị, đó mới là chư vị thật sự. Chư vị phải tu chính bản thể ánh sáng thật sự và tinh khiết này của mình. Hai thế giới vật chất và thế giới tâm linh tách biệt nhưng phản ánh qua lại với nhau. Cõi tâm linh phản ánh các điều thật của bản thể ánh sáng chư vị và các hư ảo vào thế giới vật chất là các dòng suy nghĩ, cảm xúc vô hình, các linh cảm. Thế giới vật chất cũng phản ánh lại các hư ảo này là các sự kiện tác động vào thế giới tâm linh chư vị, là các nhân quả tạo ra từ thế giới vật chất. Tất cả những cảnh hư ảo này sẽ tạo nên trong thế giới tâm linh chư vị các ma tâm lốc xoáy như những xoáy nước mầu đen ở cõi giới thấp với đặc trưng hư ảo để cuốn bản thể thật bằng ánh sáng và cả phần bản thể đen tối nghiệp quả chư vị vào đó, thật sự cuốn vào cõi mê đó. Sẽ có rất nhiều ma tâm lốc xoáy, khiến linh hồn chư vị liên tục mê man đi, ánh sáng lương tri chư vị tắt dần đến khi yếu mất hẳn. Chư vị phải hiểu điều này khi tu hành để giữ được bản thể thật là ánh sáng tinh khiết đó, cái điều mà chư vị tu hành, chư vị luyện chính là bản thể thật này. Chư vị phải tỉnh táo. Những ma tâm lốc xoáy này cũng được phản ánh qua lại từ hai thế giới vật chất và thế giới tâm linh. Chư vị sống, bỗng nổi lên nhiều dòng suy nghĩ, cảm xúc cuốn tâm trí chư vị vào, chư vị như mê man đi theo những điều đó, dường như là sai khiến được tâm trí chư vị vậy, mức độ nặng nhẹ có thể khác nhau, có thể từ vài giây đến vài phút. Ở thế giới vật chất như là những chương trình chư vị yêu thích, những đồ vật chư vị yêu, những điều chư vị căm tức, những điều chư vị bận tâm. Những điều đó đều phản ánh lại vào thế giới tâm linh là những ma tâm lốc xoáy. Bản thể chư vị cuốn vào đó và phát sinh nhiều những ma nạn khác. Đó là cõi mê mà linh hồn chư vị cuốn vào các ma tâm lốc xoáy này, bị xoáy liên tục theo các ma tâm này, hết cái này đến cái khác, đến khi chư vị mất phương hướng minh trí và chư vị không tu thành được nữa. Tất cả những vật chất tối này đều diễn ra một cách tinh tế và phức tạp, và nhiều cách tác động.

 

Một ma tâm lốc xoáy có thể tự sinh ra các ma tâm lốc xoáy khác, hoặc nó tự sản sinh ra trong thế giới tâm linh là những suy nghĩ tự ùa đến. Kinh Ánh Sáng phổ truyền đến chư vị bản chất nhất của các ma tâm lốc xoáy này, đó cũng là một cốt lõi mà chư vị không tu thành. Thủ pháp tu hành ánh sáng của Kinh Ánh Sáng là chư vị tu ngay trong cuộc đời, sống như cuộc sống người bình thường không xáo trộn. Vì thế không phải vì e ngại ma tâm lốc xoáy mà chư vị hóa đá đi để thoát. Điều đó cũng không đúng. Chư vị vẫn sống một cách chân chính, nhưng chư vị không được mê man đi vào các ma tâm lốc xoáy, chư vị luôn tỉnh táo, tĩnh tâm để không bị cuốn đi.

 

Ánh sáng vi tế và cuộc sống sau cái chết:

 

Rồi sẽ đến lúc chư vị đối mặt với giờ khắc quan trọng của cuộc đời mình. Có sinh thì phải có tử. Cuộc sống của mỗi chúng sinh là hữu hạn. Giây phút chư vị đi vào cõi tâm linh là giờ phút chư vị buông bỏ hết mọi thứ lại ở thế gian này. Giây phút phán xét này quyết định tầng thứ trong cõi giới tâm linh của chư vị. Chư vị đã nhiều lần đối diện với các tầng thứ trong thế giới tâm linh khi đang tồn tại trong thế giới vật chất mà chư vị không biết. Nhưng đây là thời khắc quan trọng nhất khi chư vị đã chính thức không còn thân xác trong thế giới vật chất. Chư vị sẽ đi vào một cảnh giới tâm linh do chính chư vị chọn lựa khi chư vị tạo nên nhân quả thiện ác trong kiếp chư vị sống và nhân duyên từ nhiều kiếp khác. Những sự nuối tiếc, các ham muốn nhục dục chưa buông bỏ được sẽ làm linh hồn đau khổ. Lúc này ánh sáng vi tế từ cõi giới cao sẽ xuất hiện một lần nữa với tâm từ bi giải thoát để độ linh hồn chư vị thoát khỏi những đau khổ ở các tầng thứ thấp. Giây phút này nếu linh hồn chư vị quá ô trọc, nặng nề với các ham muốn tính dục chưa buông bỏ được và sự níu kéo quá mạnh từ những cảnh giới tối của những nghiệp nhân quả có nhân duyên với chư vị. Thì chư vị có thể sẽ bỏ lỡ cơ hội đáng giá nhất để được ánh sáng vi tế giải thoát và rơi vào các cảnh giới tâm linh thấp, những cảnh giới tối. Có khi hàng nghìn năm linh hồn chư vị vẫn đau khổ trong cõi giới này vì bản chất cõi này cũng là cõi mê. Chư vị đã không còn thân người để tu hành giác ngộ ở thế giới vật chất thì vào cõi mê này chư vị muốn thoát khỏi cũng là điều rất khó, gần như không tưởng. Sự phán xét, sự xuất hiện của ánh sáng vi tế giải thoát đã được khoa học thống kê lại từ rất nhiều nghiên cứu trong những trường hợp cận tử nghiệp. Những trường hợp được coi là chết rồi, linh hồn đã rời khỏi xác, nhưng với vô vàn lý do nhân duyên phức tạp đã hy hữu sống lại. Và những người này đã chứng kiến một phần chu trình của sự phán xét, được thấy ánh sáng vi tế giác ngộ. Hay họ có sứ mệnh là trở về để truyền đạt thông tin về ánh sáng vi tế cho loài người. Các thủ pháp ánh sáng tu hành của Kinh

 

Ánh Sáng phổ truyền để chư vị có hạnh phúc trong cuộc đời, sống một cách viên mãn và khi đứng trước giây phút phán xét, thấy được ánh sáng vi tế giác ngộ từ cao tầng, chư vị sẽ hóa thân thành ánh sáng vi tế để hòa nhập vào ánh sáng vi tế từ cao tầng, thành tựu giác ngộ trở về cao tầng ánh sáng hay thế giới ánh sáng mà không phải bỡ ngỡ mà để lỡ mất cơ hội chính mình. Thành quả đó chính là bậc giác ngộ tại cao tầng ánh sáng.

 

Tu hành thủ pháp ánh sáng tăng liên tục phước đức trong cuộc đời:

 

Cũng giống như nhiều con đường tu hành chân chính khác, khi tu hành là cuộc đời chư vị đã được thay đổi. Thay đổi đó chính là thành quả của chư vị, khi nghiệp xấu đã được chặn lại. Sức khỏe thọ mệnh của chư vị kéo dài thêm ra. Cuộc sống chư vị trôi đi trong hạnh phúc ít phát sinh các mâu thuẫn. Phước đức này cũng làm những người thân chư vị tốt lên, con cái chư vị cũng được hưởng những điều tốt đẹp này từ chư vị.

 

Điều này rất logic và được chứng minh một cách rất dễ dàng. Tu hành thủ pháp ánh sáng của Kinh Ánh Sáng. Tâm, thân chư vị đã được tinh khiết thanh thản. Đáng lẽ vào giờ ấy, phút ấy nghiệp quả quyết định rằng, chư vị sẽ nẩy sinh mâu thuẫn với chư vị khác, hai chư vị mâu thuẫn với nhau, người ta có thể giết chư vị, hay chư vị giết người ta, hoặc những biến cố nguy hiểm tương tự. Hay như trường hợp khác chư vị đi trên đường, nghiệp quả quyết định, khi đó chư vị sẽ nóng giận điều gì đó, các u tâm linh, ma tâm lốc xoáy, các vật chất cõi giới tối sẽ làm chư vị không thể kiểm soát tâm trí bản thân và xẩy ra tai nạn. Sinh mệnh chư vị chấm dứt, mà chư vị chưa tu hành được gì cả, còn bao điều nuối tiếc, chưa tìm thấy chân lý và ngay lập tức rơi sâu hơn vào cõi giới tối đau khổ trong tâm linh. Thì nay chư vị tu hành, tâm chư vị thanh thản, đáng lẽ người kia chư vị giết hay người ta giết chư vị thì nay mâu thuẫn đó không xẩy ra nữa. Thậm chí chư vị kia còn được được ánh sáng vi tế hóa độ mà không biết, họ chỉ cảm thấy hạnh phúc phát ra từ trong lòng họ với những cư sử nhã nhặn của chư vị. Đáng lý chư vị bị tai nạn chết thì nay điều đó không bị như vậy nữa, chư vị do tu hành, chư vị đã hiểu các cảnh giới tâm linh với những nguy hiểm, nên không điều gì làm tâm trí chư vị lay động nữa, nghiệp quả kia cũng được ánh sáng vi tế hóa giải, bản thân chư vị cũng được trường ánh sáng gia hộ. Cuộc sống chư vị hạnh phúc là vì thế, rất khoa học, còn rất nhiều điều khác nữa tương tự như thế. Chư vị tu hành thủ pháp ánh sáng không những không mất gì lại còn được quá nhiều khi tu hành và buông bỏ. Đó là cả một thế giới ánh sáng.

 

Khởi nguyện tu hành thủ pháp ánh sáng:

 

Thủ pháp ánh sáng Kinh Ánh Sáng phổ truyền cho chư vị là thủ pháp tu hành ánh sáng lương tri, phần phúc phận minh trí của chư vị kết hợp với ánh sáng từ cao tầng ánh sáng thành ánh sáng vi tế. Ánh sáng vi tế này chính là bản thể chư vị và được tu luyện ngay chính tại cảnh giới tâm linh dần đưa bản thể chư vị lên cao tầng ánh sáng, giải thoát khỏi những mê mờ, nghiệp chướng và buông bỏ những điều ô trọc. Trong ánh sáng vi tế đã đầy đủ hạnh phúc, trí tuệ ánh sáng và những đặc tính từ bi của ánh sáng từ cao tầng như là một thế giới. Dưới ánh sáng vi tế từ cao tầng soi rọi cảnh giới tăm tối chư vị, chư vị dựa vào đó mà buông bỏ giải thoát nhẹ nhàng đi lên các tầng thứ cao trong tâm linh để trở về cao tầng ánh sáng và thế giới ánh sáng. Các thủ pháp ánh sáng của Kinh Ánh Sáng phổ truyền là những thủ pháp tu hành trực tiếp tại cao tầng, trực tiếp hóa giải các cảnh giới mê mờ trong tâm linh, không phải là thủ pháp tu hành tại thế giới vật chất, không tác động vào thân thể, thế nên đây không phải là khí công, không phải là tu đạo luyện đan, không vận hành các kinh mạch trên cơ thể con người chính, cũng vì thế mà không xẩy ra những sai lệch như khai mở các luân xa, kinh mạch, luyện đan, bùa chú, khí công. Thủ pháp tu hành ánh sáng thuộc Kinh Ánh Sáng là đạo Ánh Sáng riêng biệt. Bản chất cốt lõi là luyện ánh sáng cao tầng và lấy đức bù nghiệp quả, vì thế không phát sinh một mâu thuẫn nào, không có bất kỳ một sự nguy hiểm nào, hoàn toàn được sự gia hộ từ ánh sáng vi tế tại cao tầng ánh sáng và các bậc Giác Gỉa của thế giới ánh sáng khi tu hành một cách chân chính. Đột phá tu thẳng vào điều cốt lõi nhất là bản thể ánh sáng tại cảnh giới tâm linh. Trước khi tu hành các học viên chuẩn bị cho mình một tâm chính trực, thật thà, vị tha, thanh thản và coi nhẹ trước những mâu thuẫn được mất. Các học viên tu hành sống cuộc sống như người bình thường, không có một điều gì xáo trộn khi tu hành, vẫn cố gắng chân chính làm những điều gì đáng làm trong cuộc sống bình thường. Thủ pháp tu hành ánh sáng của đạo Ánh Sáng trân quý là khi chư vị tu hành, tuy chư vị tự nhận ra để buông bỏ trước ánh sáng vi tế của chân lý. Song hạnh phúc trong cuộc sống ở cả thế giới vật chất và thế giới tâm linh chư vị vẫn đạt được là lớn nhất. Vì hình thức tu thẳng vào điều cốt lõi nhất, thế nên chư vị cần thanh thản để tu các thủ pháp ánh sáng. Trước khi tu hành, chư vị làm điều gì, chuyện gì có lỗi với ai, chư vị cần cố gắng nhất để bù đắp lại sao cho chư vị đủ thấy sự thanh thản để bắt đầu tu luyện. Chư vị chỉ cần cố gắng nhất là được, không phải gò ép, hay cực đoan, những chuyện đó của chư vị tuy chưa thể hóa giải tận gốc rễ song trong quá trình tu đạo chư vị sẽ hóa giải được những nhân duyên này. Chư vị có thể tu chung thủ pháp ánh sáng của Kinh Ánh Sáng với các pháp môn chân chính chung quan điểm buông bỏ dục vọng, từ bỏ hư ảo để độ hóa chúng sinh tu thành giác ngộ vì các pháp môn đó cùng chung con đường đi về ánh sáng vi tế chân chính. Và ánh sáng vi tế giúp chư vị có được sự cốt lõi để tu thành tại pháp môn chư vị. Tuy nhiên điều này là không được, nếu pháp môn chư vị cũng có những thủ pháp tu hành kể cả là thủ pháp khí công. Chư vị không được tu chung đạo Ánh Sáng với các đạo pháp có pháp lý cực đoan rơi linh hồn vào sự không thanh thản, các tranh chấp, đấu đá, cực đoan, có sát hại chúng sinh tế lễ, có sử dụng đến bạo lực bất kể mục đích gì, tu rơi vào cõi vô thức không làm chủ bản thân, tu luyện bùa chú, . . Các đạo pháp tương tự, vì không phù hợp với các pháp lý của đạo Ánh Sáng. Những chư vị này chỉ được đọc Kinh Ánh Sáng, muốn tu hành chỉ được chọn một, không được tu song hành.

 

Các Thủ Pháp Ánh Sáng

 

Thủ pháp ánh sáng 1- Quán thân ánh sang

 

Cốt lõi: Đây là công pháp tịnh hóa, tinh khiết bản thể chư vị liên tục, từ đó cảm nhận ánh sáng vi tế và tu luyện trong ánh sáng vi tế từ cao tầng. Trong quá trình tu hành, chư vị sẽ cảm nhận được ánh sáng ấm áp từ bi, giải thoát của ánh sáng vi tế đang soi rọi cảnh giới tâm linh chư vị. Hóa độ những nghiệp ác, khởi tâm thiện, giúp chư vị nhìn rõ điều gì cần buông bỏ để buông bỏ và đưa chư vị lên cao tầng. Chư vị phải giữ được ánh sáng vi tế này đang soi rọi cảnh giới tâm linh chư vị, tu liên tục đến khi chư vị hóa toàn thân vào thành ánh sáng vi tế ấm áp. Chư vị sẽ liên tục tu thủ pháp này. Đây là thủ pháp tu hành trong thế giới tâm linh, chính vì thế chư vị đang tu mà ngoài nhìn vào như chư vị đang sinh hoạt như người bình thường, mọi thứ diễn ra hết sức tự nhiên, chỉ có điều chư vị hòa nhã hơn rất nhiều, tĩnh tại trước những mâu thuẫn. Chư vị đang tu thủ pháp quán thân ánh sáng, song chư vị cũng không có gò bó gì, thủ pháp thấm vào chư vị tự nhiên như cuộc sống. Chư vị luôn cảm nhận được hạnh phúc, sự ấm áp của ánh sáng vi tế, thân thể nhẹ nhàng, trí tuệ, trở về thể tinh khiết không còn những toan tính nặng nề. Sự từ bi, ấm áp và các đặc tính của ánh sáng còn lan tỏa đến chư vị khác, các chư vị khác thấy ấm áp vui vẻ khi được giao tiếp với chư vị. Quán là dùng năng lực tâm linh để nhìn thấy, hay cảm nhận thấy khi cơ thể ở thể tinh khiết.

 

Ba bước của thủ pháp

 

1. Niệm quyết: Tâm tĩnh thanh thản Thân hóa tinh khiết Buông bỏ hư ảo Tu thành ánh sáng.

 

2. Thân hóa tinh khiết: Học viên giữ hơi thở đều, nhẹ nhàng hòa nhã, luôn giữ hơi thở bình thản như thế. Học viên quán tiếp toàn bộ thân thể tinh khiết như nước, không suy nghĩ, không cảm xúc, chỉ còn lại cảm giác tinh khiết, trí tuệ và cảm giác rất thanh thản trong đầu. Rồi thân tinh khiết hóa không. Chỉ còn mỗi cảm giác trên ở niệm đầu, đến đây dùng trí tuệ sự tinh khiết để hoạt động và vẫn giữ được cảm giác như vậy.

 

3. Sự xuất hiện ánh sáng vi tế: Thân chư vị đã trở nên tinh khiết, chỉ còn niệm đầu chư vị với cảm giác rộng rãi, thanh thản, không còn gợn suy nghĩ, không một cảm xúc ám ảnh, tâm tĩnh nhưng linh hoạt với trí tuệ tinh khiết. Trong đầu chư vị giờ là một khoảng không gian rộng lớn đã được thanh tịnh. Chư vị không còn và không để bất kỳ yếu tố nào tác động từ bên ngoài đến thế giới tinh khiết bên trong của chư vị, làm mất đi cảm giác này. Từ thể tinh khiết như vậy, chư vị sẽ quán ra một vòng tròn, luồng ánh sáng trắng nhẹ nhàng bao quanh đầu chư vị và tỏa sáng vào bên trong. Ánh sáng phát ra trường khí hòa nhã, ấm áp soi rọi mọi cảnh giới tăm tối, xua tan mọi suy nghĩ tạp niệm, khiến lòng chư vị cảm thấy bình yên, chư vị hoàn toàn có thể cảm nhận hạnh phúc tinh khiết nhẹ nhàng từ trong ánh sáng đó, đó chính là ánh sáng vi tế. Ánh sáng vi tế có mầu trắng nhẹ nhàng, ánh sáng với đặc tính từ bi, giống như là ánh nắng phản chiếu trên một chiếc đĩa sứ trắng trong một buổi sáng sớm mai nhưng nhẹ hơn mà không làm chói mắt. Trong ánh sáng từ bi, tâm chư vị sẽ rất bình yên, một cảm giác giác ngộ và giải thoát. Ánh sáng tỏa sáng lung linh, tinh khiết quanh đầu chư vị, trong đó đã đầy đủ hạnh phúc và trí tuệ của sự giác ngộ. Chư vị dùng trí tuệ sự tinh khiết đó để ứng sử, chư vị dùng ánh sáng ấm áp vi tế từ bi đó để làm ấm lòng chư vị và những chúng sinh khác. Ánh sáng vi tế ấm áp của chư vị có thể giải thoát chư vị và lan tỏa đến cả những cảnh giới tăm tối của những chúng sinh khác. Ánh sáng ấm áp đó chính là chư vị, sự từ bi đó là hóa thân của chư vị. Chư vị phải chân chính giữ được ánh sáng chân lý ấm áp này, luôn luôn khi sống, khi vẫn còn thức và lưu cả trong giấc mơ. Ánh sáng đó là chư vị, ở bên chư vị như là cuộc sống. Thật tự nhiên, thật bình thường, không gò bó, trong cảm nhận liên tục về hạnh phúc.

 

Thủ pháp ánh sáng 2 - Thiền tâm ánh sáng

 

Cốt lõi: Thủ pháp tu hành khiến chư vị đi nhanh hơn trong sự giác ngộ, giải thoát. Hòa nhập sâu hơn trong hạnh phúc và trí tuệ của ánh sáng vi tế.

 

Bốn bước của thủ pháp:

 

1. Tọa thiền:

 

Học viên ngồi thế kiết già, chân trái đặt lên đùi chân phải trước, sau đó chân phải vắt lên trên chân trái đặt lên đùi chân trái. Trường hợp chư vị chỉ có thể làm ngược lại thì cũng được. Chư vị ngồi thẳng lưng, thả lỏng mà không lỏng hẳn sao cho thật tự nhiên. Bốn ngón tay phải chụm lại song song với ngón tay cái thành hình nửa vòng tròn. Tương tự với bàn tay trái. Hạ hai bàn tay xuống dưới chính rốn 3 cm và cách rốn tầm 8m. Đây là khoảng ước lượng tương đối sao cho tự nhiên không cần thật chính xác. Hai bàn tay chập vào nhau, bốn ngón tay phải xếp đặt bên dưới bốn ngón tay trái đến khi hai ngón cái hai tay chạm vào nhau tạo thành một vòng tròn. Tâm vòng tròn gần chính giữa người. Mắt nhắm, môi ngậm lại, lưỡi uốn đặt tại hàm trên thu tâm về thể tĩnh, mặt hòa nhã bình thản. Niệm quyết: Tâm tĩnh thanh thản Thân hóa tinh khiết Buông bỏ hư ảo Tu thành ánh sáng

 

2. Thân hóa tinh khiết:

 

Thủ pháp này được làm giống hệt Bước hai: Thân hóa tinh khiết tại thủ pháp ánh sáng một: Quán thân ánh sáng.

 

3. Sự xuất hiện của ánh sáng vi tế:

 

Thủ pháp này được làm giống hệt Bước ba: Sự xuất hiện của ánh sáng vi tế của thủ pháp một: Quán thân ánh sáng. Từ thân tinh khiết chư vị, quán ra ánh sáng vi tế. Chư vị hoàn toàn tĩnh tại, bình thản, không còn suy nghĩ, cảm xúc nào, cảm giác chỉ còn ánh sáng vi tế một cách tự nhiên, thoái mái. Chư vị vẫn giữ duy nhất là trí tuệ, minh trí của ánh sáng vi tế là chư vị, chứ không phải là ngủ mê đi.

 

4. Xả thiền: Sau khi thiền nhập định trong Ánh Sáng vi tế. Học viên mở mắt từ từ rời khỏi trạng thái nhập định, vẫn thế kiết già ngồi một lúc, rồi từ từ đứng dậy.

 

Lưu ý: Thủ pháp thiền tâm ánh sáng có thể tu ở bất kỳ khoảng thời gian nào, nhưng không nên thiền khi cơ thể còn nặng nhọc như khi ăn no xong, hay đang đói, hay đang mệt và ốm. Tâm nên trở nên bình thản, buông xả trước chuyện được mất trước khi tu thiền.

 

Trường ánh sáng quanh thân:

 

Khi chư vị chân chính tu hành các thủ pháp ánh sáng của Kinh Ánh Sáng. Khi chư vị quán được ánh sáng vi tế thì đã xuất hiện trường ánh sáng gia hộ. Trường ánh sáng gia hộ xuất hiện tự nhiên để bảo hộ cho chư vị nên chư vị không cần quán để nhìn thấy. Nhưng khi chư vị quán chư vị sẽ nhìn thấy trường ánh sáng gia hộ đang hiện hữu hộ pháp cho chư vị. Quán là dùng năng lực tâm linh để nhìn thấy, hay cảm nhận thấy khi cơ thể trở về thể tinh khiết.

 

Ký ức ngàn xưa và lời nguyện tại thế giới ánh sang:

 

Trong nhiều tôn giáo và ở nhiều con đường tu hành cũng nói đến ánh sáng và nương tựa vào ánh sáng. Nhưng đều không nói rõ được bản chất ánh sáng, các pháp lý và thủ pháp ánh sáng. Đây là cả một pháp lý tại cao tầng ánh sáng với thủ pháp ánh sáng tu hành đầy đủ, và ánh sáng đó chính là ánh sáng vi tế, ánh sáng của chân lý. Có hàng nghìn các con đường tu hành chân chính để cho chư vị tu hành. Mỗi một thời kỳ dài, sẽ có những đường lối tu hành sao cho tương ứng với nhận thức chúng sinh giai đoạn đó tu hành. Và một thời kỳ dài nhận thức chúng sinh sẽ đổi khác đi nên sẽ có những con đường tu hành mới để tu hành sao cho phù hợp hơn những chúng sinh giai đoạn này. Tuy nhiên không phải thời kỳ nào chúng sinh cũng có thể tiếp cận với con đường tu hành chân chính để có thể tu thành bậc giác ngộ. Bởi để đạt được đến thời kỳ này thì phải trải qua những thời kỳ nhân loại học tập các pháp môn nâng cao về đạo đức, về các đức tin thì mới đủ nhận thức để tiếp cận với con đường tu hành giải thoát để đạt thành bậc giác ngộ. Chuỗi thời gian này có thể tính là vô số kiếp, không hề đơn giản. Trong vô số kiếp trong quá khứ, Kinh Ánh Sáng với các thủ pháp tu hành ánh sáng đã có những thời điểm được phổ truyền rộng để độ chúng sinh trong thế giới này và tại nhiều thế giới khác, đã tu xuất thành vô số các bậc Giác Gỉa. Những điều này được chứng thực trong ánh sáng vi tế, như là một đức tin. Ai sinh ra cũng tư hỏi mình là ai, vì sao lại ở đây, cuộc sống sau cái chết là gì. Bắt đầu con đường tu hành, sư phụ chư vị cũng như vậy, cũng có vô số câu hỏi, tiến hành trải nghiệm qua nhiều con đường tu hành, nhưng dường như không tìm thấy chân lý. Bỗng chốc một ngày tỉnh giấc vào sớm mai, lòng nhẹ bẫng tinh khiết không một chút vọng niệm, không suy nghĩ, không còn những toan tính đua tranh đời thường, dưới những tia nắng ấm áp buổi sớm, cuộc sống dường như được bắt đầu lại từ đầu. Bỗng trong sự tinh khiết đó, một ánh hào quang ấm áp xuất hiện, dường như những ký ức xa xưa hiện về. Một khung cảnh cây cối khô cằn, đất đai cằn cỗi như xa mạc và ánh sáng nóng bức của mặt trời với một vài bóng người rất xa ẩn hiện. Đó chính là giây phút tu thành thủ pháp ánh sáng trở về thế giới ánh sáng. Trong luồng sáng đó là lời nguyện trở về lại thế giới phổ truyền Kinh Ánh Sáng cho chúng sinh một con đường, và bản thể được tách ra làm hai, một phần trở về thế giới, tiếp tục luân hồi trở thành người bình thường và tiếp tục tu hành đến khi ngộ lại. Dưới ánh sáng vi tế của chân lý, phần bản thể còn lại, bậc giác giả xuất hiện, những pháp lý và thủ pháp Kinh Ánh Sáng hiện ra. Đây là những thủ pháp tu hành ánh sáng, và quyết định phổ truyền Kinh Ánh Sáng, Đạo Ánh Sáng.

 

Trước khi tu thành Bậc Gíac Gỉa, các con đường tu hành đều phải tu hành tại tầng ánh sáng vi tế. Đó là lý do vì sao ánh sáng có được nhắc đến trong nhiều con đường tu hành và bậc Đại Giác Gỉa nào cũng có ánh sáng vi tế của riêng họ. Chư vị không thể gượng ép bản thân với những sự gò bó về đạo đức để buông bỏ trở về thế giới của các bậc giác giả. Những thế giới đó tinh khiết, nếu chư vị gượng ép bản thân mà không thấy cốt lõi tu hành, chư vị cũng không thể ở trong đó. Chư vị chưa ngộ hoàn toàn nên chư vị sẽ phát sinh buồn chán và gò bó, rồi các mâu thuẫn khác. Lúc ấy thì chư vị sẽ giải thoát thế nào nữa. Kinh Ánh Sáng là thủ pháp tu hành ánh sáng độ chư vị buông bỏ một cách tự nhiên, cấp cho chư vị sự bình đẳng, chư vị có thể tu thành bậc giác ngộ. Chư vị có thể đi đến những thế giới cùng đặc tính từ bi như ánh sáng vi tế của chư vị. Chư vị có thể đi về cao tầng ánh sáng và trở về thế giới Ánh Sáng. Sư phụ chỉ là người phát tâm từ bi mà trở về cấp cho chư vị con đường, xuống đến đây sư phụ cũng thành người bình thường và phải tu hành lại từ đầu để quay về sáp nhập lại với bản thể ánh sáng vi tế, bậc Giác Gỉa. Chư vị hoàn toàn có thể chân chính từ Kinh Ánh Sáng mà tu hành, sư phụ và chư vị hoàn toàn là chúng sinh bình đẳng trước ánh sáng chân lý. Mọi thủ pháp và pháp lý tại cao tầng ánh sáng đều được phổ truyền đầy đủ đến chư vị. Khi chư vị chân chính tu hành đã được sự gia hộ, hộ pháp của các bậc Giác Gỉa tại thế giới ánh sáng theo sát trên con đường giác ngộ của chư vị.

 

Trí tuệ ánh sáng vi tế:

 

Chư vị quán cảm nhận được hạnh phúc giải thoát ấm áp với các đặc tính của ánh sáng vi tế. Khi tu hành, sau khi quán được ánh sáng vi tế rõ ràng, chư vị sẽ có được trí tuệ từ ánh sáng vi tế. Chư vị sẽ cảm thấy không gian trong thế giới tâm linh chư vị thông qua bộ não rất rộng, sáng, tĩnh tại mà linh hoạt. Chư vị sẽ có những suy nghĩ sáng suốt trong sự tĩnh tại mà linh hoạt, mà gạt bỏ được mọi cảm xúc hư ảo, với các đặc tính từ bi của ánh sáng vi tế. Hay nói cách khác chư vị sẽ dùng trí tuệ ánh sáng vi tế để suy nghĩ, nhận định mọi thứ. Đó cũng là cốt lõi của tu hành, phải dùng trí tuệ với các đặc tính của ánh sáng vi tế để ứng sử với những mâu thuẫn trong cuộc sống, để nhận ra buông bỏ. Khi tu thành Bậc Giác Gỉa, mọi trí tuệ trong ánh sáng vi tế sẽ được khai ngộ, mọi chân lý, bản chất mọi việc ở các cõi giới sẽ hiện ra, hiểu được mọi điều chân lý. Tất cả những điều phức tạp vi tế, huyền diệu đến vậy con người mãi không thể viết hết thành lý luận, không thể nghiên cứu đến, mà khi giác ngộ sẽ tự xuất hiện.

 

Công năng trong tu hành:

 

Công năng là những khả năng phi thường của con người như giác quan thứ 6, tiên tri, thần nhãn, linh cảm, nhìn thấu quá khứ, ngoại cảm. . Tất cả điều này đều có thể xuất hiện khi tu hành. Có tôn giáo giảng rằng, cảnh đời vốn dĩ đã rất ồn ào huyên náo, nhưng những âm thanh náo nhiệt trong tâm còn huyên náo hơn gấp bội. Chỉ cần tĩnh lại được là những công năng đặc biệt xuất hiện. Nhận định này là đúng, các thủ pháp ánh sáng quán thân chư vị tinh khiết với ánh sáng vi tế sẽ xuất hiện các công năng. Nhưng đây không phải là mục đích tu hành, có cũng không được mang ra sử dụng, như vậy chư vị sẽ không tu hành được nữa, sẽ xuất hiện đủ các chủng loại ma nạn khi chư vị biểu diễn, tâm chư vị sẽ không còn thanh thản, tĩnh tại nữa. Thế nên chư vị không cần chú trọng đến điều này. Tất cả những chuyện khác như công lực, luyện đan, thông mạch, nguyên anh, bùa chú, làm phép. . Chư vị cũng không phải quan tâm. Chư vị tu hành thủ pháp ánh sáng vi tế để trở thành người giác ngộ, hóa thân thành ánh sáng vi tế, ánh sáng đó rất tinh khiết nhẹ nhàng, từ bi, chư vị không phải mang theo mình những điều phức tạp như thế.

 

Chân lý, hạnh phúc và ánh sang:

 

Chư vị sống trong cuộc đời có rất nhiều điều để đam mê, yêu thích và cả những chân lý của chư vị nữa. Những điều đó đang mang lại cho chư vị hạnh phúc như khi yêu một ai đó, đam mê một điều gì đó, theo đuổi địa vị quyền lực nào đó. Điều đó mạnh đến mức có thể chi phối được chư vị. Nhưng nếu đó là những điều hư ảo thì sẽ có lúc phải thể hiện bản chất thật và tan biến, điều đó khó tránh được tại cõi mê, thế giới vật chất. Chư vị bị mất đi những giá trị mà chư vị nghĩ là hạnh phúc, chư vị sẽ hoảng loạn, đau khổ, nhiều lần như thế sẽ dẫn đến nhiều những trạng thái phức tạp cảm giác sống không còn ý nghĩa, thậm chí có người còn trầm cảm, tự sát. Điều này đã được phổ truyền, đó là những u tâm linh, là những ma tâm lốc xoáy, và một số nghiệp quả có linh tính nhân duyên chư vị tác động để chư vị rơi vào những trạng thái này. Cốt lõi ở điều này đó chính là chư vị cần hạnh phúc chân chính để dựa vào, chính là hạnh phúc không có giá trị hư ảo để rồi tan biến đi, là hạnh phúc của chân lý làm chỗ dựa cho chư vị. Khi chư vị tu hành thủ pháp ánh sáng, chư vị sẽ thấy được hạnh phúc chân chính trong ánh sáng vi tế, một hạnh phúc tinh khiết, từ bi, ấm áp có thực mà không tan biến đi mất, khi chư vị còn chân chính tu hành. Hạnh phúc chân lý đó là chỗ dựa cho chư vị sống hạnh phúc tại thế giới vật chất và chân chính tu luyện buông bỏ. Khi chư vị nhận ra hạnh phúc trong ánh sáng vi tế này đồng nghĩa chư vị cũng nhận được hạnh phúc tối đa của sự hư ảo trước khi nó tan biến đi. Chư vị hiểu được điều này chư vị cũng sẽ không tiếc nuối dằn vặt bản thân mà rơi vào các cảnh giới tối nữa. Điều này sẽ được phổ truyền kỹ để chư vị nhìn thấy bản chất. Chư vị đang sống hạnh phúc bên người bạn đời, đang lẽ chư vị phát sinh mâu thuẫn và tình cảm tan vỡ. Nhưng do chư vị có những đăc tính của ánh sáng vi tế, chư vị có trí tuệ của ánh sáng vi tế, thì các mâu thuẫn đó tự nhiên được san bằng ít hay nhiều tùy thuộc vào ngộ tính và sự tu hành của chư vị. Chư vị sẽ đạt được hạnh phúc bên người bạn đời này dài hơn hay thậm chí cả đời mà đáng lẽ là tan vỡ. Tu hành thủ pháp ánh sang vi tế cao tầng trân quý cũng là ở chỗ đó, chư vị đã có được hạnh phúc của ánh sáng, đó là hạnh phúc đầy đủ, là cả thế giới rồi. Đồng thời chư vị vẫn có thể chân chính đạt những hạnh phúc của thế giới đời thường đó. Nhưng do hiểu đạo lý nên chư vị luôn thấy thanh thản, tự trong chư vị đã là hạnh phúc của ánh sáng giải thoát rồi nên chư vị không còn nuối tiếc điều gì.

 

Nếu hạnh phúc hư ảo kia mà vẫn phải tan vỡ thì không sao cả, điều này bản chất đã vốn thế rồi, với duyên của chư vị thì chư vị đã được hưởng hạnh phúc tối đa từ nhân duyên này rồi, từ sự hư ảo này rồi. Do vậy chư vị hoàng toàn yên tâm buông bỏ, và sống tiếp cuộc đời hạnh phúc. Cốt lõi là thế. Nếu chư vị tu hành chân chính hơn nữa thì chư vị sẽ thấy trạng thái dù chư vị không còn có điều gì thì tự bản thân chư vị cũng đã là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc đó là hạnh phúc chân lý của ánh sáng vi tế xuyên suốt cuộc đời tu hành của chư vị.

 

Sự khác biệt giữa u tâm linh và ma tâm lốc xoáy:

 

Hai điều này đều là ma nạn, vật chất tối đại diện cho hư ảo nghiệp quả tại cảnh giới thấp trong cõi tâm linh. Yếu tố chung là chúng cùng xuất hiện để đẩy chúng sinh xuống cõi giới tối và chìm trong đau khổ, các hư ảo không thoát ra được. Hai ma nạn trên trong quá trình triển khai tác động ảnh hưởng chúng cũng có những tác động gần giống nhau. Song ảnh hưởng nổi trội là ma tâm lốc xoáy làm mê đi trong hạnh phúc hư ảo, và liên tục như thế. U tâm linh phát ra những quá nhiều suy nghĩ hay những ảo ảnh tức thì không kiểm soát được bản thân. Hai ma nạn này có thể đến nhiều lần sau khi lắng dịu đi. Đôi khi chúng hỗ trợ phát sinh ra nhau hoặc phát ra ảnh hưởng của nhau, nhưng những ảnh hưởng này không mạnh bằng khả năng chính. Cả hai hoạt động rất phức tạp và tinh tế, chúng còn có thể phát ra những tư duy logic vào bộ não để bảo vệ sự tồn tại của chúng. Một số trường hợp đặc biệt, sẽ xuất hiện những vật chất tối khác, vì thế giới tâm linh bao la như vũ trụ như vậy, song những điều này là rất hiếm, ít xẩy ra. Những trường hợp phát sinh như quỷ ám chính là bị những vật chất tối khác biệt này xuất hiện và làm chủ bộ não chư vị đó luôn. Hay bị những u tâm linh mạnh sáp nhập tạo một bản thể có linh tính rất mạnh cũng chiếm được luôn bộ não chư vị đó. Phổ truyền Kinh Ánh Sáng trên diện rộng cho chư vị, chư vị chỉ cần tu hành thủ pháp ánh sáng thì đã bảo vệ hóa giải đi tất cả những vật chất tối trên. Nếu chư vị chỉ cần hiểu cũng đã khắc chế được chúng.

 

Cao tầng ánh sáng và thế giới ánh sáng:

 

Cao tầng ánh sáng là tầng thứ rất cao trong tâm linh, là tầng thứ của các bậc Gíac Gỉa và chân lý. Cao tầng ánh sáng là tầng thứ mà tất cả chúng sinh mọi cõi khởi nguyện tu hành đạt đến bậc Giác Gỉa đều phải tu hành tại đây và phải giác ngộ hết các pháp lý tại cao tầng ánh sáng trước khi đạt quả vị tu thành. Tu thành tại cao tầng ánh sáng và khởi nguyện tu lên cao tầng hơn nữa thì không phải là người tu luyện nữa mà lúc đó đã là bậc Giác Gỉa tu luyện. Cao tầng ánh sáng không có ranh rới, không thể nghĩ bàn và tràn ngập ánh sáng vi tế của chân lý với những đặc tính từ bi, giác ngộ. Thế giới Ánh Sáng là thế giới nằm trong cao tầng ánh sáng, thế giới các bậc Giác Gỉa tu thành thủ pháp ánh sáng trong đạo Ánh Sáng, là thế giới của các thần Ánh Sáng. Thế giới có đầy đủ đặc tính như cao tầng ánh sáng, có giới hạn nhưng rộng lớn như không có giới hạn, cũng không thể nghĩ bàn. Các thế giới của các bậc Giác Gỉa, các con đường tu hành khác cũng ở trong cao tầng ánh sáng.

 

Giới luật của đạo Ánh Sáng:

 

 Đạo Ánh Sáng không có giới luật, tất cả học viên tu hành chân chính luôn phải hướng thiện, cố gắng tu hành không được thả lỏng bản thân. Trước ánh sáng vi tế tại cao tầng, trước những đặc tính của ánh sáng của chân lý mà nhận ra điều gì nên buông bỏ để tu thành giác ngộ trở về thế giới Ánh Sáng. Những điều cần buông bỏ hay coi nhẹ là những điều khiến chư vị bận tâm, động tâm mà làm tan biến đi ánh sáng vi tế của chư vị. Đây là điểm rất cốt lõi để chư vị tu hành.

 

Kinh Ánh Sáng, giới trẻ và những người ở trước ngưỡng cửa sinh tử:

 

Kinh Ánh Sáng phổ truyền cũng có một tâm nguyện lớn riêng trong tâm nguyện lớn chung. Tâm nguyện lớn riêng đó là phổ truyền chỉ rõ con đường đi, hóa giải đi những ma nạn làm biến đổi theo hướng xấu số phận của một số bạn trẻ có tư chất khá tốt, có đạo đức. Số phận các bạn có thể thay đổi hoàn toàn khi gặp những vật chất tối tại thế giới tâm linh, và hư ảo ở thế giới vật chất. Do chư vị còn trẻ nên bản thể chưa nhiều những kinh nghiệm sát cận chân lý để có thể bảo vệ bản thể ánh sáng của mình trước những cạm bẫy luôn rình rập để đẩy chư vị vào cõi giới tối. Những suy nghĩ tạp, u tâm linh, ma tâm lốc xoáy, và những trào lưu xấu từ thế giới vật chất phản ánh vào thế giới tâm linh khiến có nhiều những trường hợp các chư vị trẻ này rơi vào cõi giới tối với những nỗi đau khổ không thoát ra được, những buồn chán cực độ, bi quan, không thấy ý nghĩa cuộc sống càng lún sâu bản thể chư vị càng méo mó biến dạng dần thành các sự tự hành hạ bản thân, tự sát với muôn vàn những lý do, nghiệp ngập, cờ bạc, bạo lực đâm chém nhau. Hay các u tâm linh, ma tâm lốc xoáy phát ra nhiều suy nghĩ tạp, cảm xúc đủ chủng loại khiến nhiều chư vị vào sự trầm cảm, bế tắc với các loại mâu thuẫn trong cuộc sống, các vật chất tối này còn lợi dụng đi kèm với áp lực học nặng nề đẩy chư vị vào chỗ hóa điên do không kiểm soát nổi bộ não chính mình, và chiếm luôn cơ thể chư vị. Các chư vị phải thật sự tĩnh tâm, khi đọc kinh những pháp lý, chư vị có thể bị chính vật chất tối trong chư vị phát ra suy nghĩ tạp cản trở chư vị, để bảo vệ chúng. Trường hợp các chư vị trẻ này phải nói là rất đáng tiếc, các bạn hoàn toàn có thể sống tốt hơn, hướng thiện hơn và hạnh phúc hơn nữa. Kinh Ánh Sáng chỉ cần chỉ rõ các pháp lý cho chư vị là chư vị đã có thể tự bảo vệ mình, không nhất thiết là phải tu hành thủ pháp ánh sáng nếu chư vị thấy khó.

 

Tâm nguyện lớn riêng thứ hai là phổ truyền đến những chư vị mà thọ mệnh chư vị đang đứng ngay sát ngưỡng cửa sinh tử. ngày đến ngưỡng cửa sinh tử đó của chư vị chỉ tính bằng ngày, hay tháng. Chư vị cần chân lý hơn ai hết cho sự trở về của chư vị, sự phán xét đang đến quá gần với chư vị. Những lý luận dài dòng xa rời chân lý trở nên vô nghĩa với chư vị lúc này, với thời gian của chư vị, không phù hợp với sức khỏe của chư vị, và thậm chí phát sinh những điều xấu đẩy chư vị hoang mang hơn đi đến cõi giới tối. Chư vị cũng chỉ cần hiểu được các pháp lý này là chư vị đã được ánh sáng vi tế cao tầng soi sáng con đường chư vị đi. Chư vị có thể thanh thản buông bỏ và trở về trong hạnh phúc. Con đường của ánh sáng được phổ truyền đến tất cả chư vị, mọi chư vị đều bình đẳng trước ánh sáng của chân lý.

 

Kinh Ánh Sáng là rất giản dị:

 

Kinh Ánh Sáng là rất giản dị, không nhiều những lý luận, không hàng vạn quyển, không hàng nghìn trang. Kinh Ánh Sáng phổ truyền đến chư vị rằng chư vị cần tinh khiết buông bỏ mọi điều nặng nề, những ô trọc không cần thiết để chư vị sống hạnh phúc trong cuộc đời và hạnh phúc khi trở về. Vì thế sẽ không có những lý luận rườm rà để chư vị thêm phần nặng nhọc thì càng không thể tinh khiết nhẹ nhàng. Con đường tu thành bậc Giác Gỉa là con đường phi phàm thần thánh, siêu xuất khỏi trí tuệ của con người có thể hiểu. Vì thế dù hàng nghìn lý luận, hàng vạn cuốn sách, cũng không giải thích được. Và càng nhiều càng không tu thành, vì không tìm thấy chân lý nên càng phải lý luận để đi tìm chân lý, gọi là tiệm cận chân lý. Các tiệm cận chân lý cũng tạo nên những rào cản hư ảo với những người thực tâm muốn được tu hành để giải thoát và trở thành bậc Giác Gỉa, nhưng lại có tác dụng gia hộ cho đạo đức con người, kèm theo các giá trị về niềm tin. Nhưng giới hạn con người không bao giờ đạt đến sự tinh tế như vậy. Với những thủ pháp ánh sáng trong Kinh Ánh Sáng, chư vị sẽ có con đường tu hành của ánh sáng. Chư vị tu hành ngay trong ánh sáng vi tế, ánh sáng đó nhẹ nhàng tinh khiết nhưng đã bao trùm mọi điều phức tạp nhất, các bản chất của tất cả thế giới. Ở trong ánh sáng vi tế đã đầy đủ hạnh phúc, trí tuệ của chân lý. Càng chân chính tu hành thì ánh sáng vi tế càng rõ ràng hơn. Khi tu hành đến bậc Giác Ngộ thì trí tuệ ánh sáng khai ngộ, là trí tuệ xuyên suốt mọi cõi giới, đó chính là trí tuệ của bậc Giác Gỉa. Kinh Ánh Sáng giản dị là vì lẽ đó.

 

Sự từ bi của các Đại Giác Gỉa tại thế giới ánh sáng: Chư vị tu hành đạo Ánh Sáng chân chính đến khi bước vào cửa sinh tử, nhưng chư vị chưa thể tu thành người giác ngộ. Chỉ cần chư vị là học viên chân chính, giây phút lâm chung đó ánh sáng vi tế tại thế giới Ánh Sáng xuất hiện độ linh hồn chư vị thoát khỏi các cảnh giới tối trong tâm linh. Dưới luồng ánh sáng vi tế, các Đại Giác Gỉa tại thế giới Ánh Sáng sẽ cấp cho chư vị cơ hội tu hành mà ngộ trong cảnh giới tâm linh, tại cao tầng ánh sáng mà buông bỏ hẳn trở về thế giới Ánh Sáng. Nếu chư vị nguyện tu hành đến khi thành bậc Giác Gỉa Ánh Sáng để trở về, hoăc chư vị sẽ tiếp tục vào chu kỳ sống mới với duyên phận tiếp tục tu hành Đạo Ánh Sáng tùy vào tâm nguyện của chư vị. Với các học viên bình thường thì giây phút sinh tử do chư vị không có khởi nguyện tu hành nên ánh sáng vi tế tại cao tầng sẽ độ linh hồn chư vị về những cao tầng phù hợp với nhân duyên của chư vị, hay bước vào vòng luân hồi vào những thời kỳ yên bình an lạc mà không chịu những đau khổ tại các cảnh giới tâm linh tối. Những học viên vừa tu hành đạo Ánh Sáng vừa tu hành các con đường tâm linh khác thì sẽ trở về thế giới các Bậc Giác Gỉa con đường tu hành đó hoặc có nhân duyên đặc biệt sẽ về thế giới Ánh Sáng.

 

Kinh và ánh sáng vi tế là thước đo con đường tu hành:

 

Chỉ cần nhìn vào bản thể ánh sáng của chư vị và kinh Ánh Sáng, chư vị hoàn toàn có thể chân chính tu hành, giác ngộ để đạt quả vị Bậc Giác Gỉa. Kinh với các thủ pháp ánh sáng đã đầy đủ những pháp lý tại cao tầng ánh sáng để chư vị có thể tu hành. Khi chư vị phát tâm chân chính tu hành và quyết tâm tu luyện, thì chư vị đã được ánh sáng vi tế soi sáng cảnh giới tối trong thế giới tâm linh, trường ánh sáng gia hộ cho chư vị, và các bậc Giác Gỉa dõi theo, gia hộ cho chư vị trên con đường tu hành. Sư phụ chỉ phổ truỳên cho chư vị con đường, và là giáo chủ về tinh thần. Dù chư vị đang ở giai đoạn nào trong sinh lão bệnh tử, kinh cũng độ cho chư vị được, thậm chí chư vị nằm một chỗ không ngồi thiền kiết già được, chư vị vẫn có thể tu hành duy nhất thủ pháp Quán thân ánh sáng để tu tập. Chư vị không nhìn vào người khác, việc khác, cái gì buông bỏ được rồi thì không được ngoảnh lại, các vật chất tối sau lưng sẽ níu kéo chư vị lại. Bản chất tu hành thủ pháp Ánh Sáng của đạo luôn là để chư vị thấy tự nhiên, hạnh phúc trong cả cuộc sống lẫn trong tu đạo. Chư vị buông bỏ nhưng hạnh phúc và không thấy gò bó điều gì cả. Và khi tu hành, chư vị dần hóa thân thành ánh sáng vi tế, ánh sáng ấm áp từ cao tầng ánh sáng, sưởi ấm soi sáng cõi giới tâm linh của chính chư vị và của những chúng sinh khác.

 

Tĩnh, không và vô:

 

Tĩnh, không và vô không phải là bất động, vô vị, nhàm chán. Mà là tĩnh trong động, tĩnh mà linh hoạt. Tĩnh nhưng hạnh phúc tôn trào. Hạnh phúc tuôn trào mà nhẹ nhàng đã vốn có sẵn không vì điều gì mà có. Là đơn giản nhất, tinh khiết nhất, nhưng hạnh phúc nhất.

 

Ánh sáng vi tế hóa giải các suy nghĩ tạp: Khi ai đó làm chư vị không vừa ý, hay bỗng nhiên trong vô thức, có những suy nghĩ bực dọc trách móc bỗng dưng ùa đến. Các điều này có thể đơn giản, nhưng cũng có thể phức tạp. Thì ngay khi gặp những điều đó chư vị cũng cần bình thản, giữ vững thân ở thể tinh khiết, ánh sáng vi tế và các đặc tính ánh sáng thì những điều đó sẽ biến mất một cách nhẹ nhàng. Nếu chư vị tu hành chuyên tu, giữ thủ pháp ánh sáng vi tế thì tự các suy nghĩ tạp, các vật chất tối này cũng không đến. Nếu chư vị quán, chư vị sẽ thấy ánh sáng vi tế đang hóa giải nhân quả xấu đó cho chư vị, là hóa giải chứ không phải tiêu diệt, nghiệp quả cũng là chúng sinh có linh tính, cũng cần được giải thoát. Ở ngoài thế giới vật chất, chư vị sẽ thấy nhẹ nhàng, tan biến những tiền đề của mâu thuẫn với sự bình yên trong lòng. Sự nhân từ, hạnh phúc đến đầy đủ tự bên trong.

 

Ngộ trong ánh sáng chân lý:

 

Quán thân ánh sáng với sự nhân hậu, từ bi, không để thế giới vật chất bên ngoài và thế giới tâm linh với những suy nghĩ tạp bên trong tác động đến thế giới ánh sáng của chư vị, vì chư vị luôn bình thản. Cũng không dùng thế giới bên ngoài tác động đến thế giới bên trong của chúng sinh khác ngoài ánh sáng nhân hậu từ bi, và các đặc tính của ánh sáng vi tế. Tĩnh lặng của chân lý để hiểu biết thế gian.

 

Chư vị là ai:

 

Bản chất con người, lý do và sứ mệnh con người tồn tại là điều được nhân loại trăn trở kể từ thời kỳ triết học xa xưa. Chư vị ở đó nhưng không phải là chư vị, bản thể thật chư vị đang tồn tại ở một tầng thứ trong thế giới tâm linh. Thân xác chư vị là phản ánh thế giới tâm linh tại thế giới vật chất. Thân xác chư vị bao phủ bên ngoài là da, tóc còn bên trong là cả vũ trụ rộng lớn là thế giới tâm linh. Bản thể chư vị mang đặc tính ánh sáng, thuần khiết, nhẹ nhàng và hạnh phúc. Bản thể đó của chư vị bị che khuất bởi lớp lớp khí đen cuộn lấy, vây hãm ánh sáng bản thể chư vị và ánh sáng vi tế từ cao tầng chiếu xuống. Khi chư vị tu hành, chư vị tu hành phần bản thể ánh sáng này để thoát ra khỏi những tăm tối tại thế giới tâm linh, đi về ánh sáng chân lý là ánh sáng vi tế từ cao tầng. Đây là điều cốt lõi để tu hành, nếu chư vị không biết chư vị là ai, bản thể thật của chư vị thì không khác gì khi tu hành chư vị tu luyện tất cả thế giới tâm linh, sẽ khó giải thoát hoàn toàn cho bản thể thật này. Đó chỉ tính như tác động vòng ngoài, tác động vào thân thể vật chất, chấn động không đủ sức giải thoát. Chư vị đọc nhiều lý luận, cầu nguyện, hay tu các động tác thân thể cầu kỳ, điều đó được tính như là phải đi xe vào thành phố mà chư vị chỉ được đi vòng quanh ngoại ô. Ngõ ngách nào chư vị cũng được đi, cảnh quan thay đổi liên tục, khiến chư vị cảm thấy phấn khích lắm, nhưng mãi chư vị không đến được trung tâm thành phố, vẫn chỉ là đi lòng vòng ở ngoại ô. Có những con đường tu hành song chư vị cũng tu mãi không thành, tựa như có các giai cấp quyền lực, các nô bộc, nô lệ, dân thường, pháp lý tuy là chân chính song chỉ chạm vào bề ngoài khiến chư vị hào khí vì ánh sáng ở trung tâm thành phố chư vị nhìn thấy là sự thật. Cơ hội đó không dành cho đa số chư vị, chư vị chỉ là dân thường, các nô bộc trung thành đi lòng vòng ở ngoại ô trong ao ước về giác ngộ và ánh sáng chân lý. Tu hành vốn là giác ngộ trong hư ảo, mê mờ như là đi trong mê cung ở cõi giới tối. Nay đã có ánh sáng chân lý giữa cảnh giới tối, cấp cho chư vị lẽ công bằng, bản chất thật của sự giải thoát. Độ nhân thì bất kỳ con đường tu hành chân chính nào cũng không có điều kiện, chỉ là chư vị có ngộ và có đi hay không mà thôi. Tiền tài, quyền lực, các hạnh phúc hư ảo chỉ là công cụ cuộc sống vật chất, không phải chân lý cuối cùng. Con đường của ánh sáng, của chân lý đang được mở ra trước mắt chư vị. Để chư vị vững bước tu hành, đạt hạnh phúc và giác ngộ ngay khi đang sống, tồn tại và hạnh phúc của giác ngộ khi trở về, hoàn toàn là độ nhân.

 

Tiêu chuẩn tu hành và thuật ngữ trong Kinh Ánh Sáng

 

-Ánh sáng vi tế là ánh sáng giác ngộ, ánh sáng giải thoát, ánh sáng mầu nhiệm và từ bi tại cao tầng ánh sáng.

 

-Học viên nên phát tâm thiện giới thiệu, tặng hay cho mượn Kinh sách với người thân thiết, quen biết, việc này là tự nhiên không gò bó.

 

-Việc tu hành không được có ảnh hưởng đến cuộc sống người khác, không được có tác động lớn vào xã hội: Ví dụ tập trung ngồi thiền ở nơi công cộng, mời người không quen biết tu hành một cách trực tiếp, cuộc sống của học viên cũng không được xáo trộn, vẫn diễn ra như bình thường.

 

-Không được nói lẫn, giảng lẫn Kinh Ánh Sáng với các pháp môn khác. Đây là phương thức, con đường tu hành riêng biệt với đầy đủ pháp lý và thủ pháp.

 

-Các học viên đạo Ánh Sáng tuyệt đối và mãi mãi không được dùng các pháp lý Kinh Ánh Sáng, hay danh nghĩa đạo Ánh Sáng để tham gia các hoạt động chính trị, đấu tranh, tạo lên những quyền lực cho các mục đích. Đây là điều không bao giờ thay đổi, đạo Ánh Sáng là thuần khiết tu hành.

 

-Đạo Ánh Sáng bản chất tu hành âm thầm. Tuy nhiên trong thời kỳ này, Kinh Ánh Sáng được phổ truyền rộng rãi để độ nhân, nhưng các học viên bản chất vẫn là tu âm thầm và sống cuộc sống như người bình thường.

 

-Sư phụ, Giáo chủ là thuật ngữ chỉ có tác dụng ghi nhận công đức người đã phổ truyền Kinh cho chư vị. Các học viên không gọi nhau là thầy, đại sư hay tương đương, tất cả chúng sinh đều bình đẳng trước ánh sáng chân lý bao gồm cả sư phụ, giáo chủ.

 

-Kinh văn bất biến không thêm bớt chữ, học viên tu hành phải đọc thường xuyên. Các học viên không được viết lại sách giải nghĩa Kinh.

 

-Học viên không thêu dệt những cảm giác thần thánh, chư vị tu hành trong ánh sáng vi tế vốn tinh khiết, từ bi.

 

-Kinh Ánh Sáng, đạo Ánh Sáng là duy nhất, bất cứ việc tách đạo ra nhiều đạo nhỏ được xem là tà đạo và không thừa nhận.

 

-Các học viên không mở lớp phổ truyền Kinh.

 

-Kinh văn thuần tính từ bi, cốt lõi thực tu tâm và tu trong cuộc sống như không có chuyện gì xẩy ra. Chư vị có tu hay không là duyên phận, giác ngộ của chư vị có vượt qua các chủng loại ma tâm với nghị lực, hướng thiện chư vị hay không, mọi cái được đến một cách tự nhiên. Tất cả đều đã hết lòng vì chư vị rồi. Pháp lý và thủ pháp đều giảng đầy đủ cho chư vị. Vì thế không có lý do gì chư vị nói xấu đạo khi chư vị không tu, không đọc, hay không hiểu. Nếu không, chư vị tự đẩy mình vào cảnh giới tối theo luật nhân quả.

 

-Học viên có thể phát tâm dịch Kinh ra nhiều thứ tiếng, đưa kinh sách tiếp cận với nhiều chúng sinh khác từ tâm từ bi của học viên. -Học viên có thể chia sẻ thoải mái suy nghĩ về tu hành với mọi người và đó là chia sẻ chứ không phải giảng dậy. Học viên sẽ nói rõ là phải đọc Kinh để tự ngộ. Như thế chính là giúp đỡ chúng sinh khác một cách chân chính.

 

-Đạo Ánh Sáng tôn trọng và không phủ nhận pháp lý tất cả đạo, pháp khác. Cũng như các đạo pháp khác, đạo Ánh Sáng phổ truyền và bảo lưu những pháp lý riêng của đạo Ánh Sáng.

 

-Niệm quyết được coi như là câu thần chú trong Kinh Ánh Sáng, học viên sẽ niệm thầm vào mỗi sáng sớm. Khi các chư vị rơi vào những tình huống mê mờ, đau khổ. Học viên niệm quyết đến khi quán được thân ánh sáng sẽ có sự gia hộ các thần Ánh Sáng và xuất hiện trí tuệ ánh sáng để độ ra khỏi cảnh giới tối đó cho chính mỗi học viên.

 

-Học viên chỉ đọc kinh Ánh Sáng, tiếp nhận các pháp lý mà không tu luyện được coi là học viên bình thường. Học viên đọc kinh và quyết định tu hành được coi là học viên tu hành, là người tu hành.

 

-Học viên tu hành có pháp danh là thêm hai chữ Ánh Sáng vào trước tên và tên đệm học viên đó. Ví dụ: Ánh Sáng Minh Trí, Ánh Sáng Minh Tâm.

 

-Học viên không được cầu cơ, nhập hồn, thỉnh ngải, lên đồng, trừ tà, bùa chú. . Được coi như là giao phó linh hồn mình cho các thế lực tâm linh không thuộc tầng thứ các Bậc Giác Gỉa. Người tu hành tiến đến cao tầng ánh sáng, chân chính vượt qua mọi cảnh giới tâm linh mê mờ để thành bậc Giác Ngộ nên điều đó là không được phép. Chư vị phải giữ minh trí của mình, là trí tuệ của ánh sáng vi tế, không được để các sự hư ảo, mê tín, mê mờ mà làm loạn thần trí.

 

-Các học viên không đưa hình ảnh sư phụ vào những trạng thái cực đoan, hay ví như những người siêu thường vì điều đó không cần thiết. Chư vị nhìn chủ yếu vào Kinh để tu hành.

 

-Các học viên đều có thể phát tâm nguyện thành học viên hộ pháp, duy trì Kinh bất biến, dùy trì đạo và pháp lý được đến với các chúng sinh khác với tâm thanh thản, tự nhiên. Các học viên này được coi là công đức vô lượng.

 

-Kinh Ánh Sáng phù hợp với mọi chúng sinh, từ người không tu đạo, đến người tu hành, từ người chuyên tu đạo Ánh Sáng, đến người tu hành các pháp môn chân chính khác, từ người tàn tật đến người khỏe mạnh, mọi chủng tộc mầu da, kể cả người đại ác cũng được có cơ hội giác ngộ trở về con đường tu hành, người các pháp môn không chân chính thì có cơ hội để ngộ, nhận ra mà quay về chân chính, tất cả đều được bình đẳng.

 

-Kinh Ánh Sáng là cuốn kinh duy nhất tu hành thủ pháp ánh sáng.

 

-Các học viên đọc Kinh và chuẩn bị tâm tu hành ít nhất một tháng trước khi tu hành nếu phát nguyện tu hành.

 

 

Mục Tham Khảo

 

Hiện tượng ngoại cảm, tìm mộ liệt sĩ, và báo hiếu người đã khuất Đất nước ta đã trải qua vô số cuộc chiến tranh, số lượng người hy sinh trong các cuộc chiến tranh là vô cùng lớn. Chiến tranh là vô cùng khốc liệt vậy nên đã có nhiều người nằm xuống và thất lạc mất hài cốt. Điều đó tạo nên những nỗi niềm luôn canh cánh trong lòng cho những người còn lại nhất là những người thân, khi chiến tranh qua đi và sống trong cảnh hòa bình. Việc tìm lại hài cốt của những người thân, hài cốt các liệt sĩ đã thất lạc trong chiến tranh là nguyện vọng chính đáng của những người thân trong gia đình liệt sĩ đó. Gần đây Việt Nam rộ lên một xu hướng tìm mộ theo hướng tâm linh là bằng ngoại cảm. Việc tìm mộ bằng ngoại cảm mang lại sự an lòng cho nhiều gia đình các liệt sĩ, cũng đem lại nhiều những hệ lụy khác. Vậy ngoại cảm được hiểu như thế nào. Nếu những nhà ngoại cảm không phải là những người tu tập thành người giác ngộ để tự khai ngộ trí tuệ nhìn thấy bản chất mọi cõi giới, thì các nhà ngoại cảm được nhìn nhận như những người thường đặc biệt. Khả năng ngoại cảm của các nhà ngoại cảm là được đến từ nhiều nhân duyên phức tạp, mà bộ não các nhà ngoại cảm tương tác được với các cõi giới khác. Và sinh mệnh cõi giới khác có thể giao tiếp bản thể nhà ngoại cảm đó thông qua bộ não của họ. Các sinh mệnh này có thể là sinh mệnh cao tầng, nhưng không phải là tầng thứ bậc Giác Gỉa, cũng có thể là sinh mệnh tại cõi tâm linh tối. Và chính các nhà ngoại cảm, họ cũng không biết rõ sinh mệnh mình tương tác là đến từ cõi giới nào. Sinh mệnh dù ở cõi giới cao hay ở cõi cảnh giới thấp, cảnh giới tối trong tâm linh, thì đều có những khả năng hơn người thường mắt thịt, nên dù xấu hay tốt thì các gia chủ đều thấy sợ hãi với những khả năng thi truyển. Nhưng nếu là những vật chất tối có linh tính tương tác với nhà ngoại cảm thì sự nguy hiểm đặt lên chính nhà ngoại cảm đó và với những gia đình nhờ nhà ngoại cảm tìm hài cốt liệt sĩ. Điều đó lý giải cho nhiều hiện tượng phức tạp đã nẩy sinh như bị điên khi áp vong tìm mộ, nhà ngoại cảm tìm mộ không đúng, hay khả năng lúc có lúc mất, chưa kể đi kèm là nhiều hiện tượng lừa đảo thành nhà ngoại cảm mà không có khả năng. Tất nhiên rằng cũng có những nhà ngoại cảm chân chính tương tác với sinh mệnh tại cao tầng. Tuy nhiên việc đi tìm hài cốt liệt sĩ của gia đình liệt sĩ cũng được đánh giá là rất khó khăn. Với những gia đình học viên có mong muốn đi tìm hài cốt liệt sĩ là người trong gia đình mình. Bản thể, linh hồn các liệt sĩ đang ở trong cõi giới tâm linh, tại một tầng thứ nào đó. Việc chư vị tìm mộ liệt sĩ là tâm nguyện chính đáng của chư vị, sẽ không xen vào, nhưng chư vị đã là người tu hành thủ pháp ánh sáng thì không được tham gia các hoạt động áp vong hay tương tự. Bản thể, linh hồn chư vị, chư vị phải tự quản lý, không thì tu hành sao được nữa. Song việc báo hiếu thật sự tận gốc rễ cho linh hồn là giúp các linh hồn nhận ra mà buông bỏ trong cõi mê hư ảo, để tu hành lên tầng thứ cao hơn, giải thoát, không còn đau khổ. Việc bản thể luyến tiếc thân xác cũng là một sự ràng buộc tại thế gian. Khi giải thoát thì linh hồn đã được lên cõi cao hạnh phúc, không còn luyến tiếc thân xác nữa, đó mới thật sự là hạnh phúc của linh hồn. Vì thế còn một con đường chân chính nữa báo hiếu tận gốc rễ cho chư vị là phát nguyện cho linh hồn các liệt sĩ tu hành lên cõi giới cao, điều này cũng áp dụng với cả các chư vị muốn báo hiếu những người đã khuất là cha mẹ, anh em, không chỉ riêng với các liệt sĩ. Kinh Ánh Sáng cũng cấp ánh sáng vi tế, thủ pháp ánh sáng độ cho các linh hồn con đường tu hành nếu linh hồn này còn quanh quẩn trong các cõi giới tâm linh tối với những ràng buộc, trong đau khổ. Điều này chỉ được áp dụng với các học viên tu hành, các học viên bình thường đọc và hiểu pháp lý Kinh Ánh Sáng một tháng trở lên. Các chư vị hoàn toàn có thể tự làm được điều này. Chọn một buổi sáng trời đẹp quang đãng, chư vị [chỉ] bầy hoa quả cúng thần linh, gia tiên và nguyện cầu tên liệt sĩ gia đình chư vị. Chư vị đã hiểu các pháp lý trong Kinh Ánh Sáng, chư vị khấn liệt sĩ và quán ánh sáng mang những pháp lý đến cõi tâm linh. Sau đó chư vị đọc thầm, hay đọc nhỏ một lượt cả cuốn Kinh Ánh Sáng. Chư vị đọc xong hãy khấn cho linh hồn khởi nguyện tu hành. Rồi chư vị để cuốn Kinh Ánh Sáng vào một nơi sáng, cao ráo, trang trọng trong 3 tháng cho các linh hồn tu hành. Chư vị hãy yên tâm rằng chư vị vừa làm thêm được một điều trân quý nhất cho hương hồn người thân gia đình chư vị. Ánh sáng vi tế của chân lý đã soi rọi đến cõi tâm linh độ cho linh hồn người thân chư vị tu hành thoát khỏi cảnh khổ, sự hư ảo. Lưu ý rằng, đây là đường lối tu hành, chư vị chỉ được phép làm trong nội bộ gia đình chư vị, không được phép làm cho gia đình người khác, điều này gây ảnh hưởng đến xã hội và xen quá sâu vào nhân quả người khác là không được phép. Mong những điều tốt đẹp nhất đến với chư vị, đến với các học viên. Sư phụ Hoàng Anh Ánh Sáng “Ánh Sáng của chân lý Soi rọi mọi chúng sinh”.

 

Keywords:kinh anh sang anh sang vi te va cao tang anh sang,su phu ho manh trung,bai giang va nghien cuu

Bình luận
Liên hệ
Tìm kiếm
Tương tự
Viết bình luận về: kinh ánh sáng ánh sáng vi tế và cao tầng ánh sáng
Họ tên*:
Email*:
Nội dung*:
Mã bảo vệ*:
   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

kinh ánh sáng ánh sáng vi tế và cao tầng ánh sáng

kinh ánh sáng ánh sáng vi tế và cao tầng ánh sáng

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting

Đăng nhập tài khoản
Các mục liên quan
Các mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 423
Hôm nay:58431
Hôm qua: 65015
Trong tháng 766566
Tháng trước1793438
Số lượt truy cập: 113406816