Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam lên facebook!
nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam

12/01/2017 Uploader: AMBN Loại file: pdf

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc Việt nam, LA khảo sát những nghiên cứu liên quan đến luận án cho thấy, các công trình đã bàn về nhiều nội dung cơ bản của nghệ thuật hợp xướng như: Lịch sử nghệ thuật hợp xướng thế giới và ở Việt Nam; Kỹ thuật thanh nhạc trong hát hợp xướng, phương pháp dàn dựng và chỉ huy hợp xướng.. . Theo đó, sự phát triển nghệ thuật hợp xướng ViệtNam đã, đang và sẽ được quan tâm. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở cần thiết mà Luận án kế thừa như nguồn tư liệu phong phú khi bàn về các vấn đề học thuật/âm nhạc học. Trên cơ sở những vấn đề về lịch sử tổng quan của sự phát triển nghệ thuật hợp xướng thế giới và Việt Nam

HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM 2016

 

 LUẬN ÁN TIẾN SĨ ÂM NHẠC HỌC

NGHỆ THUẬT HỢP XƯỚNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN NỀN ÂM NHẠC VIỆT NAM

 

CHUYÊN NGÀNH: ÂM NHẠC HỌC MÃ SỐ: 62210201

LÊ VINH HƯNG HDKH GS. NSND. NGUYỄN TRỌNG BẰNG PGS. TS. NGUYỄN PHÚC LINH

 

 

 

MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài:

 

Nghệ thuật hợp xướng được hình thành từ thời Trung cổ ở nhà thờ Thiên Chúa giáo của một số nước châu Âu và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong kho tàng âm nhạc của nhân loại. Là loại hình nghệ thuật được thể hiện bằng giọng hát nhiều bè, bằng các hình thức và thủ pháp âm nhạc phong phú, đa dạng, hợp xướng có thế mạnh nổi trội mà ít thể loại âm nhạc khác sánh kịp trong việc thể hiện những tư tưởng/tình cảm của tập thể và chuyển tải tiếng nói đồng vọng của quần chúng, đặc biệt là trong việc gợi lên những vấn đề lớn lao của xã hội và phản ánh tình cảm cao đẹp của con người với cộng đồng, với dân tộc, với thời đại.

 

Thể loại hợp xướng luôn được các nhạc sĩ coi là một trong những phương tiện âm nhạc hiệu quả để tạo màu sắc âm nhạc cho sân khấu, nhất là trong việc tạo ra kịch tính phát triển đến cao trào để truyền đạt tới khán - thính giả. Trong các thể loại âm nhạc lớn như: Missa, requiem, cantata, oratorio, opera, giao hưởng hợp xướng… hợp xướng luôn là thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập sự liên kết cho một chỉnh thể tác phẩm âm nhạc. Nhiều bản hợp xướng trong các thể loại âm nhạc lớn được ưa thích và xuất hiện thường xuyên trong các buổi hòa nhạc trên thế giới. Nghệ thuật hợp xướng không chỉ hấp dẫn bởi thế mạnh trong việc miêu tả những vấn đề lớn lao của xã hội, mà còn đòi hỏi sự tinh tế, sâu sắc giữa âm nhạc với thơ ca, khả năng về tri thức khoa học âm nhạc của người sáng tạo một cách toàn diện cả về thanh nhạc và khí nhạc. Chính vì vậy, ở các quốc gia có nền âm nhạc hàn lâm kinh điển phát triển thì hợp xướng là một trong những nghệ thuật được chú trọng và luôn được tổ chức biểu diễn thường xuyên.

 

Sự hình thành và phát triển nền âm nhạc mới của Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật hợp xướng Việt Nam, có mối quan hệ trực tiếp với sự du nhập của văn hóa âm nhạc phương Tây (chủ yếu là Pháp) Từ đầu thế kỷ XX. Trải qua hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, nền âm nhạc mới của nước ta ngày càng lớn mạnh và phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp xây dựng "nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã, đang và sẽ cho phép kế thừa và phát huy những nhân tố độc đáo trong nền âm nhạc cổ truyền của ta, kết hợp với việc tiếp thu một cách có chọn lọc tinh hoa âm nhạc thế giới, nhằm góp phần làm cho vốn âm nhạc của ta thêm phong phú.

 

Ngay từ những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, dù hoàn cảnh kinh tế đất nước gặp vô vàn khó khăn, dòng âm nhạc hàn lâm nói chung và nghệ thuật hợp xướng nói riêng vẫn phát triển.

 

Nhiều tác phẩm hợp xướng đã ra đời với nội dung đề tài đa dạng. Nhiều dàn hợp xướng chuyên nghiệp có quy mô lớn, nhỏ đã biểu diễn trên các sân khấu trong và ngoài nước, gây được tiếng vang trong công luận và thu hút sự quan tâm, hưởng ứng của công chúng. Bên cạnh những dàn hợp xướng chuyên nghiệp, những dàn hợp xướng quần chúng cũng hình thành dưới sự giúp đỡ của các nghệ sĩ chuyên nghiệp có năng lực, có tâm huyết. Nghệ thuật hợp xướng đã có đóng góp lớn trong đời sống xã hội, thực sự phát huy khả năng tiềm tàng trong việc giáo dục con người.

 

Trong thời gian gần đây, sự giao lưu văn hóa với các nước, các khu vực khác trên thế giới là một vấn đề mang ý nghĩa thời đại. Âm nhạc Việt Nam và nhất là nghệ thuật hợp xướng cũng mang ý nghĩa thiết thực trong việc quảng bá văn hóa âm nhạc dân tộc với thế giới. Trên thực tế, các lĩnh vực sáng tác và biểu diễn hợp xướng của Việt Nam những năm gần đây đều có những bước khởi sắc mới, đang tiến triển, hội nhập với khu vực và thế giới. Phát triển nghệ thuật hợp xướng, theo đó, là hoàn toàn cần thiết, là vấn đề quan trọng trong sự phát triển chung của nền âm nhạc Việt Nam.

 

Hợp xướng là một thể loại âm nhạc, vừa mang tính hàn lâm, vừa mang tính phổ cập, dễ hiểu, gần gũi công chúng hơn so với những thể loại âm nhạc khác (ví dụ như dàn nhạc giao hưởng), tạo điều kiện cho sự phát triển thị hiếu âm nhạc lành mạnh của công chúng. Việc nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc bằng cách tổ chức rộng rãi hát hợp xướng quần chúng tại các cộng đồng cư dân, trường học, công sở… sẽ tạo điều kiện cho bất cứ ai có lòng say mê cũng có thể trở thành hợp xướng viên, và đây cũng là môi trường để các tài năng âm nhạc phát triển thành nhạc sĩ/ca sĩ chuyên nghiệp. Lịch sử âm nhạc đã chứng minh rằng rất nhiều nghệ sĩ hát nhạc kịch đã được đào tạo từ hợp xướng viên.

 

Tuy vậy, sự nghiệp sáng tác, biểu diễn hợp xướng ở nước ta không phải lúc nào cũng hoàn toàn thuận buồm xuôi gió. Có những thời gian các nhạc sĩ ít viết cho thể loại này, dàn hợp xướng dường như thưa hẳn trên các sân khấu biểu diễn và các phương tiện thông tin đại chúng. Cho nên, việc đánh giá những chặng đường đã qua để rút ra nguyên nhân những kết quả đã đạt được và những vấn đề tồn tại, gây trở ngại cho sự phát triển của nghệ thuật này là việc làm rất đáng được quan tâm. Nhìn tổng thể, nghệ thuật hợp xướng ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự có tiếng nói mạnh mẽ trong hoạt động nghệ thuật âm nhạc nói chung trên cả nước, do đó cần có sự quan tâm một cách cơ bản, đồng bộ, hệ thống để phát triển mạnh mẽ. Việc nghiên cứu lý luận về nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc Việt Nam là rất quan trọng và cấp thiết.

 

Xuất phát từ những nhận thức trên, là người có nhiều năm trực tiếp nghiên cứu, dàn dựng, giảng dạy bộ môn Hợp xướng của trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, tôi chọn hướng nghiên cứu về “Nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc Việt Nam” làm đề tài Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học.

 

2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu:

 

Mục đích: Khẳng định những đóng góp của nghệ thuật hợp xướng đối với sự phát triển của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam và đưa ra những đề xuất góp phần phát triển loại hình nghệ thuật này trong tương lai.

 

Mục tiêu: Nghiên cứu về nghệ thuật hợp xướng, sơ lược về lịch sử nghệ thuật hợp xướng phương Tây và quá trình du nhập nghệ thuật hợp xướng vào Việt Nam làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho luận án.

 

Nghiên cứu nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc cách mạng ViệtNam, đánh giá một số vấn đề về sáng tác hợp xướng (nội dung đề tài, đặc điểm âm nhạc) Và biểu diễn hợp xướng (các công đoạn dàn dựng, biểu diễn hợp xướng).

 

3. Đối tượng nghiên cứu:

 

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật hợp xướng, chủ yếu trong lĩnh vực sáng tác, biểu diễn, nhìn dưới góc độ sự phát triển nền âm nhạc cách mạng Việt Nam.

 

Nghiên cứu về nội dung đề tài, đặc điểm âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn tác phẩm hợp xướng Việt Nam (trên cơ sở tư liệu sưu tầm các tác phẩm hợp xướng độc lập và công trình nghiên cứu đã xuất bản).

 

4. Phạm vi nghiên cứu:

 

Nghiên cứu một số vấn đề về nghệ thuật hợp xướng ở Việt Nam, trong đó đi sâu vào hai lĩnh vực sáng tác, biểu diễn và khảo sát thêm về lĩnh vực đào tạo hợp xướng.

 

Về thời gian, tập trung khảo sát tư liệu từ năm 1954 đến nay, trong đó chủ yếu là các tác phẩm hợp xướng độc lập đã được biểu diễn trước công chúng, thu âm, in ấn.

 

Về không gian, khảo sát các nghiên cứu về nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam (đặc biệt là ở Hà Nội).

 

5. Phương pháp nghiên cứu:

 

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết cơ bản gồm:

 

Nghiên cứu tư liệu, thực hiện phán đoán suy luận trên cơ sở tư liệu thu thập được.

 

Sử dụng một số phương pháp phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh.

 

Phương pháp trao đổi ý kiến chuyên gia.

 

Đúc kết kinh nghiệm của bản thân thông qua hoạt động biểu diễn và giảng dạy.

 

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:

 

Luận án là sự tiếp tục các công trình đã nghiên cứu về hợp xướng tại Việt nam. Tính mới của đề tài là sự phân tích một cách tổng thể về nghệ thuật hợp xướng ở Việt Nam, đóng góp một phần nhỏ bổ sung cho các công trình về lịch sử âm nhạc Việt Nam.

 

Luận án nghiên cứu về nghệ thuật hợp xướng với tư cách là một hiện tượng trong nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, nhận xét tổng quát về nghệ thuật hợp xướng, những tồn tại và hướng giải quyết cho triển vọng phát triển hợp xướng ở Việt Nam.

 

Luận án góp phần khẳng định sự đóng góp của nghệ thuật hợp xướng đối với sự phát triển nền âm nhạc Việt Nam.

 

7. Tổng quan và vấn đề nghiên cứu:

 

7.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

 

Nghiên cứu về lịch sử nghệ thuật hợp xướng

 

Trong các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về lịch sử nghệ thuật hợp xướng, thường có hai cách phân chia chính: Một là phân chia theo giai đoạn lịch sử âm nhạc phương Tây (Trung cổ, Phục hưng, Ba rốc, Cổ điển, Lãng mạn, Cận đại - Đương đại), hai là phân chia theo niên đại thế kỷ (thế kỷ X, XI, XII…).

 

Theo phương pháp thứ nhất, có công trình của Homer Ulrich: A survey of choral music (Tổng quan về âm nhạc hợp xướng), Nhà xuất bản Schirmer - Harcourt Brace - New York -USA, 1973, gồm 11 chương. Chương I và chương II khái quát lịch sử phát triển hợp xướng.

 

Chương III và chương IV bàn về hợp xướng tôn giáo và hợp xướng thế tục. Từ chương VI đến chương XI bàn về các thời kỳ phát triển của nghệ thuật hợp xướng, đi sâu phân tích phong cách âm nhạc, hình thức âm nhạc hợp xướng. Cách phân chia này còn được gặp trong Choral connections treble voices của Nhà xuất bản Glencoe/McGraw – Hill, gồm hai tập dùng để giảng dạy tại New York, Columbus, Ohio, Woodland Hills, California, Peoria, Illinois. Tập 1 có 15 bài tập viết cho hai loại giọng soprano và alto; Tập 2 viết cho hợp xướng hỗn hợp. Cùng với cung cấp các vấn đề chung về giảng dạy hợp xướng, mỗi bài tập chia thành ba phần chính: Khởi động giọng (vocal warm-up), thị tấu (sight-singing) Và vận dụng thể hiện tác phẩm (singing) … Cuốn sách sắp xếp tác phẩm hợp xướng theo lịch sử âm nhạc:

 

Phục hưng (G. Dufay, G. P. Da Palestrina…), Ba rốc (C. Monteverdi, A. Corelli, J. S. Bach, G. F. Handel…), Cổ điển (F. J. Haydn, W. A. Mozart, V. Bellini…), Lãng mạn (F. Schubert, H. Berlioz, J. Brahms…), Đương đại (R. Strauss, Ch. Ives, B. Bartok, I. Stravinsky…).

 

Theo phương pháp thứ hai, công trình của Percy Marshall Young: The Choral tradition - An historical and analytical survey from the sixteenth century to the present day (Truyền thống hợp xướng - Tổng quan phân tích và lịch sử thế kỷ XVI đến nay), năm 1962 đã tập trung nghiên cứu về phong cách âm nhạc thông qua phân tích tác phẩm hợp xướng.

 

Đặc biệt, tác giả đã nêu bật sự cống hiến của các nhạc sĩ tên tuổi ở thế kỷ XVIII đối với hợp xướng như: J. S. Bach và G. F. Handel, F. J. Haydn và W. A. Mozart.

 

Nghiên cứu về phương diện âm nhạc học của hợp xướng

 

Trong nhóm này, tiêu biểu hơn cả là công trình của Ch. Koechlin: Cách phối các giọng hát, Hội nhạc sĩ Việt Nam, năm 1965, do Đỗ Mạnh Thường dịch từ tiếng Pháp sang tiếng

 

Việt, gồm 5 phần: Phần thứ nhất - Tính năng các giọng hát; Phần thứ hai - Cách phối các giọng hát; Phần thứ ba - Dàn nhạc đệm cho đơn ca; Phần thứ tư - Dàn nhạc đệm cho hợp ca; Phần thứ năm - Dàn nhạc đệm cho hợp xướng. Đây là cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề trong kỹ thuật sáng tác thanh nhạc nói chung và cho hợp xướng nói riêng, phân tích các tác phẩm viết cho hợp xướng và dàn nhạc của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng thế giới, tìm hiệu quả chung trong cách sử dụng “âm thanh thật” của mỗi loại giọng người mà các bậc thầy sáng tác thanh nhạc đã sáng tạo, đúc rút kinh nghiệm cho việc lựa chọn, khai thác.

 

Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy và biểu diễn hợp xướng

 

Cuốn sách của Rosemary Heffley, Lois Land, Lou Williams-Wimberly (1977): A cappella songs without words with preparatory etudes, Nhà xuất bản AMC Publications, Houston đề cập đến kỹ năng rèn luyện hợp xướng nữ, tập hợp có hệ thống các bài tập không lời về phương pháp nhấn giọng, chuyển giọng riêng biệt giữa giọng trưởng và giọng thứ; Đòi hỏi sinh viên luyện tập thường xuyên về thay đổi cường độ sắc thái, yêu cầu tập trung cao để thực hiện phương pháp hòa bè thị tấu khi tập luyện và biểu diễn.

 

Giáo sư Maurice Chevais có Giáo dục âm nhạc tuổi thơ gồm 3 tập, Nhà xuất bản Alphonse Le Duc-Saint Honore-Paris, do Đỗ Mạnh Thường dịch từ nguyên bản tiếng Pháp. Với kinh nghiệm thực tiễn, trong tập III “Phương pháp tích cực và trực tiếp”, tác giả đã có một số chỉ dẫn, gợi ý cho những ai chưa quan tâm đúng mức tới hát hợp xướng.

 

Chương “Hát hợp xướng” trong tập này đề cập đến việc tổ chức hợp xướng (cách thức tuyển chọn, phân loại giọng hát, lựa chọn bài tập, tác phẩm và trình diễn phù hợp với năng lực của người chỉ huy và đội hợp xướng). Còn Chương “Rèn luyện giọng hát” đề cập về hô hấp, cách thức phát âm (phụ âm, nguyên âm, nhả chữ) Trong xử lý lời ca.

 

Giáo sư Patrice Madura Ward-Steinman của Trường Đại học Âm nhạc Indiana đã viết cuốn sách Becoming a Choral Music Teacher (Trở thành một giáo viên âm nhạc hợp xướng), năm 2009. Cuốn sách không chỉ thể hiện tính sáng tạo, thiết thực về phương pháp và tài liệu giảng dạy hợp xướng mà còn có tác dụng hướng dẫn chuyên ngành Giáo dục

 

Âm nhạc và Hợp xướng, mang hiệu quả cho giáo viên âm nhạc trung học cơ sở và trung học phổ thông; Cung cấp nhiều vấn đề phức tạp mà sinh viên sẽ khám phá thực tế như: Tuổi thành niên, phát triển giọng hát, thử giọng, gây hứng thú, chiến lược diễn tập, kiểm tra đánh giá, hòa tấu chuyên nghiệp, các buổi hòa nhạc lập trình, quản lý lớp học.. .

 

Charles Munch (1960) Trong cuốn sách Tôi - Người chỉ huy, Nhà xuất bản Âm nhạc Quốc gia Mockba. Đã kể về cuộc đời hoạt động âm nhạc của mình. Cuốn sách gồm 7 chương: Chương 1: Trên một vài chủ đề mở đầu; Chương 2: Những năm tháng học tập để trở thành người chỉ huy; Chương 3: Thành phần những chương trình; Chương 4: Đầu, mắt với tổng phổ; Chương 5: Sự diễn tập, những buổi hoà nhạc; Chương 6: Cuộc sống của nghệ sĩ; Chương 7: Cuộc sống của người chỉ huy. Bằng kinh nghiệm biểu diễn và giảng dạy âm nhạc, tác giả đã đưa ra một số vấn đề về phẩm chất người chỉ huy phải luôn làm hồng lên ngọn lửa và tạo sức hút đặc biệt với cả diễn viên và những người dự hoà nhạc.

 

Tóm lại, các nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập đến các phương diện lịch sử phát triển nghệ thuật hợp xướng, phối âm phối khí cho hợp xướng và dàn nhạc, chỉ huy hợp xướng, phương pháp giảng dạy hợp xướng… thể hiện tư duy, hướng tiếp cận đa dạng đối với vấn đề phát triển nghệ thuật hợp xướng trong thế giới đương đại.

 

7.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

 

Các sách chuyên khảo, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án… về hợp xướng trong nước liên quan đến đối tượng của luận án được phân theo các nhóm sau:

 

Nghiên cứu về thanh nhạc liên quan đến hợp xướng

 

Trương Ngọc Thắng (2007), Quá trình hình thành và phát triển ca hát chuyên nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học. Đây là công trình nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển âm nhạc Việt Nam nói chung và ca hát chuyên nghiệp Việt Nam nói riêng. Tác giả đưa ra cái nhìn tổng thể về các khía cạnh lịch sử, đào tạo, chương trình, giáo trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, các cuộc thi hát chuyên nghiệp, đồng thời đánh giá, tổng kết thực trạng và đưa ra một số định hướng hoạt động ca hát chuyên nghiệp.

 

Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam. Bên cạnh những vấn đề đặc trưng của tiếng Việt, tác giả đã đưa ra một số giải pháp ứng dụng nâng cao chất lượng hát tiếng Việt cho rõ lời, rõ nghĩa. Công trình này liên quan đến vấn đề biểu diễn các tác phẩm thanh nhạc tiếng Việt.

 

Nghiên cứu về lịch sử hợp xướng Việt Nam

 

Dương Quang Thiện (1995), Sử liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc và Múa. Tác giả đã ghi lại quá trình xây dựng Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam (từ năm 1958) Và Đoàn hợp xướng Việt Nam (từ năm 1961), sau này là sự thành lập Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam (năm 1964). Nội dung cuốn sách ghi lại cách thức tổ chức tuyển lựa thanh nhạc, phương pháp huấn luyện, giảng dạy của chuyên gia nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật thanh nhạc và trình độ diễn tấu tập thể.

 

Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả PGS. TS Tú Ngọc - PGS. TS Nguyễn Thị Nhung - TS Vũ Tự Lân - Nguyễn Ngọc Oánh - Thái Phiên (2000), Âm nhạc mới ViệtNam tiến trình và thành tựu, Viện Âm nhạc, đã khẳng định trong giai đoạn “Sự hình thành âm nhạc mới” khoảng đầu thế kỷ XX đến 1945 chưa xuất hiện các tác phẩm hợp xướng Việt Nam, sinh hoạt hợp xướng thường là trong nhà thờ, trường dòng, cô nhi viện nhằm phục vụ nghi lễ tôn giáo; Giai đoạn “Những bước trưởng thành” từ năm 1945 đến 1975 đã xuất hiện hợp xướng với nhiều thể loại như tổ khúc hợp xướng, hợp xướng a cappella, đại hợp xướng, thanh xướng kịch; Giai đoạn “Chặng đường mới,” từ năm 1975 đến nay, lúc đầu hợp xướng chưa thực sự có tiếng nói mạnh mẽ trong đời sống âm nhạc, đến thập niên 90 thế kỷ XX, cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước mới có nhiều khởi sắc.

 

Nghiên cứu về tác phẩm hợp xướng Việt Nam

 

Số lượng công trình nghiên cứu về tác phẩm hợp xướng của nhạc sĩ Việt Nam so với lĩnh vực khác như ca khúc, khí nhạc… còn rất ít. Phần lớn các đề tài luận văn, luận án đã tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực âm nhạc học để tìm ra phong cách riêng của từng tác giả như: Cấu trúc, thủ pháp phối âm và phối khí…

 

Nguyễn Thị Tố Mai (2010), Opera trong sự phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật Âm nhạc, đã phân tích thủ pháp viết hợp xướng trong 6 tiết mục opera Việt Nam và nhận định “các tiết mục này sử dụng thủ pháp hợp xướng châu Âu như bè hoà âm, bè phức điệu và kết hợp với một số yếu tố trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam”. Lê Thảo Nguyên (2007), Các tác phẩm hợp xướng và giao hưởng của nhạc sĩ Trọng Bằng, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật Âm nhạc đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc, thủ pháp phối âm và phối khí, cho rằng “các tác phẩm hợp xướng, giao hưởng của nhạc sĩ Trọng Bằng không chỉ tiếp thu những hình thức, thể loại, thủ pháp phát triển của âm nhạc mẫu mực phương Tây mà còn có sự tìm tòi, sáng tạo riêng”. Trần Văn Minh (2010), Các tác phẩm trường ca và hợp xướng của nhạc sĩ Hoàng Vân, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học. Chương 2 có tiêu đề “Cấu trúc và đặc điểm âm nhạc trong các tác phẩm hợp xướng tiêu biểu của nhạc sĩ Hoàng Vân” đã khẳng định “nhạc sĩ Hoàng Vân là người có nhiều tâm huyết trong lĩnh vực sáng tác hợp xướng, nhiều tác phẩm hợp xướng của ông đã rất thành công”. Lương Diệu Ánh (2011), Sáu bản hợp xướng của các nhạc sĩ ViệtNam, Luận văn Thạc sĩ đã tìm hiểu nội dung đề tài của các tác phẩm hợp xướng, phân tích đặc điểm âm nhạc và kết luận “các nhạc sĩ đã sử dụng bút pháp sáng tác Tây Âu kết hợp với những nét đặc trưng của âm nhạc dân tộc”. Đỗ Quyên, Những tư tưởng Phật giáo tiêu biểu trong bản nhạc Requiem của tác giả Đỗ Dũng và Lê Anh Thư, Luận văn Thạc sĩ (2008) Đã nghiên cứu Requiem của nhạc sĩ Đỗ Dũng, lời thơ Lê Anh Thư, đưa ra một số luận điểm về bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị tích cực của âm nhạc Phật giáo hiện nay.

 

Một số tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp đại học, trung cấp tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam đã trình bày về sự phát triển của hợp xướng thế giới và một số nét về hợp xướng Việt Nam, phân tích thủ pháp sáng tác của nhạc sĩ. Tiêu biểu là: Trần Thị Mây, Tìm hiểu thủ pháp hợp xướng qua bản “Tiếng hát người chiến sĩ biên thùy” của nhạc sĩ Tô Hải (2001); Phạm Khắc Hiền, Tìm hiểu bản hợp xướng Âm vang Bình Dương của nhạc sỹ Ca Lê Thuần (2007); Đỗ Minh Hương, Những đặc điểm sáng tác trong tổ khúc a cappella của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc (2008). Tại trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương gần đây cũng có nhiều sinh viên làm luận văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm Âm nhạc về hợp xướng như: Phạm Thị Thu Trang, Tìm hiểu thủ pháp hợp xướng a cappella qua hai tác phẩm “Tiếng hát giữa rừng Pắc Bó” “Du kích sông Thao”; Trần Khánh Nhật, Tìm hiểu tác phẩm hợp xướng “Sóng Cửa Tùng” của nhạc sĩ Doãn Nho; Phùng Trà Giang, Tìm hiểu chương IV “Tiếng hát” trong giao hưởng hợp xướng của Hoàng Hà, Hoàng Lương. Các công trình đã khẳng định sự đóng góp của các nhạc sĩ đối với nghệ thuật hợp xướng Việt Nam, nhấn mạnh việc sử dụng thủ pháp sáng tác phương Tây kết hợp với yếu tố âm nhạc dân gian để tạo bản sắc riêng mang tính dân tộc.

 

Nghiên cứu về đào tạo và biểu diễn hợp xướng Việt Nam

 

Nguyễn Minh Cầm (1982), Chỉ huy và biểu diễn hợp xướng, Vụ đào tạo Bộ Văn hoá Thông tin. Đây là tài liệu cần thiết cho giảng viên và đã được dùng làm tài liệu chính cho học sinh Trung cấp chỉ huy hợp xướng. Cuốn sách gồm năm phần: Phần I đề cập những vấn đề cơ bản của hợp xướng, cách thức thành lập đội Hợp xướng, tính đồng diễn trong nghệ thuật hợp xướng. Phần II đưa ra nguyên tắc tổ chức hợp xướng, học tập âm nhạc của diễn viên hợp xướng, huấn luyện thanh nhạc trong hợp xướng không chuyên, chọn tiết mục, nghiên cứu tổng phổ và dàn dựng hợp xướng. Phần III bàn về kỹ thuật chỉ huy, từ tư thế đến các động tác cơ bản, sơ đồ đánh nhịp, động tác lấy đà… kèm theo hình vẽ. Phần IV bàn về vai trò của người chỉ huy hợp xướng, đưa ra những kinh nghiệm đã được nhiều người đúc kết. Phần V đưa ra các bài tập luyện thanh, được sắp xếp tuần tự từ dễ đến khó, từ tầm cữ hẹp đến tầm cữ rộng, từ một bè đến hai, ba bè.

 

Đỗ Mạnh Thường - Nguyễn Minh Cầm (1982), Hướng dẫn hát tập thể, Nhà xuất bản Kim Đồng. Đây là tài liệu được viết cho những người làm công tác phụ trách các em trong ban chỉ huy Đội, đề cập đến một số kinh nghiệm về tổ chức, cách thức hướng dẫn thiếu nhi hát tập thể, xây dựng các đội đồng ca, hợp xướng thiếu nhi và phương pháp luyện tập, cung cấp những kiến thức cơ bản cho những người làm âm nhạc không chuyên.

 

Vũ Tự Lân - Lê Thế Hào (1998), Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể (Giáo trình đào tạo giáo viên Trung học cơ sở hệ Cao đẳng Sư phạm), Nhà xuất bản Giáo dục, gồm bảy chương, trong đó có ba chương đề cập tới hợp xướng là Chương V - Hợp xướng, Chương VI - Kỹ thuật chỉ huy, Chương VII - Dàn dựng tác phẩm. Nhiều vấn đề về nghệ thuật hợp xướng đã cung cấp cho sinh viên kiến thức về hát hợp xướng, phát huy giọng hát tự nhiên của học sinh khi dàn dựng.

 

Đoàn Phi (2005), Chỉ huy dàn dựng hát tập thể (Giáo trình Cao đẳng Sư phạm), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, chủ yếu dạy kỹ thuật chỉ huy hát tập thể, cung cấp cho sinh viên hệ Cao đẳng những khái niệm về nghệ thuật hợp xướng và về người chỉ huy để có thể tổ chức, tập luyện và biểu diễn những tác phẩm qui mô nhỏ, đồng thời có các bài luyện thanh cho hợp xướng, nhưng với số lượng còn ít, chưa mang tính hệ thống.

 

Nguyễn Bách (2010), Nghệ thuật chỉ huy Dàn nhạc và Hợp xướng, Nhà xuất bản Trẻ.

 

Cuốn sách gồm ba phần, phần hai với tiêu đề Chỉ huy hợp xướng chia thành bốn chương: Chương 1 - Thành lập một ban hợp xướng, chương 2 - Cách tổ chức và phương pháp tập hát, chương 3 - Kỹ thuật huấn luyện hợp xướng, chương 4 - Tiêu chí lựa chọn bài hát hợp xướng. Đây là cuốn sách không chỉ đề cập riêng lĩnh vực chỉ huy hợp xướng, mà còn đề cập đến các kỹ thuật chung mà người chỉ huy cần phải học tập và rèn luyện.

 

Lê Vinh Hưng (chủ nhiệm) Và nhóm tác giả, Hệ thống phương pháp dạy và học hát hợp xướng hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ (2010). Đề tài được kế thừa và nâng cấp từ công trình nghiên cứu Ph­ng pháp rìn luyện kü n¨ng hát hîp x­íng cho sinh viên Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đề tài khoa học và công nghệ Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương năm 2007. Đề tài đưa ra hai hệ thống phương pháp dạy Hát hợp xướng giúp cho giảng viên làm “đơn giản hoá” sự trừu tượng của nghệ thuật âm nhạc và hệ thống phương pháp tự học Hát hợp xướng giúp sinh viên tự rèn luyện kỹ năng; Đồng thời nêu điều kiện cần thiết để thực hiện hệ thống phương pháp.

 

Trần Văn Minh, Rèn luyện kỹ năng hát hoà bè trong quá trình hát hợp xướng của sinh viên trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương, Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ của sinh viên (2008). Đề tài đã tập trung khảo sát, điều tra quá trình học Hát hợp xướng, nêu những khó khăn đối với người học và đưa ra giải pháp khắc phục bằng các kỹ năng tự rèn luyện trong học tập và hoạt động ngoại khoá âm nhạc; Giải quyết một phần khó khăn đối với sinh viên sư phạm âm nhạc khi mới tiếp xúc với loại hình âm nhạc đa thanh này.

 

Trần Tâm Đan, Phát triển Hát hợp xướng ở trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân - Thành phố Nam Định, Luận văn tốt nghiệp Đại học Sư phạm Âm nhạc (2011) Đã khảo sátnghiên cứu ở vùng theo đạo Thiên Chúa, có các Dàn hợp xướng hát Thánh ca phục vụ nghi lễ nhà thờ, đưa ra cách thức dạy Hát hợp xướng cho tuổi thiếu nhi và giải quyết các vấn đề tồn tại trong phát triển hát hợp xướng bằng các hoạt động tích cực.

 

Nhóm thực hiện đề tài (Ths. Nguyễn Xuân Chiến, Ths. Lâm Trúc Quyên, CN.

 

Nguyễn Thị Nhường), Thiết kế nội dung đào tạo môn Phối hợp xướng cho Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Cơ sở (2011) Đã đề cập một số bút pháp cơ bản trong phối hợp xướng và kỹ thuật chuyển thể hợp xướng, khá phù hợp với trình độ của sinh viên sư phạm âm nhạc, giúp nắm bắt được những vấn đề cơ bản.

 

Hoàng Điệp và nhóm thực hiện (NGƯT-NSƯT Nguyễn Bình Trang, ThS. Trần Ánh Minh, GV. Đỗ Khắc Thanh Hà), Giáo trình hợp xướng (bậc Trung học, tập 1), Nhà xuất bản Âm nhạc (2012) Do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch giao nhiệm vụ biên soạn, đã cung cấp kiến thức liên quan đến lý thuyết và thực hành, những khái niệm cơ bản nhất về nghệ thuật Hát hợp xướng, giới thiệu các tác phẩm chuyên nghiệp của Việt Nam và thế giới.

 

7.3. Xác định mục tiêu của luận án

 

Qua khảo sát những nghiên cứu liên quan đến luận án cho thấy, các công trình đã bàn về nhiều nội dung cơ bản của nghệ thuật hợp xướng như: Lịch sử nghệ thuật hợp xướng thế giới và ở Việt Nam; Kỹ thuật thanh nhạc trong hát hợp xướng, phương pháp dàn dựng và chỉ huy hợp xướng.. . Theo đó, sự phát triển nghệ thuật hợp xướng ViệtNam đã, đang và sẽ được quan tâm. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở cần thiết mà Luận án kế thừa như nguồn tư liệu phong phú khi bàn về các vấn đề học thuật/âm nhạc học. Trên cơ sở những vấn đề về lịch sử tổng quan của sự phát triển nghệ thuật hợp xướng thế giới và Việt Nam, Luận án sẽ khảo sát những vấn đề: Sáng tác và đặc điểm âm nhạc trong tác phẩm hợp xướng Việt Nam, nghệ thuật biểu diễn hợp xướng Việt Nam. Luận án còn tiếp thu những sáng tạo, những hệ thống khái niệm trong sáng tác, biểu diễn của nhạc sĩ Việt Nam để bổ sung cho phần lý thuyết.

 

Các công trình đã khảo sát thường đi sâu nghiên cứu các mảng riêng lẻ như: Lịch sử nghệ thuật hợp xướng, sáng tác - biểu diễn - thưởng thức, đào tạo. Song, đối với sự phát triển nghệ thuật hợp xướng Việt Nam trong cách nhìn chỉnh thể thì các công trình khoa học chưa đề cập sâu. Sự khác biệt ở luận án đặt ra so với tổng quan của tình hình nghiên cứu là: Nghệ thuật hợp xướng Việt Nam cần được nghiên cứu một cách hệ thống, có sự liên kết mang tính chỉnh thể các vấn đề về sáng tác - biểu diễn, trong đó có cả đào tạo được nhìn dưới góc độ phát triển nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Luận án sẽ nghiên cứu và phân tích quá trình du nhập và phát triển của nghệ thuật hợp xướng trên thế giới và ở Việt Nam; Đồng thời đề cập tới các lĩnh vực quan trọng là sáng tác và biểu diễn hợp xướng ở Việt Nam, trong đó có lĩnh vực đào tạo hợp xướng và đóng góp của nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển âm nhạc Việt Nam từ năm 1954 đến nay.

 

 

 

MỘT SỐ THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

A - Âm hưởng: Hiệu quả của âm thanh tác động đối với cảm xúc con người

Âm điệu: Cách sắp xếp độ cao khác nhau của chuỗi âm thanh có sự rõ ràng về ý nghĩa

B - Bản sắc: Tính chất, màu sắc riêng trong nghệ thuật

Bổ khuyết: Bù vào chỗ thiếu

C - Chất liệu: Vật liệu, tư liệu dùng để sáng tạo tác phẩm âm nhạc

Đ - Đặc điểm: Những nét riêng biệt

Đặc trưng: Mang tính tiêu biểu và để phân biệt với những sự vật khác

M - Mô phỏng: Bắt chước

T - Thị hiếu: Xu hướng ham thích một lối, một kiểu nào đó đối với những thứ sử dụnghoặc thưởng thức hàng ngày

Thủ pháp: Cách thức thực hiện ý định, mục đích cụ thể nào đó

Tương phản: Trái nhau

X - Xử lý: Giải quyết đúng đắn trước một việc nào đó.

 

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP XƯỚNG VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀO VIỆT NAM

1.1. Khái quát về hợp xướng

1.2. Sơ lược về lịch sử phát triển nghệ thuật hợp xướng phương Tây

1.3. Quá trình du nhập nghệ thuật hợp xướng vào Việt Nam

Tiểu kết chương

Chương 2: SÁNG TÁC VÀ ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC TRONG CÁC TÁC PHẨM HỢP XƯỚNG VIỆT NAM

2.1. Sáng tác hợp xướng ở Việt Nam

2.2. Đặc điểm âm nhạc trong các tác phẩm hợp xướng Việt Nam

Tiểu kết chương

Chương 3: NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN HỢP XƯỚNG Ở VIỆT NAM

3.1. Các hình thức tổ chức biểu diễn hợp xướng ở Việt Nam

3.2. Nghệ thuật dàn dựng, biểu diễn tác phẩm hợp xướng Việt Nam

Tiểu kết chương

Chương 4: ĐÓNG GÓP CỦA NGHỆ THUẬT HỢP XƯỚNG ĐỐI VỚI NỀN ÂM NHẠC VIỆT NAM

4.1. Đóng góp của nghệ thuật hợp xướng đối với đời sống văn hóa âm nhạc

4.2. Đóng góp của nghệ thuật hợp xướng đối với sáng tác và biểu diễn âm nhạc

4.3. Đóng góp của nghệ thuật hợp xướng đối với đào tạo âm nhạc

4.4. Một số đề xuất phát triển nghệ thuật hợp xướng Việt Nam

Tiểu kết chương

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

MỤC LỤC PHỤ LỤC

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

SÁCH VÀ TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT:

1. Dương Viết Á (2005), Âm nhạc Việt Nam từ góc nhìn văn hóa, Nhà xuất bản Hà Nội.

2. Dương Viết Á (2009), Mấy vấn đề văn hóa âm nhạc Việt Nam, Nhà xuất bản văn hóa dân tộc.

3. Nguyễn Bách (2010), Nghệ thuật chỉ huy dàn nhạc và hợp xướng, Nhà xuất bản Trẻ.

4. Nguyễn Bách (2011), Thuật ngữ âm nhạc, Nhà xuất bản Thanh niên.

5. Nguyễn Minh Cầm (1982), Chỉ huy và biểu diễn hợp xướng, Vụ đào tạo Bộ Văn hoá Thông tin.

6. Nguyễn Thị Minh Châu (2007), Âm nhạc Việt Nam tác giả-tác phẩm (tập III), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

7. Nguyễn Xuân Chiến, Lâm Trúc Quyên và Nguyễn thị Thư Nhường (2011), Thiết kế nội dung đào tạo

 môn phối hợp xướng cho đại học sư phạm âm nhạc, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Cơ sở, Khoa Nghệ thuật, Đại học Sài Gòn.

8. Hoàng Dương và nhóm tác giả (2002), Tân nhạc Hà Nội, Nhà xuất bản Hội âm nhạc Hà Nội,9. Hồng Đăng (), Các nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, Nhà xuất bản Văn hóa.

10. Hoàng Điệp và nhóm thực hiện (2012), Giáo trình hợp xướng (bậc Trung học, tập 1), Nhà xuất bản Âm nhạc.

11. TS. Phạm Phương Hoa (2013), Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX, Nhà xuất bản Âm nhạc.

12. Lê Huy Hòa-Hoàng Đức Nhuận (2000), Tuyển chọn và giới thiệu Văn hóa Việt Nam truyền thống và hiện đại (nghiên cứu của các giáo sư chuyên gia về văn hóa), Nhà xuất bản Văn hóa.

13. TSKH. Phạm Lê Hòa (2007), Các nhạc sĩ nổi tiếng thế giới, Nhà xuất bản Âm nhạc.

14. TSKH. Phạm Lê Hòa (2009), Những âm điệu cuộc sống, Nhà xuất bản Âm nhạc.

15. PGS. TS. Phạm Tú Hương (2007), Âm nhạc Việt Nam tác giả-tác phẩm (tập IV), Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Viện Âm nhạc.

16. Lê Vinh Hưng (2007), Phương pháp rèn luyện kỹ năng Hát hợp xướng cho sinh viên hệ Đại học sư phạm Âm nhạc, Đề tài Khoa học và công nghệ cấp Bộ cấp Trường.

17. Lê Vinh Hưng và nhóm thức hiện đề tài (2011), Hệ thống phương pháp dạy và học Hát hợp xướng hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đề tài Khoa học và công nghệ cấp Bộ, mã số B2009 17, Hà Nội.

18. Nguyễn Thụy Kha (2000), Những gương mặt Âm nhạc thế kỷ, Viện Âm nhạc. 15119. GS. TS. Phạm Minh Khang, Giáo trình hòa thanh (bậc Đại học), Trung tâm Thông tin-Thư viện Âm nhạc, Hà Nội @ 2005.

20. PGS. Nguyễn Trung Kiên (2001), Phương pháp Sư phạm Thanh nhạc, Bộ Văn hoá Thông tin, Nhạc viện Hà Nội, Viện Âm nhạc.

21. Hoàng Kiều (2001), Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền, Viện âm nhạc.

22. Hồ Mộ La (2005), Lịch sử Nghệ thuật Thanh nhạc phương Tây, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa.

23. Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.

24. Vũ Tự Lân (1997), Những ảnh hưởng của âm nhạc châu Âu trong ca khúc Việt Nam giai đoạn 1930-1950, Nhà xuất bản Thế giới.

25. Vũ Tự Lân, Lê Thế Hào (1998), Phương pháp hát và chỉ huy dàn dựng hát tập thể, Nhà xuất bản Giáo dục.

26. Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nhạc viện Hà Nội, Nhà xuất bản Âm nhạc.

27. Thụy Loan (2006), Âm nhạc cổ truyền Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm.

28. TS. Nguyễn Thị Tố Mai (2014), Opera Việt Nam, Nhà xuất bản Âm nhạc.

29. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, Nhà xuất bản Âm nhạc.

30. Huyền Nga (2012), Cấu trúc dân ca người Việt, Nhà xuất bản Lao động.

31. Tú Ngọc (1991), Trích giảng âm nhạc thế giới thế kỷ XX, Nhạc viện Hà Nội.

32. Tú Ngọc (1994), Dân ca người Việt, Nhà xuất bản Âm nhạc.

33. PGS. TS Tú Ngọc-PGS. TS Nguyễn Thị Nhung-TS Vũ Tự Lân-Nguyễn Ngọc Oánh-Thái Phiên (2000), Âm nhạc mới Việt Nam tiến trình và thành tựu, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

34. Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), Vũ Minh Giang, Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Đình Lê, Trương Thị Tiến, Phạm Xanh (), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục.

35. Nhiều tác giả (1993), Thang âm Điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật tại Thành phố Hỗ Chí Minh.

36. Nhiều tác giả (1996), Đường lối văn hóa nghệ thuật của Đảng, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin-Hà Nội.

37. Nhiều tác giả (2003), Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu Lý luận phê bình Âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX-tập 5a và 5b, Viện Âm nhạc.

38. Nhiều tác giả (2006), Hội thảo khoa học về giải pháp phát triển biểu diễn, Bộ Văn hóa-Thông tin, Hà Nội. 15239. Nhiều tác giả (2007), Nhạc sĩ Việt Nam, Hội nhạc sĩ Việt Nam

40. Nhiều tác giả (2011), Tổng tập Âm nhạc Việt Nam tác giả và tác phẩm (tập I), Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

41. Nguyễn Thị Nhung (1988), Hình thức âm nhạc, Nhà xuất bản Âm nhạc.

42. Nguyễn Thị Nhung (1996), Thể loại Âm nhạc, Nhạc viện Hà Nội, Nhà xuất bản Âm nhạc.

43. Nguyễn Thị Nhung (1998), Nhạc khí gõ trống đế trong Chèo truyền thống, Viện Âm nhạc-Nhà xuất bản Âm nhạc.

44. Nguyễn Thị Nhung (2001, Âm nhạc thính phòng-giao hưởng Việt Nam (Sự hình thành và phát triển tác phẩm, tác giả), Viện Âm nhạc, Hà Nội.

45. PGS. TS. Nguyễn Thị Nhung (2007), Âm nhạc Việt Nam tác giả-tác phẩm (tập I) -Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

46. Vũ Ngọc Phan (1997), Tục ngữ Ca dao Dân ca Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

47. Đoàn Phi (2010), Chỉ huy hợp xướng, Nhà xuất bản Thanh niên.

48. Văn Tân (1994), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuát bản Khoa học xã hội.

49. Dương Quang Thiện (1995), Sử liệu lịch sử âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc và Múa.

50. TS. Lê Toàn (2007), Âm nhạc Việt Nam tác giả-tác phẩm (tập II), Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

51. Nguyễn Thế Tuân (2012), Nhạc giao hưởng Việt Nam một tiến trình lịch sử, Nhà xuất bản Âm nhạc.

52. Đào Trọng Từ-Đỗ Mạnh Thường-Đức Bằng (1981), Thuật ngữ và ký hiệu âm nhạc thường dùng, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội.

53. Thế Vinh-Nguyễn Thị Nhung (1985), Lịch sử âm nhạc thế giới (tập II), Nhạc viện Hà Nội.

54. Tô Vũ (2002), Âm nhạc Việt Nam truyền thống và hiện đại, Viện Âm nhạc-Hà Nội.

55. GS. Trần Quốc Vượng (1996), Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

56. Nguyễn Xinh (1983), Lịch sử âm nhạc thế giới (tập I), Nhạc viện Hà Nội.

57. Nguyễn Xinh, Thế Vinh, Nguyễn Thị Nhung (1987), Trích giảng âm nhạc thế giới tập I, Nhạc viện Hà Nội. Luận văn, luận án tiếng Việt:

58. Lương Diệu Ánh (2011), Sáu bản hợp xướng của các nhạc sĩ Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật Âm nhạc. 15359. Hoàng Hoa (2005), Một số yếu tố biểu hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác cho piano của nhạc sĩ Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học.

60. Phạm Tú Hương, Tìm hiểu những thủ pháp phức điệu trong sáng tác khí nhạc của một số nhạc sĩ Việt Nam (giai đoạn 1960-1995), Luận án Phó tiến sĩ Nghệ thuật học, 1996.

61. Ngô Hoàng Linh (2007), Sự hình thành và phát triển âm nhạc giao hưởng Việt Nam và một số vấn đề về nghệ thuật biểu diễn dàn nhạc giao hưởng, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật Âm nhạc.

62. Trần Văn Minh (2010), Các tác phẩm trường ca và hợp xướng của nhạc sĩ Hoàng Vân, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học.

63. Lê Thảo Nguyên (2007), Các tác phẩm hợp xướng và giao hưởng của nhạc sĩ Trọng Bằng, Luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật Âm nhạc.

64. Đỗ Quyên (2008), Những tư tưởng Phật giáo tiêu biểu trong bản nhạc Requiem của tác giả Đỗ Dũng và Lê Anh Thư, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học.

65. Ngô Ngọc Thắng (2007), Quá trình hình thành và phát triển ca hát chuyên nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học.

SÁCH VÀ TÀI LIỆU TIẾNG ANH:

66. Amber Turcott (2003), Choral Music Education: A Survey of Research 1996-2002, University of South Florida, USA.

67. Avery T. Sharp and James Michael Floyd (2011), Choral music-A research and information guide, Routledge, New York, USA.

68. Barbara Brinson và Steven Demorast (2013), Choral music: Methods and Materials, Cengage Learning, USA.

69. Charles Munsh (1960), I am conductor, Moskva.

70. Glencoe/McGraw-Hill, Choral connections treble voices/mixed voices, New York, Columbus, Ohio, Woodland Hills, California, Peoria, Illinois.

71. Gordon Lamb (2010), Choral Techniques, Rice University, Houston, Texas, USA.

72. Homer Ulrich (1973), A survey of choral music, Schirmer, Harcourt Brace, New York, USA.

73. K Marie Stolba (1998), The Development of western music, McGraw-Hill.

74. James David Spillane (2004), All-state choral music: A comprehensive study of the music selected for the high school all-state choirs of the fifty states from 1995-2000, USA. 15475. John Koopman (1999), A brief history of Singing, University Lawrence, Wisconsin, USA.

76. Joshua Alfred Amuah (2013), A survey of choral art music performance scenes in Ghana-University Ghana, Legon, Ghana.

77. J. Peter Burkholder-Donald J. Grout-Claude V. Palisca (2005), A history of wester music, W. W. Norton & Company New York, London.

78. Maurice Chevais, Music education for children, Alphonse Le Duc-Saint Honore-Pari.

79. Melvin P. Unger (2010), Historical dictionary of choral, Scarecrow, Plymouth, UK.

80. Michael Barrett (2007), The value of choral singing in multi-cultural South Africa, University Pretoria, Gauteng, South Africa.

81. Nick Strimple (2002), Choral music in the twentieth, Amadeus, New Jersey, USA.

82. Patrice Madura Ward-Steinman (2010), Becoming a choral music, Routledge, New York, USA.

83. Percy M. Young (1962), The Choral tradition: An historical and anlytical survey from the sixteenth century to the present day, W. W. Norton, New York, USA.

84. Scott W. Dorsey (2010), The choral journal: An index to Volume 19-50, The American Choral Directors Association, Oklahoma.

85. Rosemary Heffley-Lois Land-Lou Williams-Wimberly (1977),86. Songs without words with preparatory etudes, AMC Publications, Houston,.

87. Nhiều tác giả (2006), American masterpieces: Choral music, National Endowment for the Arts, Washington D. C. USA. Tổng phổ hợp xướng thế giới

88. Franz Joseph Handel, And the clory of the Lord shall be revealed, And he shall purify, Hallelujah, Worthy the Lamb that was slain in Messiah.

89. Giuseppe Verdi, Requiem, Vocal score,90. Gustav Mahler, Symphony No. 8, Conductor’s score, Edwin F. Kalmus & Co., Inc. Publishers of Music Miami, Florida.

91. John Rutter, Magnificat, Vocal score, music Deparment Oxford University Press.

92. Ludwig Van Beethoven, Symphony No. 9

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Vai trò của nghệ thuật hợp xướng trong đời sống âm nhạc, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 361 tháng 7/2014.

2. Biểu diễn hợp xướng Việt Nam từ thập niên 90 thế kỷ XX đến nay, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 364 tháng 10/2014.

 

 

Keywords:filetype:pdf download  luan an tien si am nhac hoc,nghe thuat hop xuong trong su phat trien nen am nhac viet nam,chuyen nganh,am nhac hoc ma so 62210201,ncs le vinh hung hdkh gs nsnd nguyen trong bang pgsts nguyen phuc linh

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam HVANVN LeVinhHung 167Tr Download file nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam 1711
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam

nghệ thuật hợp xướng trong sự phát triển nền âm nhạc việt nam

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN