Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa lên facebook!
cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa

23/07/2015 Uploader: AMBN Loại file: pdf - Loại file: doc

Luận án tiến sĩ nghệ thuật: Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa. Mục đích tổng quát của đề tài: Kết hợp các lý luận khoa học về cảm hứng, CHNT, cảm hứng trong sáng tác NT với lý thuyết lý luận hội hoạ, thông qua các dữ liệu điều tra xã hội học, các tác giả, tác phẩm hội họa nhằm tìm hiểu về sự tồn tại, biểu hiện và hiêu qua của CHNT trong sang tac hôi hoa. Từ đó có thể hình thành một hướng tiếp cận nghiên cứu lý luận hội họa có tính liên ngành.

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TÁC HỘI HỌA

 

 

Phạm Văn Tuyến - Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật - Mã số: 62 21 01 01

 

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ VĂN SƯU - TS. NGUYỄN NGHĨA PHƯƠNG

 

MỞ ĐẦU

 

1. Lý do lựa chọn đề tài

 

Sáng tác hội họa là một diễn trình lao động sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân, tác phẩm hội họa gửi những thông điệp của họa sĩ (HS) Đến với người xem thông qua các hình thức biểu đạt của ngôn ngữ hội họa như: Đường nét, hình, mảng, màu sắc.. . Tuy nhiên, do những hiệu quả nghệ thuật (NT) ấy được thẩm thấu qua thị giác, phụ thuộc đáng kể ở tâm lý thị giác rất đa dạng của con người, nên các tác động từ tác phẩm hội họa vào sự thụ cảm của người thưởng thức thường không dễ lý giải. Tại sao có những bức vẽ với các tương quan tạo hình khá thuận mắt nhưng lại không có sức truyền cảm, không đem lại giá trị NT, trái lại, nhiều tác phẩm hội họa đầy những sự phi lý lại có một sức truyền cảm mạnh mẽ tới người xem tranh?

 

Tại sao có những HS nổi tiếng nhưng cũng có nhiều tác phẩm không thành công? Tại sao cùng một tác phẩm hội họa mà mỗi người xem lại có cảm nhận khác nhau? Những đặc trưng đó phần nào khiến NT hội họa trở nên huyền bí, khó cắt nghĩa dưới góc độ lý luận nên rất cần có những lý giải khoa học. Nghiên cưu sinh (NCS) Hiểu rằng, trong khi kinh nghiệm tri thức là nền tảng của khoa học thì kinh nghiệm xúc cảm là nền tảng của NT, mà kinh nghiệm xúc cảm thì không ai giống ai.

 

Từ thực tế lịch sử Hội họa Việt Nam đặc biệt là giai đoạn từ thơi ky đôi mơi đến nay, các tài liệu lý luận, các ý kiến của giới HS và những gợi ý của các tài liệu liên quan vưa nêu trên, NCS nhận thấy quá trình triển khai bức vẽ không đơn thuần chỉ là quá trình tư duy, tìm ý tưởng và phong cách thể hiện mà còn có sự tác động không nhỏ của trạng thái cảm hứng trong sáng tác.

 

Phải chăng để có những thành công trong sáng tác hội hoạ, ngoài bệ đỡ trí tuệ, kiến thức văn hoá và những kiến thức học thuật, còn có một động lực mạnh mẽ của các dạng tâm lý sáng tạo NT? Tất cả đã gợi cho NCS liên tưởng về quá trình sáng tạo tác phẩm Hội họa hiệu quả hơn bởi nguồn cảm hứng nghệ thuật (CHNT) Khơi nguồn sáng tạo cho HS - một dạng CHNT tuy khá rõ ràng nhưng ít được bàn đến.

 

Trong lĩnh vực lý luận phê bình mỹ thuật ở Việt Nam, chừng mực nào đó rất cần những hướng tiếp cận mới có tính liên ngành. Thực tế cho thấy các HS Việt Nam rất thiếu về lý luận hội hoạ, hiện còn không ít phong cách và quan điểm sáng tác của các HS đang đi trên con đường dò dẫm và có phần duy lý, thiếu điểm tựa về mặt lý luận, vì thế công tác lý luận, phê bình mỹ thuật rất quan trọng trong vai trò định hướng thẩm mỹ cho xã hội, góp phần soi sáng con đường cho các HS để họ vững tâm với quan điểm sáng tác của mình, đồng thời góp phần chỉ ra sự trá hình của một bộ phận nhỏ đang nương náu trong cái vỏ bọc hội họa, làm mất đi giá trị sáng tạo vốn là bản chất của hoạt động sáng tác hội họa.

 

Thông qua các nguồn tài liệu đã được tiếp cận, NCS nhận thấy các nghiên cứu ở Việt Nam thường nghiêng nhiều về lịch sử mỹ thuật, một số khác thì theo xu hướng phê bình và phân tích mỹ thuật, hoặc nghiên cứu theo hướng lý luận mỹ thuật thì chủ yếu dựa trên hệ thống các ngôn ngữ tạo hình và các tương quan tạo hình, chưa thấy tài liệu nào nghiên cứu hệ thống về việc các HS thường có những trạng thái CHNT như thế nào trong khi đang vẽ tranh, và tác động của cảm hứng đó đến sự hiện diện của ngôn ngữ hội họa trên bức tranh. Phải chăng lý luận hội hoạ ở Việt Nam rất cần những công trình nghiên cứu lý luận cơ bản?

 

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu về CHNT của HS

 

Việt Nam đã trở nên rất cấp thiết đối với công tác lý luận hội hoạ nói riêng và lý luận mỹ thuật nói chung. Phải tìm thêm những cách tiếp cận mới để hiểu hơn về HS và tác phẩm của họ. Điều đó thôi thúc NCS chọn vấn đề nghiên cứu cho luận án với tên gọi Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa.

 

2. Mục đích nghiên cứu

 

2.1. Mục đích tổng quát của đề tài

 

Kết hợp các lý luận khoa học về cảm hứng, CHNT, cảm hứng trong sáng tác NT với lý thuyết lý luận hội hoạ, thông qua các dữ liệu điều tra xã hội học, các tác giả, tác phẩm hội họa nhằm tìm hiểu về sự tồn tại, biểu hiện và hiêu qua của CHNT trong sang tac hôi hoa. Từ đó có thể hình thành một hướng tiếp cận nghiên cứu lý luận hội họa có tính liên ngành.

 

2.2. Mục đích cụ thể của đề tài

 

- Tổng hợp, phân tích các khái niệm về cảm hứng và hình thành khái niệm CHNT trong sáng tác hội hoạ. Tổng hợp và phân tích các quan điểm, bàn luận về cảm hứng trong sáng tác từ các nghệ sĩ, HS, các nhà lý luận phê bình mỹ thuật. Sử dụng kết hợp các tài liệu khoa học của các lĩnh vực ngoài mỹ thuật để kiểm chứng, phân tích, xác định các dạng cảm hứng. Xác định bối cảnh chung của xã hội Việt Nam đang có ảnh hưởng đến tư tưởng tình cảm của HS trong sáng tác hội họa. Xác định các HS là đối tượng khảo sát.

 

- Nghiên cứu, phân tich về các tác nhân liên quan khơi nguồn CHNT của HS trong sáng tác hội họa.

 

- Nhận diện CHNT của HS bằng khảo sát, lập luận, phân tích, chứng minh về sự tồn tại có thực của CHNT của HS trong khi sáng tác.

 

- Chứng minh hiệu quả của CHNT của HS trong sáng tac hội hoạ hiện diện trên tác phẩm, từ đó xac đinh những đóng góp của HS cho NT.

 

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 

3.1. Đối tượng nghiên cứu

 

Qua nghiên cưu tai liêu, NCS thấy rằng cảm hứng (các cảm xúc) Của con người là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học. CHNT chính là đối tượng nghiên cứu của các ngành NT, trong đó mỗi ngành NT tuỳ theo đặc thù ngôn ngữ NT và đặc trưng hoạt động sáng tác NT mà hướng vào những phương pháp luận riêng. Thậm chí trong cùng một ngành NT cũng có những học giả nghiên cứu theo từng hướng tiếp cận khác nhau, vì thế mà cũng tạo ra những khung lý luận khác nhau theo lý thuyết mà họ định trước.

 

Trong đề tài này NCS xác định đối tượng nghiên cứu là trạng thái

 

CHNT, là yếu tố tinh thần của HS trong quá trình sáng tác hội hoạ. Đây là một dạng nghiên cứu về quá trình xảy ra ở bên trong người HS khi sáng tác hội hoạ, là về diễn biến và biểu hiện (bên trong) Của sự hình thành ngôn ngữ và phong cách hội hoạ trên tác phẩm. Đối tượng nghiên cứu được xác định ở năm dạng theo cac pham tru quan hê sang tac va hai thê, một là CHNT thê chủ động (là thể mà HS có thể ý thức được, kiểm soát được bằng lý trí); Hai là CHNT thê bị động (thê nằm ngoài ý thức chủ quan, không được kiểm soát bằng lý trí).

 

3.2. Phạm vi nghiên cứu

 

Về phạm vi không gian, đề tài luận án giới hạn trong hội hoạ, chủ yếu lấy đại diện là các HS đang sống và sáng tác trên địa bàn Hà Nội để làm đối tượng khảo sát trực tiếp. Các HS được chọn, là những HS sáng tác hội họa (không bao gồm các HS đồ họa) Là đại diện cho các thế hệ và phong cách sáng tác khác nhau, đại diện cho quan niệm xã hội. Chủ yếu gồm các HS được các giải thưởng mỹ thuật, đồng thời cũng quan tâm nhiều đến các HS trẻ có hướng sáng tác đặc biệt, phù hợp với cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài luận án. Đồng thời luận án có đề cập đến các HS nổi tiếng ở Việt Nam và Thế giới làm đối chứng trong các phân tích, so sánh.

 

Về phạm vi thời gian, đề tài luận án bám theo mốc giai đoạn lịch sử hội họa hiện đại Việt Nam, chú trọng đặc biệt đến giai đoạn đổi mới sau năm 1986 vì đã có sự thay đổi lớn trong môi trường NT và xã hội. Giới hạn này chỉ mang tính tương đối nhằm đảm bảo tính khả thi của các thao tác nghiên cứu thực tế mà đề tài đã lựa chọn.

 

4. Giả thuyết khoa học của đề tài luận án

 

Trong thực tế, có rất nhiều HS Việt Nam giỏi về hội hoạ cơ bản, đồng thời họ cũng có một nền tảng tri thức và văn hoá rất tốt nhưng chưa hẳn có được những tác phẩm hôi hoa đạt được giá trị NT cao, vậy nguyên nhân là gì?

 

Làm thế nào để có thêm những căn cứ để đánh giá và thẩm định tác phẩm mỹ thuật hiện nay? Đã có những quan điểm khác nhau về một vài giải thưởng mỹ thuật mà theo NCS, có thể là chưa xác định rõ ràng giữa việc đánh giá một tác phẩm hội họa độc lập (có thể là do may mắn) Với việc công nhận sự cống hiến, thành công của một HS (thường phải theo quá trình lâu dài), có thể là do khung tham chiếu và thẩm định tác phẩm mỹ thuật còn chưa thống nhất, chưa khoa học chăng? Vấn đề đặt ra là có thể tìm thêm những cơ sở khoa học nào để đánh giá đúng hơn về giá trị NT của tác phẩm mỹ thuật và cống hiến của HS trong tác phẩm của họ?

 

NCS thấy rằng, trong quá trình sáng tác những tác phẩm mỹ thuật, HS thường trải qua một trạng thái tâm lý khá đặc biệt gọi là cảm hứng trong sáng tác hay CHNT. Đây là loại liên quan trực tiếp đến sự hình thành tư duy, ý tưởng và các thủ pháp NT. Cảm hứng này có được nhờ vào các năng lực tự nhiên (năng khiếu, tài năng), năng lực được tích lũy (tri thức chung và kiến thức chuyên biệt) Và thường để lại dấu vết trên tác phẩm hôi hoa. CHNT là một tác nhân có quyết định mạnh mẽ đến hiệu quả truyền cảm của tác phẩm, có vai trò đặc biệt trong sự hình thành tác phẩm hội họa.

 

Giả thuyết khoa học mà NCS đặt ra là: Trong quá trình sáng tác những tác phẩm hôi hoa, HS thường trải qua một trạng thái tâm lý khá đặc biệt gọi là CHNT của HS trong sáng tác hội hoạ. CHNT này có được nhờ vào nhiều tác nhân từ bên ngoài hoặc bên trong HS và thường để lại dấu vết trên tác phẩm mỹ thuật. CHNT là một tác nhân có quyết định mạnh mẽ đến hiệu quả truyền cảm của tác phẩm.

 

Từ đây các câu hỏi sẽ được trả lời thông qua các kết quả nghiên cứu phải đạt được là:

 

- Cho thấy rõ CHNT của HS là một trạng thái tinh thần xảy ra trong quá trình sáng tác tác phẩm hội hoạ, là dạng biểu hiện tâm lý tác động trực tiếp đến tư duy ngôn ngữ NT, có lợi cho hoạt động sáng tác.

 

- CHNT trong sang tac hôi hoa giai đoan tư thơi ky đôi mơi đên nay (thực chất chỉ là đại diện cho đối tượng khảo sát) Biểu hiện qua một số tác nhân có tính chủ quan như nền tảng tri thức chung, nền tảng học thuật; Những thành tố mang tính khách quan như hoàn cảnh văn hoá, điều kiện lịch sử xã hội, đời sống nội tâm hay tính cách cá nhân của HS.

 

- Theo hướng nghiên cứu của đề tài thì CHNT được xác định có năm dạng và có hai thể là chủ động và bị động (chưa tính về những cách tiếp cận khác có thể cho kết quả khác).

 

- Giá trị NT trên tác phẩm hội hoạ nhờ một phần không nhỏ từ

 

CHNT. Thiếu CHNT thì HS sẽ mất đi một nguồn năng lượng hữu ích cho sáng tạo NT, khó đi đến thành công về mặt NT.

 

5. Phương pháp nghiên cứu

 

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của đề tài luận án này đã được xác định gồm những phương pháp sau đây:

 

- Phương pháp tổng hợp, thu thập các luận điểm khoa học của mỹ thuật học và các lĩnh vực khoa học xã hội được xác định trong đề tài.

 

- Phương pháp phân tích, so sánh nhằm liên kết mối quan hệ giữa các cứ liệu khoa học khác vào hệ thống lý luận mỹ thuật.

 

- Phương pháp điền dã để tiếp cận các tác giả, tác phẩm.

 

- Phương pháp nghiên cứu tác gia để tiếp cận nghiên cứu về các HS và các tài liệu về HS trong lĩnh vực lý luận hội họa.

 

- Phương pháp điều tra xã hội học.

 

- Phương pháp lập luận, chứng minh để làm sáng tỏ các vấn đề, các kết luận mà đề tài đưa ra.

 

Khi đặt trong các nhóm phương pháp nghiên cứu thì có thể xác định các phương pháp nghiên cứu cơ bản nhất bao gồm:

 

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Xác định nhận thức luận đến phân tích và giải thích khái niệm về cảm hứng và CHNT; Hệ thống, phân tích và chứng minh những quan điểm, những đánh giá về CHNT của các nhà nghiên cứu NT và các nghệ sĩ; Tìm cơ sở phân loại và phân loại các dạng CHNT của HS trong hội hoạ; Đánh giá về các thành tố tác động đến CHNT đó và xác định vai trò của nó đối với sự hình thành tác phẩm hội hoạ, sử dụng các dạng đã phân loại vào khảo sát thực tế trong phạm vi nghiên cứu.

 

Áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành: NCS cho rằng vân đê CHNT là một vấn đề mới trong nghiên cứu lý luận hội hoạ, nếu chỉ dùng lý thuyết của mỹ thuật học thì không dễ xác định được nguồn gốc, biểu hiện, dạng thức của CHNT bởi vì CHNT chịu tác động bởi các thành tố chẳng hạn như: Trình độ chuyên môn, học vấn học thuật - thuộc mỹ thuật;

 

Tình cảm thẩm mỹ và nhận thức thẩm mỹ - thuộc mỹ học (còn gọi là triết học NT); Nền tảng văn hoá, vốn sống và tôn giáo - thuộc văn hoá học, xã hội học; Đời sống nội tâm và sức khoẻ tâm thần, cơ cấu và diễn biến tâm trạng của người - thuộc tâm lý học; Đời sống tinh thần, nhận thức luận - thuộc triết học.

 

Phương pháp phỏng vấn, điêu tra: Đây là một trong những phương pháp được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu đề tài. Có ba nhóm đối tượng phỏng vấn trong nghiên cứu bao gồm: Nhóm chuyên gia thuộc các lĩnh vực lý luận NT, nhóm chuyên gia thuộc lĩnh vực mỹ thuật (hội hoạ), nhóm HS là đối tượng chính trong quá trình lấy dữ liệu nghiên cứu.

 

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

 

- Đề tài luận án là công trình mới ở Việt Nam nghiên cứu lý luận chuyên sâu về CHNT của HS. Giải quyết vấn đề lý thuyết lý luận hội hoạ theo hướng liên ngành bằng kế thừa các khoa học ngoài mỹ thuật học.

 

- Góp phần hình thành một cơ sở lý luận hội họa để áp dụng cho các nghiên cứu về giá trị của tác phẩm hội họa, đóng góp của HS. Chỉ ra các dạng CHNT của HS trong quá trình sáng tác và tác động của nó đến HS trong sáng tác hội họa. Chứng minh hiệu quả của CHNT trong tác phẩm hội họa.

 

- Đóng góp về cứ liệu nghiên cứu các thành tố liên quan, ảnh hưởng đến CHNT của HS để có thêm cơ sở phân tích tác phẩm hội họa.

 

7. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

 

7.1. Nhưng công trinh nghiên cưu thuôc cac linh vưc liên nganh

 

Imanuel Kant (1724-1804) Vơi một số công trình như: Phê phán lý tính thuần túy [43,44], Phê phán lý tính thực hành [45], và nhất là Phê phán năng lực phán đoán [46], vơi luận điểm, mỹ học là khoa học về cảm giác. Kant coi các ngành mỹ thuật là NT lấy năng lực phán đoán phản tư (từ một hiện tượng cá biệt, tìm ra quy luật phổ biến) Làm chuẩn mực. Kant nói đến quan năng và tài năng là tố chất bẩm sinh của tâm thức. Trong các quan năng của tâm thức góp phần tạo nên tài năng là Hồn (Duyên). Kant quan tâm đến sự biểu cảm của tác phẩm NT và coi: “…các ngành mỹ thuật nhất thiết phải được xem như là các ngành nghệ thuật của tài năng thiên bẩm” [46, tr. 202]. Ông cũng đông thơi đề cao giá trị của tính trường quy, tức là tri thức, học thuật của nghệ sĩ.

 

Trong Mỹ học [32] của Friedrich Hegel (1770-1831) Cho là hứng thú tinh thần xác lập nội dung NT và quy định luôn cả hình thức của nó. Các phân tích của Hegel nói rất nhiều đến yếu tố cảm quan trong NT: “Nghệ thuật không có sứ mạng nào ngoài việc làm cho tri giác cảm quan nhận thấy được cái chân thực như nó tồn tại trong tinh thần,…”  [32, tr. 589]. Ông cũng nói về yếu tố nội tâm trong hội hoạ với quan điểm: “Hội hoạ biến cái dung mạo bên ngoài thành sự biểu hiện toàn vẹn để biểu hiện đời sống nội tâm”  [32, tr. 591].

 

Hegel cho rằng, nguyên lý chủ yếu của hội họa là cái tính chủ thể bên trong và sinh động với tình cảm. Chẳng hạn dưới quan điểm nội tâm thì tình cảm thầm kín của HS trong tác phẩm là: “…chính tâm hồn của nghệ sĩ đã bộc lộ cho chúng ta thấy không phải một sự tái hiện đơn thuần của sự vật; Chính nghệ sĩ bộc lộ tâm hồn của mình và cái cảm hứng thầm kín nhất của tâm hồn mình” [32, tr. 737]. Về đặc trưng của hội hoạ, Hegel nêu ra ba vấn đề là nội dung, chất liệu và loại (sự khác nhau về quan niệm và cách thể hiện) Ông lập luận các vấn đề cơ bản theo trục nội tâm và tình cảm của HS:

 

Phạm vi của hội hoạ, đó là mặt nội tâm của tình cảm nói chung, trong tính chất đa dạng của nó, và để thể hiện nội tâm ấy, cần phải nêu lên những trường hợp, những quan hệ, những hoàn cảnh, không những để giải thích tính cách cá nhân, mà hội hoạ còn có nhiệm vụ nêu lên tính độc đáo với tâm hồn và diện mạo của con người, xem đó là một cái đã được thể hiện hoàn toàn ra hình thức bên ngoài [32, tr 747].

 

Tóm lại, các phân tích của Hegel đề cập nhiều đến yếu tố cảm quan, yếu tố nội tâm trong hội hoạ, đánh giá về hội hoạ của một số danh hoạ nổi tiếng với những góc nhìn về thời đại và đặc biệt là ảnh hưởng của yếu tố tôn giáo, yếu tố lịch sử thời đại, yếu tố địa văn hoá. Ông muốn chứng minh về sự biểu lộ được tính toàn vẹn của yếu tố bên trong (nội cảm nội tâm) Ra hình thức bên ngoài (trên tác phẩm hội hoạ).

 

Mỹ học [18] của Diderot (1713-1784), phần Tùy bút về hội họa. Mặc dù coi NT có dạng bắt chước, mô phỏng tự nhiên, nhưng những biện luận của Diderot lại cho thấy ông rất quan tâm đến cái hồn của tác phẩm hội họa. Về động lực và hành vi sáng tác, Diderot đã miêu tả hình ảnh anh HS đang say mê trong miền cảm hứng NT của mình, vai trò thể chất của người HS và mối quan hệ giữa tính cách và biểu hiện NT. Trong sự đánh giá quá trình thể hiện tác phẩm hội họa, ông viết: “…tùy theo hào hứng hay lý trí chiếm ưu thắng, nghệ sĩ sẽ ngông cuồng hoặc là nguội lạnh”  [18, tr. 195].

 

Trong cuôn Về Văn học và Nghệ thuật [61], Mác đa coi văn học, NT là một hình thái ý thức đặc thù có khả năng tác động đến lý trí và khả năng tác động trực tiếp tới tâm hồn, tình cảm của con người. Mỹ học Mác - Lênin đề cao con người xã hội. Về lý luận NT, Mác xác định có thể nghiên cứu về sáng tác NT bằng việc nghiên cứu về chủ thể sáng tạo NT, từ tình cảm, lý trí, trí tuệ và tư tưởng đạo đức xã hội của nghê sĩ. Trong Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin có viết: “…muốn thấu hiểu được cảm hứng đầy nhiệt tình trong sự nghiệp sáng tạo của họ, điều hết sức trọng yếu là phải nghiên cứu thế giới quan cá nhân của họ, và nghiên cứu xem cá tính này đã in dấu vết vào cơ cấu hình tượng như thế nào” [120, tr. 51].

 

Triết học hiện sinh [23] là triết học về con người, quan niệm con người với chủ thể tính và tự do tính. Ở góc độ này, chủ nghĩa hiện sinh trong triết học đã cung cấp một quan điểm hướng về nghiên cứu con người. Cái mà hiện sinh đã nhắc tới - nhân học, là một điêm tư a đê nghiên cứu về người HS trong hoạt động sáng tác hội hoạ, tìm hiểu về phong cách cá nhân tuyệt đối, không lặp lại, là chỗ dựa khá vững chắc trong khi nghiên cứu về yếu tố cá nhân cá biệt của người hoạ sĩ được biểu hiện trên tác phẩm.

 

Mỹ học [17] của Denis Huisman, trong đó NCS có sự quan tâm đặc biệt đến thuật ngữ cái thần của ông vì tác giả cho rằng nó là phẩm chất bắt buộc để một tác phẩm hội hoạ chuyển tải thông điệp tình cảm của hoạ sĩ. Nói về sáng tác, tác giả viết “Muốn tạo ra một tác phẩm khả dĩ có giá trị, không thể bỏ qua nhân tố đầu tiên là “cảm hứng”  “ [17, tr. 119].

 

Phân tâm học của Sigmund Freud (1856-1939) Qua cac tac phâm Nghiên cưu phân tâm hoc [24] và Phân tâm hoc va văn hoc nghê thuât [25] và một số công trình khác về vô thức cũng như là tiềm thức trong sáng tạo.

 

Quan niệm của Freud về tác phẩm NT rất coi trọng yếu tố tinh thần. Nó thể hiện qua nội dung, hình thức mà biểu hiện những ý đồ của người nghệ sĩ: “Chính tác phẩm phải được phân tích nếu nó biểu đạt, hữu hiệu đối với chúng ta, những ý đồ và xúc động của nhà nghệ sĩ” [25, tr. 23]. Ông đặc biệt quan tâm đến cái vô thức trong sáng tác NT, đề ra thuyết libido và đã dùng để phân tích tác phẩm của một số danh họa thế giới. Về cơ bản, ông đã phân tích thấu lý về mối liên hệ giữa tác phẩm và nội tâm cũng như cái vô thức tiềm tàng của HS qua dẫn chứng về các danh họa nổi tiếng thế giới.

 

Đặc biệt là sự quan tâm của ông đến Leonado da Vinci và yếu tố mà ông gọi là huyễn tưởng cũng như cái libido của HS. Các vấn đề vô thức của Freud co thê lý giải trạng thái cảm hứng có tính chất bị động/vô thức của HS trong sáng tác hội họa.

 

Những cảm xúc của người của Carroll E. Izard [9] là công trình tâm lý học cơ bản, nghiên cứu về cảm xúc của người. Cuốn sách đề cập đến việc các xúc động và ý thức theo thuyết cảm xúc phân hoá và thuyết phân tâm: “về bản chất đích thực của mình, cảm xúc là một hiện tượng của ý thức”  [9, tr. 156].

 

Vê cảm hứng, sách có đoạn: “… Một nhân cách sáng tạo, trong trạng thái cảm hứng, hoàn toàn mất đi cả quá khứ lẫn tương lai, và chỉ sống với thời điểm hiện tại, nó hoàn toàn đắm mình trong đối tượng, bị tình huống hiện tại, đang diễn ra ở đây và ngay bây giờ, bị đối tượng công việc của mình làm cho say mê, đắm đuối” [9, tr. 206].

 

Tâm lý học nghệ thuật [127] của Vưgốtxki (Vygotsky) Là cuốn sách có tính chất lý luận sâu sắc tư lý thuyết của tâm lý học cho lý luận NT, coi trọng vai trò của cảm xúc trong NT. Ông cho rằng từ quan điểm của phân tâm học của Freud có thể hình dung đầy đủ hơn vai trò quan trọng của vô thức trong sự sáng tạo NT, không phải là sự biểu hiện của cái vô thức mà là sự giải quyết xã hội cái vô thức trong sáng tác NT. Vưgốtxki đa cho thây, NT là một tổng thể các ký hiệu thẩm mỹ nhằm khêu gợi cảm xúc ở con người, coi đó là chức năng chính của NT.

 

Tâm lý văn nghệ [103] của Chu Quang Tiềm là một cuốn sách dùng tâm lý học để giải quyết vấn đề mỹ học cho nên các phân tích trong cuốn sách này cung cấp hệ thống nguyên lý, lý thuyết căn bản về NT cho công việc sáng tạo cũng như thưởng ngoạn tác phẩm NT. Chu Quang Tiềm cho là sáng tạo NT là công việc rất hao phí tâm lực, nhưng nhiều nghệ sĩ chân chính theo đuổi suốt đời “Nguyên do chỉ vì nghệ thuật là một thứ nhu cầu tình cảm, Nghệ thuật gia chân chính dường như bao giờ cũng chứa chất trong tâm tư những nỗi niềm khổ sở không nói ra được” [103, tr. 307]. Tác giả cho rằng linh cảm – (nguyên bản dịch (Inspiration)) Được hiểu như là cao hứng – cảm hứng đến cao độ, là một trạng thái tâm lý không thể kiểm soát. Chu Quang Tiềm đề cập đến tiềm thức như la môt tiên chât cho sang tạo. Ông cũng cho la người nghệ sĩ vẫn cần có một hoàn cảnh để cảm hưng có thể đến.

 

Lao động nhà văn [131] của A. Xâytlin (Xaytlin) Nghiên cứu về quá trình sáng tác của nhà văn. Tác giả phản bác lại luận điểm cho rằng quá trình sáng tác là nhờ cảm hứng mà không liên quan đến các tư chất khác của người nghệ sĩ, phản bác lại những ý kiến cho rằng không thể nghiên cứu về quá trình sáng tác vì nó là không giải thích được và phi lý tính. Theo ông, có được những kiệt tác NT là bởi những cố gắng sáng tạo căng thẳng, cho rằng lao động là cơ sở của sự xuất hiện cảm hứng. Ông không quan tâm tới việc phân tích các ý đồ sáng tác mà là cái gì đã nảy sinh ra ý đồ đó, mức độ năng khiếu, trình độ văn hoá, kinh nghiệm sống đã tích luỹ và thế giới quan của nhà văn. Xâytlin viêt: “Quá trình cảm hứng cho đến nay vẫn là một trong những giai đoạn “tối tăm”  nhất và chưa được nghiên cứu của sáng tạo nghệ thuật” [131, tr. 178].

 

Trong cuốn Tâm lý học sáng tạo văn học [2] của M. Arnauđốp (Arnaudov), các nghiên cứu của tác giả đã cung cấp dường như đầy đủ một hệ thống các yếu tố bên trong của người nghệ sĩ, cái làm nên phẩm chất của họ vơi tư cách là một cá nhân xuất chúng. Ở chương Vô ý thức, tác giả đã chỉ ra những chứng cứ thuyết phục qua các ghi chép và công bố của những nghệ sĩ thiên tài trên thế giới. Tác giả khẳng định: “Nhất thiết phải có sức mạnh của trí tuệ và ý chí để sắp xếp cho cân đối và sử dụng các thành quả của cảm hứng”  [2, tr. 587].

 

Dân luân nghiên cưu văn hoc [78] của G. N. Pospelov, trong đo co ca môt chương ban vê cam hưng (pathos) Của nghệ sĩ và các biến thể của nó, dạng như: Cảm hứng anh hùng, cảm hứng bi kịc h, cảm hứng kịch tính, hay cảm hứng thương cảm và cảm hứng lãng mạn, hoăc la cam hưng châm biêm và cảm hứng hài hước. Đây la môt cach nghiên cưu vê cam hưng k há phổ biên từ trước đến nay, đem đến nhiều tham chiếu cho NCS.

 

Tinh hoa ly luân văn hoc cô điên Trung Quôc [60] của Phương Lưu, hê thông cac quan niêm phương đông vê cam hưng nghê thuât hương đên đao va thiên, cảm quan tiến gần đến vô thức. Các công bố ở đây cho thấy nhiều cách lý giải về NT dựa trên cảm tính mà rất hữu hiệu. Mỗi quan điểm về NT như vậy đều xuất phát từ biểu hiện kinh nghiệm xúc cảm mà sinh ra luận thuyết.

 

Tài liệu này lý giải nhiều vấn đề về cái hư vô/vô thức. Cơ cấu trí khôn [34] của Howard Gardner (sinh 1943) Với lý thuyết đa trí tuệ (Multiple intelligences), cho rằng có 7 loại hình thông minh, trong đó NCS quan tâm đến loại trí khôn không gian với những phân tích của tác giả về năng lực trí tuệ của các HS.

 

Ngoài những tài liệu có tính đại diện trên, còn một số các công trình khác đã được NCS nghiên cứu như: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học [47] của M. B. Khrapchenkô; Hình thái học của nghệ thuật [8] của M. Cagan; Phân tâm hoc va phê binh văn hoc [110] của Liễu Trương; Từ hứng thú đến tài năng [132] của L. X. Xôlôvâytrich và rất nhiều tài liệu khác.

 

Qua việc hệ thống tài liệu có thể thấy rằng, các công trình kể trên đều không thuộc phạm vi lý luận hội họa nhưng chính là tiền đề cho việc xây dựng một hướng nghiên cứu liên nganh, đã có những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề cảm hứng và CHNT. Các hướng nghiên cứu đều nhìn ở khía cạnh tác động ở ngoại cảnh vào tình cảm của nghệ sĩ mà sinh ra chủ đề, nội dung NT. Cũng đã có những đề cập đến các yếu tố nội sinh như: Năng khiếu, biểu hiện của xúc cảm tình cảm, nội tâm, tiềm thức và vô thức của chủ thể sáng tác NT, nhưng chưa đặt nó trong quan hệ với CHNT. Chưa có tài liệu nào đề cập đến vấn đề CHNT theo hướng nghiên cứu về quá trình sáng tác NT thông qua biểu hiện tâm lý sáng tác để truy xét về nguồn gốc và hiệu quả của các CHNT ấy.

 

7.2. Nhưng công trinh nghiên cưu trong linh vưc my thuât

 

Cuốn Về cái tinh thần trong nghệ thuật [42] của Kandinsky là một cuốn sách hiếm hoi, gần nhất với đề tài luận án, đề cập trực tiếp đến vấn đề tinh thần trong sáng tác hội họa. Cuốn sách từng được nhiều đánh giá coi là một trong số ít những cuốn sách lý thuyết quan trọng nhất trong lịch sử NT thế giới. Với lý thuyết về NT của Kandinsky, câu chuyện về cái tinh thần trong tác phẩm hội họa, được ông coi là Lý thuyết hòa âm cho ngành hội họa, là kết quả của sự quan sát và trải nghiệm nội tâm của ông, cùng với nền tảng triết học NT mà ông có. Do các vấn đề của cuốn sách có một ý nghĩa đặc biệt với đề tài nên NCS sẽ lưu ý kỹ hơn. Cái tinh thần mà ông nói là toàn bộ những gì toát lên ở bức tranh, sau khi nó đi từ bên trong HS để ghi dấu vào tác phẩm NT.

 

Kandinsky phê phán sự hời hợt, mô phỏng tự nhiên. Ông cho là, ngay cả khi HS có thể miêu tả các hiện tượng tự nhiên một cách đầy tính NT thì cũng không thể lấy nó làm mục đích, mà phải qua đó biểu lộ cái nội tâm của mình.

 

Kandinsky đã lý giải về NT hội họa, các yếu tố ngôn ngữ hình và màu, xác định cái tác động của nó đến cảm thức của người xem. Ông coi đó là việc HS phải làm đến cùng, thậm chí loại trừ cả những quy tắc để đạt được cái sự sống bên trong của bức tranh. Ông viết: “…, trên thực tế, một bức tranh không được “vẽ tốt”  khi nó là đúng đậm nhạt …, hoặc nó được phân bố nóng và lạnh bằng một cách nào đó gần như là khoa học, mà trái lại, bức tranh được vẽ tốt khi về bên trong nó hoàn toàn sống” [42, tr. 133,134]. Ông cho là không phải quan tâm đến việc, liệu một hình vẽ có mâu thuẫn với giải phẫu học, thực vật học hay bất cứ một môn khoa học nào hay không, ý ông là đẹp chứ không phải đúng. Với màu sắc, Kandinsky cho là chỉ khi những cảm giác sâu hơn, tạo ra những trải nghiệm tâm lý thì mới đem lại ấn tượng thị giác. Khi tác phẩm ở mức phát triển cao hơn, những đối tượng và thực thể sẽ nhận được một giá trị nội tại, và cuối cùng là một âm vọng nội tâm. Về mặt bản năng, ông đồng tình việc, một số người có vị thế cao về mặt trí tuệ dễ đi đến sự biểu cảm hơn: “…chính ở những người phát triển ở bậc cao thì những con đường dẫn tới tâm hồn là trực tiếp nên những ấn tượng của họ đạt đến nơi rất nhanh,…”  [42, tr. 66]. Ông viết rằng, màu sắc là phương tiện ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần, tức là tâm hồn con người và là nguyên lý của sự thiết yếu bên trong. Cái nguyên lý xuất hiện sự thiết yếu bên trong ấy là bởi ba yếu tố: Yếu tố cá tính, yếu tố phong cách trong giá trị bên trong, cấu thành từ ngôn ngữ thời đại và ngôn ngữ dân tộc, yếu tố mang tính NT thuần khiết và vĩnh cửu. Những yếu tố ấy đi xuyên qua tất cả mọi người, mọi dân tộc, mọi thời đại. Mỗi thực thể đều có đời sống riêng, liên tục tác động (tâm lý) Đến chúng ta. “Nhiều kết quả của chính tác động tâm lý ấy được giữ lại trong “tiềm thức”.. . Nhiều tác động tâm lý dâng lên cấp độ “siêu ý thức” [42, tr. 76]. Câu chuyện về NT và thời đại, NT và hình thức (kỹ xảo), NT và cái âm vọng nội tâm được giải quyết chỉ với mệnh đề thế nào đây? Và cái gì đây? Kandinsky chú trọng vào yếu tố bên trong của NT (đặc tính nội ẩn của đối tượng), chứ không phải là hình thức bên ngoài. Những thuật ngữ thường xuyên được xướng lên như âm vọng nội tâm, linh hồn, rung động tâm lý và cảm hứng đã cho thấy nội dung của cuốn sách này đi thẳng vào cái bên trong của NT, đúng hơn, là cái bên trong của HS. Như vậy Kandinsky là người đầu tiên giải quyết vấn đề lý luận thuần nhất về hội họa, theo hướng chú trọng vào trạng thái tinh thần bên trong của HS.

 

Câu chuyện nghệ thuật [29] của E. H. Gombrich là một cuốn sách về lịch sử NT. Nhưng trong nội dung phân tích, tác giả đã chỉ ra những lý do khiến cho NT (hội họa) Thay đổi về phong cách hay quan niệm. Tác giả đã chỉ ra những điều đáng nói nhất về việc cái gì đã khiến cho HS vẽ bức tranh này hay bức tranh kia. Chẳng hạn, lòng tin, tín ngưỡng trong NT tiên sư là cảm hứng, tiền đề của sự sống động cho những bức vẽ trong hang động. Hay những nguồn cảm hứng từ chủ đề kinh thánh đã là cảm hứng xuyên suốt thời gian dài cho đến khi hội họa Ấn tượng ra đời. Cũng có những nguồn cảm hứng tồn tại song song khác nữa, ví như việc mong muốn giải quyết hiệu quả triệt để trên bức tranh đã thôi thúc việc tìm ra chất liệu sơn dầu chậm khô, hoặc nhu cầu về chiều sâu trong tranh đã khiến hội họa Phục Hưng tìm ra luật viễn cận. Ở đó nổi bật vai trò sự phấn khích về tinh thần của người HS.

 

Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [81] của Nguyễn Quân, là một cuốn sách có nhiều vấn đề cần tham khảo bởi nó không thuần tuý là hệ thống lịch sử mỹ thuật, cũng không phải là cuốn sách về lý luận phê bình. Cách đặt vấn đề có tính gợi mở tư duy cho người đọc, chẳng hạn như: Tình Việt ở lụa; Hồn Việt ở sơn mài; Cái tôi tự do và chủ nghĩa cá nhân; Cảm hứng tự hào, tình cảm tưởng niệm, là những đề mục nghiên cứu mà tác giả đã chủ trương nhìn nhận về vấn đề lý luận mỹ thuật. Tác giả cho là các HS luôn có những mạch ngầm của thẩm mỹ dân tộc, chủ nghĩa yêu nước đặc trưng của người Việt. Vấn đề mô hình nghệ sĩ vừa là chiến sĩ vừa là cán bộ mà Nguyễn Quân đề cập là một cách tiếp cận bình luận mỹ thuật nghiêng về yếu tố hoan canh xa hôi. Ở đó tồn tại một thực tế là người HS có thân phận của người vừa phản ánh lịch sử thời đại, lại vừa hưởng những nguồn cảm hứng dân tộc rất mạnh mẽ ở đương thời. Đó là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến CHNT. Yếu tố ấy đã sản sinh ra hàng loạt những tác phẩm hội họa nổi tiếng như Hà Nội 1946 của Bùi Xuân Phái; Hào của Dương Bích Liên hay Kết nạp Đảng ở Điện biên Phủ của Nguyễn Sáng.

 

Một số tài liệu về mỹ thuật Việt Nam như ba cuốn kỷ yếu hội thảo vê mỹ thuật: Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [112]; Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa [113]; Những vấn đề mỹ thuật Việt Nam hiện đại [36].

 

Nhiều bài bao viết về cá c vấn đề lý luận mỹ thuật và lịch sử mỹ thuật nhưng không thấy bàn đến CHNT của HS.

 

Vơi hội họa Việt Nam đương đại, chỉ có một số công trình về mỹ thuật đương đại nói chung và hầu như quan tâm đến các loại hình mới trong mỹ thuật với một phạm vi rộng hơn. Các nghiên cứu thường được đặt với tên là nghệ thuật thị giác và danh xưng là các nghệ sĩ thị giác. Có thể kể đến một số cuốn sách giới thiệu về mỹ thuật đương đại như Nghệ thuật đương đại ViệtNam 1990-2010 của Bùi Như Hương và Phạm Trung; 12 nghệ sĩ mỹ thuật đương đại Việt Nam và Nghệ thuật và tài năng [107] của Đào Mai Trang. Đây là nhưng cuốn sách đề cập trực tiếp đến mỹ thuật đương đại ở Việt Nam, trong đó chủ yếu là giới thiệu và nhận định phong cách sáng tác của các HS, đề cập đến NT đương đại ở nhiều mặt. ………………

 

..........................

 

Luận án này gồm 240 Trang bao gồm cả bản Pdf và bản word, mời quý vị download, tham khảo công trình nghiên cứu mẫu này trong lĩnh vực văn hóa và nghệ thuật

 

 

DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT TRONG LUẬN ÁN

 

CHNT - Cảm hứng nghệ thuật

 

HS - Họa sĩ

 

NCS - Nghiên cứu sinh

 

NT - Nghệ thuật

 

Nxb - Nhà xuất bản

 

PL - Phụ lục

 

Tr - Trang

 

 

 

 

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SANG TAC HỘI HỌA

1.1. Khái niệm Cảm hứng nghệ thuật

1.2. Cảm hứng nghệ thuật trong hội họa

1.3. Phân loại Cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa

1.4. Bối cảnh chung của hội họa và các hoạ sĩ được đề cập trong luận án

Tiểu kết chương 1

Chương 2 TÁC NHÂN KHƠI NGUỒN CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SÁNG TAC HỘI HOẠ

2.1. Tác nhân từ nền tảng kiến thức

2.2. Tác nhân từ hoàn cảnh lịch sử xã hội và văn hóa

2.3. Tác nhân từ đời sống nội tâm của họa sĩ

Tiểu kết chương 2

Chương 3 NHÂN DIÊN CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG SANG TAC HÔI HOA

3.1. Cảm hứng vơi hiện thực khách quan

3.2. Cảm hứng vơi những khám phá về chất liệu và kỹ thuật

3.3. Cảm hứng vơi nhu cầu đổi mới ngôn ngữ trong sáng tác

3.4. Cảm hứng vơi nội tâm của chủ thể hoạ sĩ

3.5. Cảm hứng vơi chính tác phẩm đang thể hiện

Tiểu kết chương 3

Chương 4 HIỆU QUẢ CỦA CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT TRONG HỘI HỌA

4.1. Hiệu quả về khoa học tạo hình cua cảm hứng với hiện thực

4.2. Hiệu quả mở rộng phương thức thực hành hội họa cua cảm hứng vớichất liệu, kỹ thuật

4.3. Hiệu quả về phong cách nghệ thuật cua cảm hứng với nhu cầu đổimới ngôn ngữ tạo hình

4.4. Hiệu quả về mặt biểu cảm cua cảm hứng với nội tâm

4.5. Những hiệu quả nghệ thuật khác cua cảm hứng với tác phẩm đanghình thành

Tiểu kết chương 4

ḰT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ

CÔNG BỐ LIÊN QUAN Đ́N ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với hiện thực kháchquan thể chủ động

Bảng 2: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với hiện thực kháchquan thể bị động

Bảng 3: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với những khám phá vềkỹ thuật chất liệu

Bảng 4: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nhu cầu đổi mớingôn ngữ trong sáng tác

Bảng 5: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nội tâm thể chủđộng

Bảng 6: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với nội tâm thể bịđộng

Bảng 7: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với tác phẩm thể chủđộng

Bảng 8: Sơ đồ minh họa sự xuất hiện cảm hứng với tác phẩm thể bịđộng..

 

 

 

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Phạm Văn Tuyến (2013), “Nhận diện về một dạng cảm hứng trong sáng tác hội hoạ”, Tạp chí Lý luận phê bình Văn học, Nghệ thuật, số 11, tr. 51-54

2. Phạm Văn Tuyến (2013), “Lý luận hội hoạ theo phương pháp liên ngành”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 350, tr. 91-94

3. Phạm Văn Tuyến (2014), “Ảnh hưởng của mỹ thuật truyền thống trong mỹ thuật hiện đại”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 357, tr. 52-56

4. Phạm Văn Tuyến (2014), “Hội hoạ Hậu Ấn tượng – Từ cách tiếp cận theo hướng liên ngành”, Tạp chí Lý luận phê bình Văn học, Nghệ thuật, số 19, tr. 26-33

5. Phạm Văn Tuyến (2014), “Từ tác phẩm Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ, bàn về CHNT của Nguyễn Sáng”, Tạp chí Lý luận phê bình Văn học, Nghệ thuật, số 21, tr. 15-17

6. Phạm Văn Tuyến (2014), “Cảm thức núi rừng của họa sĩ Nguyễn Thụ”, Tạp chí Lý luận phê bình Văn học, Nghệ thuật, số 27, tr. 73-75

7. Phạm Văn Tuyến (2015), “Cam hưng nghê thuât cua hoa si”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 367, tr. 67-71

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Tài liệu tiếng Việt

1. Lê Năng An biên dịch (1998), Những trào lưu lớn của nghệ thuật tạo hình hiện đại, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

2. M. Arnauđốp (1978), Tâm lý học sáng tạo Văn học, Hoài Lam, Hoài Ly dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

3. Ban biên tập Nhà xuất bản Mỹ thuật (2011), HS trẻ Việt Nam đương đại, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

4. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (2011), 45 năm Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

5. Lê Quốc Bảo (2003), “Bản chất của phê bình nghệ thuật là nghệ thuật đối thoại”, Tạp chí Mỹ thuật, số 86, tr. 15-16.

6. Nguyễn Trần Bạt (2011), Cội nguồn cảm hứng, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

7. Bộ Văn hoá Thông tin và Thể thao (2003), Tuyển tập Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

8. M. Cagan (2004), Hình thái học của nghệ thuật, Phan Ngọc dịch, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

9. Caroll E. Izard (1992), Những cảm xúc của người, Nguyên Hưu Chương, Nguyên Khăc Hiêu, Nguyên Dương Khư dich, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

10. Nguyễn Du Chi (2001), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Nxb Mỹ thuật, Viện Mỹ thuật, Hà Nội.

11. Cao Chi (2006), “Khoa học và nghệ thuật”, Tạp chí Tia sáng, số 2+ 3, tr. 66-69.

12. Nguyễn Văn Chung (chủ biên) (1986), Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

13. Trần Khánh Chương (2012), “Nguyễn Đỗ Cung họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 237, tr. 3-8.

14. Hoàng Hoa Cương (2004), “Tôi muốn gì ở nhà phê bình mỹ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 100, tr 46-47.

15. F. David Peat (2014), Từ xác định đến bất định, Phạm Việt Hưng dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

16. David Piper (1997), Thưởng ngoạn hội hoạ, Lê Thanh Lộc biên dịch, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

17. Denis Huisman (2004), Mỹ học, Xuân Lôc dich, Nxb Văn hoá thông tin, Hà nội.

18. Diderot (2006), Mỹ học, Phùng Văn Tửu dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

19. Trần Duy (2008), Suy nghĩ về nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

20. Trần Duy (2003), “Hiện tại và hiện đại”, Tạp chí Mỹ thuật, số 80, tr 6-9.

21. Triều Dương (1983), Họa sĩ Trần Văn Cẩn, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

22. Lê Thanh Đức (2003), Nghệ thuật mô đéc và hậu mô đéc, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

23. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học hiện sinh, tái bản lần 3, Nxb Văn học, Hà Nội.

24. Sigmund Freud (1969), Nghiên cưu phân tâm hoc, Vũ Đình Lưu dịch, An Tiêm xuât ban, Sài Gòn.

25. S. Freud và nhiều tác giả (2004), Phân tâm học và Văn học Nghệ thuật, Đỗ Lai Thuý biên soạn, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

26. Gamzatốp (1984), Đaghextan của tôi, Phan Hồng Giang dịch, 2 tập, Nxb Cầu vồng, Matsxcơva, Liên Xô.

27. Gaston Bachelard (2014), Sự hình thành tinh thần khoa học, Hà Dương Tuấn dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

28. George Berkeley (2014), Một nghiên cứu về các nguyên tắc nhận thức của con người, tái bản lần thứ nhất, Đinh Hồng Phúc và Mai Sơn dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

29. E. H. Gombrich (1998), Câu chuyện nghệ thuật, Lê Sỹ Tuấn dịch, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.

30. Gotphrit Bammes (2004), Nghệ thuật vẽ khoả thân, Nguyễn Đức Lam Trình dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

31. Hào Hải (1991), “Cuộc đời nghệ thuật khác thường của HS Dương Bích Liên”, Tạp chí Mỹ thuật của hội mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, tr 24.

32. Heghen (2005), Mỹ học, Phan Ngọc dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

33. Nguyễn Phi Hoanh (1970), Lược sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

34. Howard Gardner (2014), Cơ cấu trí khôn, tái bản lần thứ nhất, Phạm Toàn dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

35. Hội Mỹ thuật (1996), Tranh sơn dầu Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

36. Hội Mỹ thuật Việt Nam (2009), Những vấn đề mỹ thuật Việt Nam hiện đại, kỷ yếu hội thảo, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

37. Hội Mỹ thuật Việt Nam (2009), Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam hiện đại, kỷ yếu hội viên, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

38. Bùi Như Hương (2009), “Vài nét về mỹ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay”, Tạp chí Mỹ thuật số 194, tr 16-17.

39. Bùi Như Hương (2003), “Mỹ thuật đương đại Việt Nam đang ở đâu?”  Tạp chí Mỹ thuật, số 84, tr 23-26.

40. Nguyễn Văn Huyên chủ biên (2001), Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỷ mới, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

41. Jênuê Barotray (2004), Hình thể và không gian, Nguyễn Đức Lam Trình dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

42. Kandinsky (2014), Về cái tinh thần trong nghệ thuật, Ngụy Hữu Tâm và nhóm dịch giả, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

43. Imanuel Kant (2014), Phê phán lý tính thuần túy, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, tập 1, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh.

44. Imanuel Kant (2014), Phê phán lý tính thuần túy, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, tập 2, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh.

45. Imanuel Kant (2007), Phê phán lý tính thực hành, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Nxb Tri thức, TP Hồ Chí Minh.

46. Imanuel Kant (2007), Phê phán năng lực phán đoán, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Nxb Tri thức, TP Hồ Chí Minh.

47. M. B. Khrapchenkô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Lê Sơn, Nguyễn Minh dịch, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội.

48. Lương Quỳnh Khuê (1995), Văn hoá thẩm mỹ và nhân cách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

49. Đặng Phương Kiệt (chủ biên) (2000), Những vấn đề tâm lý và văn hoá hiện đại, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

50. Laurie Schneider Adams (2006), Khám phá thế giới mỹ thuật, Trần Văn Huân dịch, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

51. Leonard Shlain (2012), Nghệ thuật và Vật lý, tái bản lần thứ nhất, Trần Mạnh Hà và Phạm Văn Thiều dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

52. Linda Yablonsky (2005), “Cái tức cười của nghệ thuật đương đại”, Nguyễn Bích Thuỷ dịch, Tạp chí Mỹ thuật, số 130, tr 22-26.

53. Nguyễn Thị Loan (2003), “Khởi đầu của những tác phẩm”, Tạp chí Mỹ thuật, số 74, tr 44-45.

54. Nguyễn Kim Loan (2005), “Hội thảo Tính sáng tạo của nghệ thuật đương đại Việt Nam”, Tạp chí Mỹ thuật, số132, tr 34-37.

55. Lê Thanh Lộc (biên dịch) (2009), Các phong trào hội hoạ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

56. Bùi Văn Lợi (1998), Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 diện mạo và đặc điểm, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam, mã kho LA98.0135.3.

57. Quý Long, Kim Thư (2009), Từ điển tiếng Việt, Nxb Lao động, Hà Nội.

58. Hoàng Công Luận, Nguyễn Quân (1994), Các bậc thầy hội hoạ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật Hà Nội, Hà Nội.

59. Vương Hoằng Lực, (2002), Nguyên lý hội họa đen trắng, Võ Mai Lý biên dịch, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

60. Phương Lựu (1989), Tinh hoa ly luân văn hoc cô điên Trung Quôc, Nxb Giáo dục, Hà Nội

61. C. Mac, Ph. Ăngghen, V. L Lênin (1997), Về Văn học và Nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội.

62. Hoàng Lê Minh (biên soạn) (2011), Danh nhân trong lĩnh vực Triết học, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

63. Murray Stein (2010), Bản đồ tâm hồn con người của Jung, Bùi Lưu Phi Khanh dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội.

64. Đặng Bích Ngân (chủ biên) (2007), Từ điển Thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

65. Đặng Thị Bích Ngân (2005), Danh hoạ cuộc đời và tác phẩm, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

66. Văn Ngọc (2004), Đi trong thế giới hội hoạ, Nxb Trẻ, Hà Nội.

67. Đào Thủy Nguyên (2002), Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải, Luận án tiến sĩ Văn học, Thư viện Quốc gia Việt Nam, mã kho LA02.0498.3.

68. Nhà xuất bản Tiến bộ và Nhà xuất bản Sự thật (1986), Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Mátxcơva, Liên Xô.

69. Tiệp Nhân, Vệ Hải (chủ biên) (2004), Từ điển Mỹ thuật hội họa thế giới, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

70. Nhiều tác giả (1999), Từ điển Thuật ngữ văn học, in lần thứ ba, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

71. Nhiều tác giả (2013), Từ điển Thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

72. Nhiều tác giả (1978), Sáng tác mỹ thuật, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

73. Ocvirk (2006), Những nền tảng của Mỹ thuật, Lê Thành dịch, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

74. M. F. Ốpxianhicốp (2001), Mỹ học cơ ban va nâng cao, Phạm Văn Bích dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

75. M. F. Ốpxianhicốp (1987), Mỹ học Ma c-Lênin, Phạm Văn Bích dịch, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

76. K. Pauxtôpxki (1999), Bông hồng vàng & Bình minh mưa, Kim Ân và Mộng Quỳnh dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.

77. Bùi Xuân Phái (2008), Viết dưới ánh đèn dầu, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

78. G. N. Pospelov (chủ biên) (1985), Dân luân nghiên cưu văn hoc, Trân Đinh Sư, Lại Ng uyên Ân, Lê Ngoc Tra dich, 2 tâp, Nxb Giao duc, Hà Nội.

79. Nguyễn Quân (2008), Ghi chú về nghệ thuật, tái bản lân thư nhât, Nxb Trẻ, TP Hồ Chính Minh.

80. Nguyễn Quân (2006), Ngôn ngữ của hình và màu sắc, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

81. Nguyễn Quân (2010), Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, Nxb Tri thức, Hà Nội.

82. Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng (1989), Mỹ thuật của người Việt, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

83. Nguyễn Quân (2006), “Chân dung hay là điện tâm đồ”, Tạp chí Mỹ thuật, số 152, tr 34-35.

84. A. A. Radugin (2001), Từ điển bách khoa Văn hoá học, Vũ Đình Phòng dịch, Viện nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội.

85. H. Russel Bernard (2009), Các phương pháp nghiên cứu trong nhân học tiếp cận định tính và định lượng, Hoàng Trọng, Ngô Thị Phương Lan, Trương Thị Thu Hằng dịch, Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh.

86. Lê Văn Sửu (2005), “Ngày xuân bàn về chất thơ trong hội hoạ”, Tạp chí Mỹ thuật, số 120, tr. 24-27.

87. Hoàng Đình Tài (2006), “Một hướng tìm tòi thành công của các bậc thầy”, Tạp chí Mỹ thuật, số 150, tr. 17-19.

88. Trần Nhựt Tân (2006), Tâm lý học, Nxb Lao động, Hà Nội.

89. Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật (2008), Trước hết là giá trị con người, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

90. Bùi Quang Thắng (Chủ biên) (2008), 30 thuật ngữ nghiên cứu văn hoá, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

91. Lê Đình Thuận (2014), “Tư duy sáng tạo nghệ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 257&258, tr 49-53,60.

92. Trần Thức (1989), Nguyễn Sáng (1923-1988), Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

93. Trần Thức (2004), “Một cách hiểu về Truyền thống và Mỹ thuật đương đại”, Tạp chí Mỹ thuật, số 106, tr 22-24.

94. Trần Thức (2005), “Công chúng và nhà phê bình tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 142, tr 28-29.

95. Trần Thức (2012), “Thế hệ trẻ và ý thức mới trong nghệ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 236, tr 6-7.

96. Trần Thức (2004), “Mỹ thuật và phê bình mỹ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 118, tr 23-24.

97. Trần Thức (2006), “Trò chuyên với hoa si Nguyễn Tư Nghiêm về mỹ thuật xưa và nay”, Tạp chí Mỹ thuật, số 146, tr 44-46.

98. Trần Thức (2006), “Hoa si – nhà điêu khắc phải là nhà tư tưởng sáng tạo”, Tạp chí Mỹ thuật, số 158, tr 7-9.159

99. Trần Thức (2008), “Hiện đại – đương đại với truyền thống dưới góc nhìn triết học, lịch sử”, Tạp chí Mỹ thuật, số 184, tr 8-11.

100. Phan Cẩm Thượng (1992), “Tiền đề nghệ thuật của Nguyễn Phan Chánh”, Tạp chí Mỹ thuật của hội mỹ thuật T. P. Hồ Chí Minh, số 6, tr 9.

101. Phan Cẩm Thượng (2008), Nghệ thuật ngày thường, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

102. Ngô Thu Thủy (2003), “Quang điểm phương Đông về sáng tạo hội họa”, Tạp chí Mỹ thuật, số 76, tr 23-24.

103. Chu Quang Tiềm (1991), Tâm lý văn nghệ, Khổng Đức, Đinh Tấn Dung dịch, Nxb TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

104. L. I. Timôfêép (1962), Nguyên lý lý luận văn học, Lê Đình Kỵ và nhiều người dịch, 2 tập, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

105. Nguyễn Trân (2005), Các thể loại và loại hình Mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

106. Đặng Ngọc Trân (2003), “Phân tâm học và nghệ thuật”, Tạp chí Mỹ thuật, số 88, tr 23-25.

107. Đào Mai Trang (2014), Nghệ thuật và tài năng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

108. Chu Quang Trứ (2000), Văn hoá Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật, tập 1, Viện Mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

109. Chu Quang Trứ (2000), Văn hoá Việt Nam nhìn từ Mỹ thuật, tập 2, Viện Mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

110. Liêu Trương (2011), Phân tâm hoc va phê binh văn hoc, Nxb Phu nữ, Hà Nội.

111. Bùi Quang Trường (2012), Văn xuôi viết về nông thôn trong văn học Việt Nam sau 1975, Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam, mã kho LA12.1215.3.

112. Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật (2000), Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, Kỷ yếu hội thảo, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. 160

113. Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật (2008), Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

114. Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Viện Mỹ thuật (2010), Về bản sắc Văn hóa Hà Nội trong Văn học Nghệ thuật thế kỷ XX, Kỷ yếu hội thảo, Nxb Tri thức, Hà Nội.

115. Tsécnưsépxki (1962), Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực, Quang Việt dịch, Nxb Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội.

116. Nguyệt Tú, Nguyễn Phan Cảnh (1979), Họa sĩ Nguyễn Phan Chánh, Nxb Văn hoá, Hà Nội.

117. Đức Uy (1999), Tâm lý học sáng tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

118. Thái Bá Vân (1998), Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội.

119. Đặng Thanh Vân (2005), “Đổi mới lý luận phê bình mỹ thuật trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá”, Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật, số 3+ 4, tr 59-63.

120. Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1963), Nguyên lý mỹ học Mác-Lênin, Hoàng Xuân Nhị dịch, phần III, Nxb Sự thật, Hà Nội.

121. Chris Barker (2011), Nghiên cứu văn hoá, lý thuyết và thực hành, Đặng Tuyêt Anh dich, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

122. Quang Việt (2008), Từ điển họa sĩ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

123. Quang Việt (2013), “Nhắc lại việc sơ thảo cuốn lịch sử mỹ thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh”, Tạp chí Mỹ thuật số, 245, tr 13-15.

124. Quang Việt (2013), “Nhắc lại việc sơ thảo cuốn lịch sử mỹ thuật Việt Nam của Nguyễn Phi Hoanh”, Tạp chí Mỹ thuật, số 246, tr 10-11.

125. Hồ Sĩ Vịnh (chủ biên) (1993), Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội.

126. Trương Vọng (soạn) (1964), Lỗ Tấn bàn về mỹ thuật, Chu Thiên dịch, Nxb Văn hoá Nghệ thuật, Hà Nội.

127. L. X. Vưgốtxki (1995), Tâm lý học nghệ thuật, Hoài Lam, Kiên Giang dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

128. L. X. Vưgốtxki (1985), Trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi, Duy Lập dịch, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

129. Wendy Beckett (1996), Lịch sử hội hoạ, Lê Thanh Lộc dịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

130. A. Xâytlin (1967), Lao động nhà văn, Hoài Lam và Hoài Ly dịch, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội.

131. A. Xâytlin (1968), Lao động nhà văn, Hoài Lam và Hoài Ly dịch, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.

132. L. X. Xôlôvâytrích (1975), Từ hứng thú đến tài năng, Lê Khánh Trường dịch, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

133. Nguyễn Hải Yến (2010), Hội họa Hà Nội những ký ức còn lại, Picture Art Foundation, China.

134. Nguyễn Hải Yến (2010), “Năm mùa của Nguyễn Tư Nghiêm”, Tạp chí Mỹ thuật, số 208, tr 33-35.

135. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1996), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

 

Tài liệu tiếng Anh

 

136. Alfred Gell (1998), Art and Agency: An Anthropological Theory (Nghệ thuật và tác lực, một lý thuyết Nhân học), Oxford: Clarendon.

137. Anne Ganteführer, Trier (2004), Cubism (Chủ nghĩa Lập thể), Taschen, Germany.

138. Dietmar Elger (2008), Abstract art (Nghệ thuật Trừu tượng), Taschen, Germany. 162

139. Dietmar Elger (2004), Dadaism (Chủ nghĩa Đa đa), Taschen, Germany.

140. Edward Lucie, Smith, Art today (Nghệ thuật ngày nay), Phaidon, Hong Kong.

141. E. H. Gombrich (1995), The story of Art (Câu chuyện nghệ thuật), Published 16th, Phaidon, Germany.

142. Karin H. Grimme (2007), Impressionism (Chủ nghĩa Ấn tượng), Taschen, Germany.

143. Norbert Wolf (2004), Expressionism (Chủ nghĩa Biểu hiện), Taschen, Germany.

144. Ruhrberg, Scheneckenburger, Fricke, Honnef (2005), Art of the 20th Century (Nghệ thuật thế kỷ 20), Volume1+ 2, Taschen, India.

145. Sylvia Martin (2005), Futurism (Chủ nghĩa Vị lai), Taschen, Germany.

146. Ulrich Bischoff (2002), Edvard Munch 1863-1944, Taschen, Germany.

 

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 Luận án Cảm ứng nghệ thuật hội họa.Pdf AMBN(st) P.V.Tuyến 240Tr Download file cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa 1211
2 LATS Cảm hứng sáng tác nghệ thuật.Doc AMBN(st) P.V.Tuyến 200Tr Download file cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa 2511
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa

cảm hứng nghệ thuật trong sáng tác hội họa

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN