Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh lên facebook!
nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh

06/01/2015 Uploader: AMBN Loại file: pdf

Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh. Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh (qua nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam), hay nói cách khác, nghiên cứu nghệ thuật tạo hình tham gia vào mọi phương diện sáng tác trong một nghệ thuật tổng hợp là điện ảnh. Từ việc lý giải mối quan hệ giữa nghệ thuật tạo hình với tạo hình điện ảnh trong sáng tác phim truyện, qua đó mong tìm ra quy luật gắn kết tổng hòa mọi hiệu quả tạo hình trong tác phẩm.

Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh

 

 

(Nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam)

 

NCS Đỗ Lệnh Hùng Tú - Chuyên ngành Văn Hóa Nghệ Thuật

 

 

 

 

1. Lý do chọn đề tài

 

MỞ ĐẦU

 

Tạo hình là một trong những thành tố cơ bản cấu tạo nên hình tượng điện ảnh, giữ vai trò quan trọng đối với hiệu quả thể hiện tác phẩm phim truyện. Chỉ xét riêng về hình thức, cái tĩnh lặng ngàn năm của mỹ thuật truyền thống luôn khác với những khuôn hình chuyển động của điện ảnh; Nhưng xét về bản chất, chúng có những đặc điểm giao thoa đặc biệt với nhau thông qua phương thức thể hiện. Hiệu quả của những hình ảnh và âm thanh gắn liền với chúng là chất liệu cơ bản của ngôn ngữ phim truyện. Từ những đòi hỏi mang tính đặc thù, người làm phim chuyên nghiệp rất cần trang bị cho mình khả năng hình thành cảm quan và tư duy tạo hình, từ đó chuyển biến chúng thành hiệu quả tạo hình màn ảnh, góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ đích thực trong mỗi tác phẩm phim truyện. Như vậy, phương thức biểu đạt nghệ thuật tạo hình trong phim truyện là sự ứng dụng sáng tạo đặc biệt của nghệ thuật tạo hình, với tính chân - thiện - mỹ vừa là thước đo giá trị tác phẩm, vừa bao trùm cả nội dung lộ n hình thức nghệ thuật thể hiện.

 

Trong hơn nửa thế kỷ qua, những hiệu quả biểu đạt tạo hình trong nhiều tác phẩm phim truyện Việt Nam (VN) Đã đem lại thành công nhất định, tạo ra “dấu ấn văn hóa bản địa giàu nội lực và bản sắc”, gây được tiếng vang trong và ngoài nước. Tuy nhi n, ngày nay trong thời đại toàn cầu hóa, với những đột ph kỹ thuật dẫn sự phát triển nhanh mạnh của truyền hình, Internet, kỷ nguyên kỹ thuật số cùng nhiều phương tiện truyền thông đa phương tiện phong phú khác, đã và đang th t sự đòi hỏi sự biến chuyển sâu sắc trình độ thể hiện ngôn ngữ nghệ thuật phim truyện nhằm cân bằng khách quan nhu cầu thưởng thức ở mức ngày càng cao của công chúng. Trước tình hình này, phương thức biểu đạt tạo hình trong phim truyện VN đã và đang phải đối diện với nhiều vấn đề phát sinh cần được nghiên cứu lý giải rõ ràng. Đó là những nội dung vừa mang giá trị thực tiễn chứa đựng tính học thu tácao như: Tại sao chất lượng tạo hình trong nhiều bộ phim truyện ngày càng sa sút, bộc lộ sự qua loa, thiếu chuyên nghiệp? Tại sao những chuẩ nămực tạo hình phim truyện nhiều khi bị xem nhẹ? Nguyên nhân gì đã và đang làm nhạt đi sức hấp dẫn của hình ảnh phim truyện? Tại sao ngày m t hiếm những tác phẩm “nghe - nhìn” vừa hay về n i dung, vừa đạt giá trị cao về nghệ thuật tạo hình trong thể hiện?

 

Trên thực tế, phim truyện VN đang bộc lộ những yếu kém về tạo hình cả về lý thuyết lộ n thực hành. Dù đã có những công trình, bài viết về nghệ thuật tạo hình và điện ảnh được trao truyền tới độc giả qua sách, báo chí và các phương tiện truyền thông, nhưng những công trình nghiên cứu ph bình quan tâm đi chuyên sâu đến nghệ thuật tạo hình trong phim truyện VN “là chưa nhiều, nói cách khác, bình diện này văn còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy…” [63, tr. 20].

 

Với mong muốn đóng góp những nghiên cứu khoa học mang tính hệ thống, nghiên cứu sinh sẽ cố gắng tìm những luận giải mang tính quy luậtácủa phương thức biểu đạt tạo hình trong sáng tác phim truyện, nhằm không chỉ góp phần bổ sung vào lĩnh vực nghiên cứu lý luậ nămỹ thuật – điện ảnh, mà còn thể hiện những giá trị ứng dụng thực hành có hiệu quả đối với lĩnh vực sáng tác - chế tác phim truyện. Đây chính là nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu của luận án tiến sĩ và do đó, nghiên cứu sinh (NCS) Xin lấy tên đề tài nghiên cứu là: Nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh (Nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam), nhằm góp phần làm sáng tỏ những vần đề nêu trên.

 

2. Lịch sử những vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài

 

Nhằm tìm ra “khoảng trống” cần phải giải quyết, NCS chú trọng những thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố có liên quan ít, nhiều đến đề tài nghiên cứu của mình, để sắp xếp hệ thống theo từng nhóm vấn đề quan tâm.

 

2.1. Về vấn đề loại hình, loại thể của nghệ thuật

 

Từ nguồn sách dịch và xuất bản trong nước, hình thái học của nghệ thuật của tác giả M. Cagan [45] là công trình nghiên cứu mỹ học rất công phu. Tác giả đã làm sáng tỏ những khái niệm mỹ học khi chia tất cả nghệ thuật ra làm ba nhóm: Những nghệ thuật chủ yếu liên quan tới không gian: Những nghệ thuật hình tượng; Những nghệ thuậtáchủ yếu liên quan đến thời gian: Những nghệ thuật âm thanh; Những nghệ thuật liên quan tới không gian cũng như tới thời gian: Những nghệ thuật kịch sân khấu. Các nghệ thuật “hình tượng” (tức hình tượng cảm quan), đến lượt nó, lại chia thành “tạo hình” (điêu khắc, kiến trúc) Hay “vẽ”  mà hình thức cao nhất là hội họa. Khi “hội họa thay hình đổi dạng để nhập vào sự tổng hợp”  thì một nghệ thuật mới là “nghệ thuật dàn cảnh”  ra đời, nó bao quá t đặc biệt hội họa và những thiết bị phụ đa dạng, bàn ghế, quần o, thiết bị nh sáng của kịch, sự xây dựng về sân khấu, công trình kiến trúc…, đó chính là: “Sự ra đời của điện ảnh là cái bao quá t hội họa trong số những yếu tố được nó tổng hợp lại, đã đặt nó ở vào điều kiện như khi nó phải thay đổi đã tạo nê nămột thể sáng tạo miêu tả mới” [45, tr. 555].

 

Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật lộ Quốc Bảo, tất cả các ngành nghệ thuật kh c khi bước vào điện ảnh phải mất đi tính chất tự nhiên trong ngôn ngữ vốn có của nó, bỏ đi “cái tôi” của mình để làm nê nămột nghệ thuật mới, tạo nên ngôn ngữ mới, một không gia nămới, hòa quyện trở thành ngôn ngữ tổng hợp [1].

 

2.2. Về Mỹ thuật học

 

Năm 2005, sáchnhìn cái đẹp của tác giả Nguyễn Quân [73], đã đồng nghĩa khái niệm mỹ thuật và nghệ thuật tạo hình. Tác giả Xác định tư duy cao nhất là tư duy hình tượng bởi mắt là giác quan số một trong ngũ quan; Bởi khoảng hơn 80% thông tin thu nhận được, hay các ký ức kỷ niệm của con người cũng đều nhờ thị giác. Khi các yếu tố hình – hình học – hình thị giác và hình tâm lý, tưởng tượng là kết quả tổng hợp của hoạt động tinh thần con người, tạo nên cái đẹp, và khi chúng hòa chung thống nhất làm một, sẽ tạo nên cái chân - thiện - mỹ trong tác phẩm.

 

Cũng năm 2005, Ghi chú về nghệ thuật [74] của Nguyễn Quân đã đề cập: “tư duy ngôn từ với đặc điểm tối cao là tư duy tư biện đã lấn t tư duy thị giác. Con người ta dùng ngôn ngữ tiện lợi hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn nên hay dùng nó thay cho tư duy thị giác” và “việc thông dịch tư duy thị giác ra tư duy ngôn từ được tiến hành vô ý thức ở những người ít khiếu thẩm mỹ”  [74, tr. 156]. Từ đó, có thể thấy yếu tố “hình” của mỹ thuật luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng hình tượng cũng như liên tưởng nghệ thuật; Cảm xúc và tư duy hình tượng luôn có giá trị nh n thức cao. Đó chính là hiệu quả biểu đạt của nghệ thuật tạo hình đối với sáng tác và hưởng thụ nghệ thuật. Ở tầng cao nhất của thị giác là khả năng thực hành tư duy, mà tư duy hình tượng là tư duy bộc cao của nhận thức và là loại tư duy sáng tạo. Khi nghe một điệu nhạc, cũng có thể tưởng tượng ra hình ảnh. Xem phim hay kịch, khán giả cũng văn có những hình ảnh hình tượng của riêng mình không hoàn toàn giống với những cái đang nhìn thấy. Các hình tượng thị giác sinh ra, khi “hình” không chỉ là sự nhìn khi mở mắt, mà nó còn là kết quả của sự tưởng tượng và liên tưởng nhờ vào hoạt động của kho ký ức thị giác và tâm lý thị giác.

 

Năm 2006, bài viết của tác giả Xing Li [35, tr. 130 -137] đã so sánh quan niệm và thuật ngữ “Mỹ thuật” Đông Tây. Theo đó, “Mỹ thuật”  là một từ “không hề hoàn toàn thuần túy,”  tạo nên sự tranh luận cả trong và ngoài quy mô nghệ thuật thị giác. Theo đó, các thuật ngữ “Mỹ thuật” (fine art), “Sân khấu”  (theatre), “Nghệ thuật”

 

(art) … đều là sự “học theo phương Tây, thấm dần vào phương Đông”. Thực tế, là từ “nghệ thuật” đã tồn tại từ cổ xưa, để chỉ một quan niệm đối chiếu rộng rãi, ý nghĩa hàm chứa cả văn học, nghệ thuật, diệu kỹ (diệu: Tài tình, tinh xảo, khéo; Kỹ: Kỹ năng, bản lĩnh, kỹ thuật) Cùng với những ý nghĩa khác như ngày nay. Nghĩa hẹp của “nghệ thuật” là một quan niệm về nghệ thuật thị giác, tương ứng với quan niệm “Mỹ thuật”, nghĩa rộng của “nghệ thuật”  là mỹ học hoặc với ý nghĩa triết học nghệ thuật, nó không chỉ bao hàm nghệ thuật thị giác, nghệ thuật thính giác và nghệ thuật tổng hợp.

 

Mỹ thuật còn bao hàm cả tạo hình kiến trúc. Cảnh quan môi trường và các công trình kiến trúc lại là không gian, đối tượng cảnh quay quan trọng đối với phim truyện. Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt (2011), của tác giả Trần Lâm Biền [4], đã cung cấp những kiến thức cơ bản sâu sắc về “dụng ý của tiền nhân”. Theo đó, mỹ thuật truyền thống dân tộc của người Việt được thể hiện rõ nét qua kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc và trang trí. Trong “bước đi” của kiến trúc Việt truyền thống thì nổi bộ t là việc tổ chức không gian, kết cấu, chạm khắc trên kiến trúc qua các thời và trang trí bộ m i trong kiến trúc. Bên cạnh đó là sự gắn liền không thể thiếu của nghệ thuật điêu khắc và trang trí được thể hiện qua đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo. Khi hiểu ý nghĩa về biểu tượng một cách sâu sắc, người làm phim có thể chủ động phục chế, tái tạo, khai thác sử dụng có hiệu quả mỹ thuật truyền thống Việt trong các đề tài lịch sử, cổ trang ở cả ba lĩnh vực: Tạo hình bối cảnh, tạo hình đạo cụ và tạo hình thiết kế phục trang, tạo hình mỹ thuật hóa trang diệ nămạo nhân vật.

 

2.3. Về Mỹ học điện ảnh

 

Năm 1983, với Оптическая композиция кинокадра (tạm dịch: Bố cục khuôn hình ống kính máy quay phim) [100], tác giả Головня А., đã minh định vai trò của mỹ học trong tạo hình điện ảnh, khi “bày biện, sắp đặt” mọi tiền đề cảnh quay trong từng bố cục khuôn hình ống kính. Với nhiều những đồ vật tưởng như vô tri, nhưng nếu gắn liền với nội dung, được đặt đúng lúc, đúng chỗ, thì hiển nhiên chúng có tác dụng tạo nên những biểu hiện tâm lý như nhân vật.

 

Năm 1984, trong Художественный мир фильма (tạm dịch: Thế giới Nghệ thuật phim truyện [101], tác giả Муриан В., đã văn dụng tâm lý học cảm xúc và tâm lý học phân tích để nghiên cứu hình tượng nhân vật thông qua vai trò của diễn viên với hành vi, cử chỉ, biểu cảm các trạng thái tâm lý. Song, tất cả những kết tinh đặc sắc nhất của diễn viên khi hóa thân vào nhân vật, lại phụ thuộc phần lớn vào năng lực tạo hình của đạo diễn và những người làm phim.

 

Năm 2011, sách Nhận thức điện ảnh [33] đã đề cập đến hệ thống phân tích mỹ học bao gồm các: Yếu tố nghe nhìn, yếu tố cốt truyện, yếu tố tư tưởng và yếu tố đặc trưng; Cùng các quy luật về quan hệ thẩm mỹ, quy luật về tính tổng hợp của thẩm mỹ, quy luật về cấu trúc thẩm mỹ, để nhận thức được, khi hoàn thành một bộ phim - nó mới chỉ được coi là thành phẩm và chỉ khi nào nó được công chúng đón nhậ nămới trở thành tác phẩm. Cùng trong năm này, sách Gọi tiếng cho hình [11] đề cập đến việc thể hiện tâm lý nhân vật thông qua ngôn ngữ biểu đạt và hiệu quả nghe – nhìn. Bằng nghiên cứu bài bản về kỹ thuật và nghệ thuật sử dụng âm thanh trong phim truyện hiện đại, công trình kiến giải đế nămối quan hệ phối trộn đặc biệt giữa âm thanh và hình ảnh; Giữa âm thanh và n i dung truyện phim qua hiệu quả gợi mở và liên tưởng thẩm mỹ trong cảm thụ tạo hình.

 

2.4. Về Ký hiệu học

 

Có nhiều nghiên cứu đưa ra những quan điểm khoa học coi ký hiệu học là bộ môn khoa học có tính độc lộ p; Coi tác phẩm điện ảnh như một hệ thống ký hiệu và biệu tượng biểu hiện; Coi ngôn ngữ động của điện ảnh là những tổng hợp các ký hiệu tạo nên hình ảnh phim. Với phương thức thuật truyện: Bằng hình ảnh đăng, bằng lời và bằng nhạc, giữa chúng hình thành mối tương quan kh phức tạp, và mỗi phương thức thuật truyện là một loại ký hiệu riêng.

 

Năm 1995, Những tri thức điện ảnh [17] của tác giả J. Monaco được dịch, đã kiến giải một bộ phim truyện đúng nghĩa là kiểu mẫu kết cấu văn bản kể chuyện để từ đó nhận diện văn bản điện ảnh gồm những ký hiệu vừa không liên tục, cũng lại vừa liên tục, trong đó chuyên chở những ý nghĩa trực tiếp g n cho văn bản.

 

Năm 1997, Ký hiệu học nghệ thuật Sân khấu của tác giả Erika Fischer- Lichte [36], được dịch, đã đề cập kh sâu khi nghiên cứu về hình tượng nhân vật thông qua nghệ thuật diễn xuất được tạo bởi những thành tố tạo hình cụ thể: Ký hiệu lời nói (ngôn ngữ, c năngôn ngữ); Ký hiệu những hoạt đăng không lời (nét mặt, động tác…); Ký hiệu ngoại hình của diễn viên (mặt nạ, râu tóc, trang phục); Ký hiệu không gian (trang trí bối cảnh, đạo cụ được bày biện và diễn xuất, hiệu quả nh sáng); Ký hiệu âm thanh không lời (tiếng động, lời thoại, âm nhạc) …Cùng in chung trong cuốn này, còn có Ký hiệu học và mỹ học Điện ảnh Iu. M. Lotman, khẳng định phim truyện, đó là “truyện kể bằng hình ảnh động”, sáp nhập những thông điệp bằng miệng, những thông điệp bằng nhạc, tăng cường những mối quan hệ siêu-Văn bản, nối vào những kết cấu ý nghĩa - những lớp ký hiệu này hình thành một montage phức tạp bằng mối quan hệ qua lại giữa chúng để tạo ra hiệu quả ý nghĩa - tổ chức chúng lại thành một hệ thống duy nhất là cái đ p vào mắt ta.

 

Năm 2004, trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật [26], tác giả Iu. M. Lotman đã coi ngôn ngữ tạo hình phim truyện như là hệ thống các ký hiệu; Đồng thời đề cập đến đặc điểm thị giác, tượng hình, âm thanh, xuất hiện trong văn bản không phải một cách tự nhiê nămà kết hợp với một ý nghĩa” và coi điện ảnh là ngôn ngữ của các hình ảnh thị giác có từ vựng, phép đặt câu, bỏ lửng trong câu, có các dấu chấm câu và ngữ ph p của mình và chính phim – là chữ viết trong các hình ảnh thị giác. Như vậy, phim truyện là một hình thức kể chuyện bằng hình ảnh động và tiếng nói - hai yếu tố cấu thành cơ bản, được triển khai song song trong truyện kể. “Chúng thâm nhập vào nhau như sự hòa hợp giữa hai dòng ký hiệu, khi cả hình ảnh động lộ n tiếng nói, phối hợp tạo ra những nội dung”  [33, tr. 278].

 

Năm 2007, trong ành trình nghiên cứu Điện ảnh Việt Nam in chung nhiều tác giả [63], GS. TS Đình Quang, đã phân tích một nghịch lý, là trong lúc càng cố gắng tối đa để cho hình ảnh con người trên màn bạc gần gũi với con người trong cuộc đời, trênh gây cảm giác tạo tác, có tính sân khấu, thì ngược lại, nó lại “đ m tính ký hiệu hơn cả trên sân khấu cũng như trong các nghệ thuật tượng hình khác”  [63, tr. 645]. Với hiệu quả màn ảnh, diễn xuất điện ảnh nửa mang tính chất nghệ thuật, nửa mang tính chất kỹ thuật.

 

2.5. Về cơ chế phân hợp trong sáng tác tập thể

 

Bàn về cơ chế phân hợp trong sáng tác tập thể đối với các thành phần làm phim truyện, có bài viết “Văn học dân gian với ngôn ngữ tạo hình điện ảnh”  [63] của tác giả Đặng văn Lung. Theo đó, tính nguyên hợp có nghĩa tất cả mọi thành tố tạo nên “đều có chung một ngọn nguồn, chúng hòa vào nhau ngay từ đầu nguồn, có nghĩa nguyên khối, nguyên tảng, không phân chia được. Động đế nămột yếu tố thì lộ p tức động đến toàn bộ. Cái bộ phận cũng biểu hiện đến cái toàn thể” [63, tr. 62]. Đặc trưng quan trọng của điện ảnh là phân hợp. Phân nghĩa là chia thành nhiều phần để chuyên môn hóa th tácao, th t sâu. Hợp là bước tiếp theo của phân và sau khi phát triển hết sức của sự phân, thì sẽ tới giai đoạn nhập tất cả lại để thành sự hợp. Hợp thành một, nhưng không phải là cộng tất cả thành một, mà là trộn hòa tất cả sao cho thành một sản phẩm nhất quá n. Phân nghĩa là từ một cái một, một tác phẩm điện ảnh chia ra: Tác giả truyện, tác giả kịch bản, tác giả kịch bản phân cảnh, tác giả ch nh, phó đạo diễn, tác giả quay, tác giả nhạc, tác giả lời hát, tác giả hòa âm phối khí, tác giả tiếng động, tác giả hóa trang, đạo cụ, dựng phim, diễn viên… Trên thực tế, mỗi tác giả có chuyên môn riêng, có ngành học riêng và riêng làm theo sự sáng tạo cao nhất của mình. Hợp nghĩa là tổ chức các mảng phân ấy thành một quan niệm gắn bó, đồng sinh đồng tử thành một cấu trúc chặt chẽ, sống động. Tất cả phối hợp với nhau, hộ ứng đều đặn. Bởi vì hỏng một khâu thì có thể hỏng cả sản phẩm. Ngôn ngữ tạo hình điện ảnh cũng chính là ngôn ngữ phân - hợp. Từ một được cắt nhỏ ra. Từ một bộ phận nhỏ hướng vào tạo ra một ngôn ngữ tạo hình điện ảnh, tạo ra một bộ phim vượt qua thử th ch thời gian, có sức sống lâu bền trong lòng khán giả. Bàn về ngôn ngữ tạo hình điện ảnh là bàn về từng khâu trong toàn thể và bàn về toàn thể trong từng khâu. Mục tiêu vươn tới của tạo hình điện ảnh là đưa sự phân cao nhất đến sự hợp cao nhất. Có thể thấy khi “mỗi tác giả đều được thực hiện tuyệt vời phầ nămình thì chắc chắn sẽ có tác phẩm điện ảnh tuyệt vời”  [63, tr. 623]. Tuy nhi n, đây phải là một kết quả có điều kiện. Chỉ bao giờ nếu mỗi tác giả đồng đều đạt được hiệu quả “tuyệt vời” về phầ nămình thì khi ấy mới có nhiều hứa hẹn sẽ cho sự ra đời một tác phẩm điện ảnh thực sự có giá trị, trên cơ sở những hiệu quả ấy đều được tổng hòa trong kỹ thuật, và nghệ thuật thể hiện phim truyện.

 

2.6. Về Văn hóa học

 

Năm 2006, tác giả Nguyễn Chí Bền, trong cuốn văn hóa Việt Nam, mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn, đã nêu lộ n những đặc trưng bản chất của văn học nghệ thuật trong bức tranh toàn cảnh của một nền văn hóa. Theo ông, quy luật giá trị “t c động rất mạnh đến từng sản phẩm văn hóa, thậm chí những sáng tạo không dễ gì chúng ta định tính, định lượng văn chịu sự tác động của quy luật này” [3, tr. 53]. Đây là vấn đề cần thiết khi bàn đến khán giả và thị hiếu khán giả trong cảm thụ tác phẩm nghệ thuật nói chung và khảo sát mỗi bộ phim truyện nói riêng.

 

Khi bàn “Về tính hiện đại và tính dân tộc trong sáng tạo điện ảnh”  [63, tr. 236-241], TS. Ngô Phương Lan, đã phân tích cách sống tế nhị, kín đáo của người Việt Nam thấm sâu vào các nhà sáng tác điện ảnh, giúp họ thành công trong cách lấy “mây tả trăng”  để thể hiện gợi cảm những diễn biến tình cảm tế nhị của nhân vật. Sự hòa đồng giữa con người với thiên nhiên và lòng yêu chuộng thơ ca đã tạo nên chất chan chứa hoặc chí ít cũng tạo nên chất trữ tình trong nhiều bộ phim.

 

Như vậy, tất cả, những đóng góp và hướng đi trên là những dữ kiện khoa học đăng tin cậy liên quan ít nhiều đến đề tài luận án, để có thể chọn lựa diễn giải, trích dẫn phù hợp. Song, NCS cần phải tìm ra những “khoảng trống” chưa được đề cập trong các nghiên cứu từ trước tới nay, những mong tìm tòi hướng nghiên cứu mới cho đề tài lựa chọn. Thực tế, do nhiều mục đích tiếp c n khác nhau nên còn hiếm những công trình nghiên cứu lý luận, phê bình chuyên sâu về tạo hình phim truyện. Những bài viết về tạo hình đăng rải rác trên một số báo, tạp chí…Văn chưa bàn sâu về các vấn đề học thuật, hiển nhiên càng chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, chuyên sâu và tiếp c n đa - liên ngành nào về Nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh khi nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam, để có được cái nhìn toàn diện và chi tiết về sự tổng hòa mọi hiệu quả tạo hình trong suốt tiến trình sáng - chế tác tác phẩm.

 

3. Mục đích nghiên cứu

 

Đề tài của luận án thuộc lĩnh vực nghiên cứu nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh, Xác định rõ vai trò của các thành tố mang tính đặc trưng, qua phương thức biểu đạt nghệ thuật tạo hình và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của tác phẩm. Qua đó, NCS mong muốn đúc rút một số lý luận mang tính ứng dụng thực tiễn, nhằm đóng góp một số kinh nghiệm thao tác tạo hình trong lĩnh vực sáng tác - chế tác tác phẩm phim truyện. Mặt khác, thông qua khảo sát, đối sánh cụ thể từ một số phim truyện Việt Nam và nước ngoài và từ kinh nghiệm thực tế, mong muốn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các chuyên ngành mỹ thuật - điện ảnh - truyền hình.

 

4. Đối tượng và phạm viênghiên cứu

 

4.1. Đối tượng nghiên cứu

 

Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh (qua nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam), hay nói cách khác, nghiên cứu nghệ thuật tạo hình tham gia vào mọi phương diện sáng tác trong một nghệ thuật tổng hợp là điện ảnh. Từ việc lý giải mối quan hệ giữa nghệ thuật tạo hình với tạo hình điện ảnh trong sáng tác phim truyện, qua đó mong tìm ra quy luật gắn kết tổng hòa mọi hiệu quả tạo hình trong tác phẩm.

 

Trên cơ sở chọn lọc khảo sát và phân tích một số tác phẩm phim truyện VN và của nước ngoài, nhằm phân tích, minh chứng vấn đề chính yếu được đề tài đặt ra.

 

4.2. Phạm viênghiên cứu

 

Do phương thức biểu đạt nghệ thuật tạo hình trong phim truyện luôn diễn tiến liên tục qua từng thời kỳ khác nhau và chịu tác động của hoàn cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội…cùng nhiều yếu tố khách quan, chủ quan khác, nên khi tiến hành nghiên cứu đề tài và chọn khảo sát về hiệu quả tạo hình của một số phim truyện Việt Nam và để trênh được cái nhìn và nhận định phiến diện, đồng thời có điều kiện khảo sát, nghiên cứu toàn diệ nămọi khía cạnh đặc trưng nhất của tạo hình phim truyện, tác giả luận án không khuôn định giới hạn thời gian theo một giai đoạn cụ thể nào của tiến trình lịch sử phim truyện (kể từ khi điện ảnh du nhập vào nước ta đến nay).

 

Phạm viênghiên cứu của đề tài còn ở những khía cạnh nội dung và hình thức thể hiện nghệ thuậtácủa mọi thành phần tạo tác phim truyện. Khi tìm chọn khảo sát một số các bộ phim truyện VN và nước ngoài tiêu biểu có liên quan đến những vấn đề cần kiến giải, NCS quan tâm chủ yếu đế nămột số phim truyện điện ảnh (nhựa 35m/m) Và đặc biệt là những bộ phim đã đoạt giải thưởng quốc gia và quốc tế. Tuy nhi n, để có được những điểm tựa khi xây dựng các định chuẩn về phương thức biểu đạt tạo hình và tìm ra những nét khu biệt, tác giả luận án vă nămở rộng khảo sát một số phim truyện vidéo và một số phim truyện truyền hình. Để có thậm những minh chứng khách quan và thuyết phục, NCS tìm chọn trình bày một số hình ảnh, ph c thảo, bản vẽ, mô hình, bối cảnh đã dàn dựng của một số phim trong và ngoài nước và quá trình tham gia làm phim truyện của bản thân.

 

5. Phương pháp nghiên cứu

 

Đề tài Nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh (nghiên cứu trường hợp một số phim truyện Việt Nam) Không chỉ là nghiên cứu liên ngành giao thoa giữa nghệ thuật tạo hình và tạo hình phim truyệ nămà còn liên quan đến nhiều loại hình nghệ thuật khác như: Văn học (kịch bản, lời thoại) Nghệ thuật biểu diễn (diễn xuất của các nhân vật), nghệ thuật âm nhạc (nhạc phim) …và, vì thế nó đòi hỏi phải được xem xét trên cơ sở phương pháp nghiên cứu đa ngành để nhận diện các lĩnh vực khoa học nhân văn như: Văn học, mỹ học, mỹ thuật học, nghệ thuật học, hình thái học nghệ thuật, ký hiệu học nghệ thuật, xã hội học, điện ảnh học, dân tộc học, lịch sử, văn ho học, chu trình sản xuất chế tác phim truyện…để giải quyết những vấn đề đặt ra, nhằm xem xét đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện và khách quan và phong phú hơn.

 

Việc sử dụng phương pháp luận biện chứng, duy vật lịch sử nghĩa là nó luôn văn động, tương tác với các loại hình nghệ thuật đã hỗ trợ đắc lực cho việc hoàn thiện ngôn ngữ tạo hình ống kính trên sàn quay và hiệu quả thị giác trên màn ảnh. Chú trọng đến lý luận, kết hợp những liên hệ, đối sánh phong phú, bằng những trải nghiệm được rút tỉa từ thực tiễn, nhằm đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng phương ph p nghiên cứu khoa học xã hội định tính, gồm có:

 

Một là, xem như nghiên cứu điền dã, NCS đã tham gia trực tiếp làm họa sĩ TKMT chính cho các bộ phim truyện VN: Trang giấy trắng, Mặt trận không tiếng súng, Bạch ải Đường, Giận hờn, Cô người mẫu của tôi, Lời tạ từ trong mưa, Trái tim không ngủ yên, Những ngôi sao biển, Rặng Trâm bầu…và Bước khẽ đến hạnh phúc (phim nhựa 35 m/m) Vừa mới hoàn thành. Với vai trò trực tiếp chịu trách nhiệm về thiết kế Mỹ thuậtácho phim, suốt từ giai đoạn: Chọn cảnh, chuẩn bị đạo cụ, phục trang, dàn dựng bối cảnh…đến trực hiện trường cảnh quay, để kịp thời xử lý những phát sinh diễn ra trên thực địa, NCS cho rằng, những kinh nghiệm và hình ảnh tư liệu thu thập được là cơ sở Xác thực phong phú phục vụ tốt cho việc nghiên cứu đề tài.

 

Hai là, nghiên cứu văn bản, tài liệu, các tác phẩm phim truyện qua khảo sát một số bộ phim truyện của Việt Nam và quốc tế nhằm xem xét và đánh giácác lý thuyết, quan điểm nghiên cứu có liên quan đến phạm viênghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của luận án.

 

Các công trình nghiên cứu đi trước của các tác giả Việt Nam và quốc tế sẽ được tìm hiểu theo vấn đề có liên quan về: Phương thức biểu đạt nghệ thuật thị giác trong phim truyện điện ảnh - truyền hình; Các mối quan hệ giữa những thành phần làm phim, cảm thụ khán giả thông qua hiệu quả màn ảnh…

 

Phần khảo sát của luận án được giải quyết theo phương pháp tiếp nhận, phân tích, tổng hợp, so sánh và mô hình hoá để đánh giá và đúc kết từ các đối tượng là một số tác phẩm phim truyện thành công và chưa thành công về hiệu quả nghe- nhìn. Nhằm làm sinh động, đa dạng, cập nh t hơn cho nội dung luận án, tác giả, sẽ thao tác phân loại, đối chiếu, trích dẫn tài liệu, dùng hình ảnh, tài liệu để chứng minh cho những kiến giải của mình và sử dụng phương pháp tham khảo chuyên gia khi xử lý phim ảnh, tư liệu, công trình nghiên cứu lý luận, kết hợp với việc phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu các vấn đề: Thông tin cơ bản về những kinh nghiệm được rút ra từ thực tế làm phim; Xác định tầm quan trọng liên quan đến sự thành, bại của tác phẩm thông qua mối quan hệ gắn kết giữa thành phần chuyên môn; Nhận diện các yếu tố tác động đến hiệu quả thị giác trong phim truyện. Từ mỗi cuộc phỏng vấn, dữ liệu thu được sẽ được phân tích và xử lý để có được các đúc kết nghiên cứu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đặt ra. Đối tượng phỏng vấn gồm: Một số các nhà làm phim truyện, các nhà văn ho, các nghệ sĩ nổi tiếng và cả một số khán giả (thuộc các lứa tuổi, ngành nghề, trình độ khác nhau.. .). Khối lượng tư liệu được cập nh t và chọn lọc từ thực tế làm phim…có giá trị như thực tế khảo cứu điền dã - là cơ sở tin cậy, sinh động, phong phú phục vụ đắc lực cho việc nghiên cứu đề tài.

 

6. Giả thuyết nghiên cứu

 

Thứ nhất, phải chăng sự gắn kết, tổng hòa mọi hiệu quả tạo hình nhờ nghe – nhìn trong tác phẩm điện ảnh đã trở thành một yêu cầu thực tiễ nămang tính quy luật?

 

Đến nay, văn không ít người cho rằng tất cả hiệu quả tạo hình cho tác phẩm đều phụ thuộc vào ống kính của nhà quay phim. Điều này có lý, nhưng không hoàn toàn đúng. Trên thực tế, cùng với kỹ thuật và nghệ thuật xử lý các hiệu quả nh sáng thông qua các phương tiện: Máy móc, các loại ống kính, thiết bị đèn, phản quang, cần cẩu (boom), xe đẩy máy quay (dolly) …vv…, nhà quay phim là người tạo hình ảnh thị giác cuối cùng, chịu trách nhiệm về việc kỹ thuật – nghệ thuật để chưng cất toàn bộ kết quả tạo hình vào những cú bấm máy. Nhưng, quay cái gì? Quay như thế nào? Lại đòi hỏi quay phim phải phối hợp nhịp nhàng với các bộ phận tạo hình khác để có được những đối tượng tạo hình cụ thể: Là tạo hình bối cảnh và tạo hình, sắp đặt đạo cụ; Là tạo hình diễn xuất của nhân vật mà người diễn viên phải kết hợp nhuần nhuyễn với mỹ thuật hóa trang, thiết kế tạo hình phục trang…đó lại thuộc đóng góp của diễn viên, họa sĩ và kíp chuyên môn. Chỉ một sai sót nhỏ của bất cứ một bộ phận chuyên môn nào trong đoàn phim thì tất cả công sức lao động tạo hình của cả tập thể cũng sẽ bị ph hỏng. Song, theo định chuẩn quốc tế, chính đạo diễn (mà không phải ai khác) – mới là người phải tự quyết và có toàn quyền trong mọi quyết định để thực hiện đúng mọi ý tưởng tạo hình cho cuốn phim tương lai. Chính người đạo diễn chuyên nghiệp luôn chủ động bàn bạc với quay phim nhằm đưa ra quyết định tạo hình hình ảnh: Chọn góc máy quay, quy định rõ từng cú máy tĩnh hay chuyển động; Xác định từng vị trí đặt đèn, xử lý hiệu quả nh sáng; Nêu rõ mọi yêu cầu tạo hình về mọi cỡ cảnh (toàn, trung, cận, đặc tả) Và các hiệu quả về bố cục, hòa sắc, không khí…nhằm tạo được những khuôn hình phù hợp với ý đồ sáng tác; Hơn thế, đạo diễn còn làm việc với họa sĩ thiết kế mỹ thuật về: Tạo hình trang phục, sắc thái bối cảnh, hiệu quả đường nét, màu sắc, phân biệt rõ từng loại chất liệu, mảng màu nào sáng, hay phản quang…; Nếu đạo diễn theo đuổi một phong cách nào đấy thì từ phương diện diễn xuất của diễn viên đến khâu thiết kế tạo hình bối cảnh, tạo hình nhân vật đều phải thống nhất một cách đồng điệu. Như vậy, nếu không đủ năng lực tạo hình, “ông vua” đạo diễn sẽ không hiểu là mình muốn gì, tông màu gì, nhằm nói lên điều gì và thể hiện ngôn ngữ nào…cho việc tạo dựng hình ảnh trong tác phẩm của mình. Theo nhà điện ảnh Mỹ nổi tiếng Gordon Willis, để có một cảnh quay xuất sắc, không chỉ phụ thuộc vào kịch bản tốt, không chỉ phụ thuộc vào diễn viên giỏi biết khắc họa hình tượng nhân vật, vào thiết kế mỹ thuật và quay phim giỏi, mà theo ông, lại phụ thuộc rất nhiều vào “hai loại đạo diễn”: Loại thứ nhất, (mà ông đặc biệt tôn trọng) Đó là những đạo diễn…

 

................

 

Luận án gồm 210 Trang, nội dung của LATS này như sau:

 

 

 

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRONG

PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

1.1. Một số kh i niệm thao tác văn dụng vào luăn ăn

1.2. Kh i lược về ngôn ngữ tạo hình trong một số thể loại phim

1.3. Kh i lược về một số phong c ch tạo hình tác phẩm nghe - nhìn

1.4. Nghệ thuậttạo hình trong phương thức biểu đạt một số khuynh hướng thể hiện phim truyện

Tiểu kết chương

Chương 2: NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH TRONG THỰC TẾ BIỂU ĐẠT TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH

2.1. Nghệ thuậttạo hình trong phương thức sáng tác kịch bản hình ảnh

2.2. Nghệ thuậttạo hình trong TKMT bối cảnh và sắp đặt đạo cụ

2.3. Nghệ thuậttạo hình trong phương thức tạo dựng hình tượng nhân vật và trang phục

2.4. Nghệ thuậttạo hình trong c c phương thức tạo hình hình ảnh

Tiểu kết Chương

Chương 3: NHỮNG BÀN LUẬN RÚT RA TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Bàn luăn về mối quan hệ giữa hiệu quả tạo hình hình ảnh và tạo hình “ẩn” qua phương thức hòa thanh (tiếng động, lời thoại, âm nhạc)

3.2. Bàn luăn về vai trò tạo hình của hệ thống bối cảnh trường quay

3.3. Bàn về phương thức và hiệu quả tạo hình thiết kế mỹ thuậttrang phục, đạo cụ gắn liền với hình tượng nhân vật

3.4. Bàn về phương thức và hiệu quả tạo hình nhân vật qua mỹ thuậthóa trang và nghệ thuật diễn xuất

3.5. Bàn về phương thức và hiệu quả tạo hình hình ảnh, vai trò quyết định đến sự thành bại của tác phẩm nghe - nhìn

3.6. Nhăn thức rõ tầm quan trọng của mối quan hệ tập thể làm phim trong gắn kết tổng hòa c c hiệu quả tạo hình

3.7. Bàn về vai trò tổng hòa c c hiệu quả tạo hình của người đạo diễn

3.8. Kh i lược về tạo hình điện ảnh trong tiến trình ph t triển phim truyện VN

Tiểu kết chương

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

 

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 

Đd: Đạo diễn

Hà Nội: HN

IFEC: Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films Et Cinéma)

LHPQT: Liăn hoan phim quốc tế

LHPQTVN: Liăn hoan phim qụốc tế Việt Nam LHPVN: Liên hoan phim Việt Nam

MC: Người dăn chương trình truyền hình và các hoạt động văn hóa công cộng NCS: Nghiăn cứu sinh

NSND: Nghệ sĩ nhân dân NSƯT: Nghệ sĩ ưu tú

Nxb: Nhà xuất bản Sx: Sản xuất

TG: Tác giả luận Án

TKMT: Thiết kế mỹ thuật TP

Tp HCM: Thành phố Hồ Chí Minh TQ: Trung Quốc

VHTT: Văn hóa thông tin

VHNT: Văn hóa nghệ thuật VN: Việt Nam

VNĐ: Tiền đồng Việt Nam

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

 

 

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 LATS Về nghệ thuật tạo hình AMBN(st) Đ.L.Hoàng Tú 210Tr Download file nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh 1511
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh

nghệ thuật tạo hình trong phương thức biểu đạt tác phẩm điện ảnh

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN