Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ nhạc hợp xướng tại thành phố hồ chí minh trước và sau năm 1975 lên facebook!
nhạc hợp xướng tại thành phố hồ chí minh trước và sau năm 1975

20/12/2016 Uploader: Thai Van Loại file: pdf

Luận án tiến sĩ: Nhạc hợp xướng tại thành phố Hồ Chí Minh trước và sau năm 1975. Luận án này góp phần tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về nhạc hợp xướng ở thành phố Hồ Chí Minh từ lúc hình thành trước năm 1975 đến nay, đặc biệt trong lĩnh vực biểu diễn và sáng tác, qua đó góp phần khiêm tốn vào những công trình đã và đang được nghiên cứu về lịch sử âm nhạc Việt Nam. Ngoài ra luận án này còn làm nổi bật nét riêng của hoạt động hợp xướng ở thành phố Hồ Chí Minh so với nhiều nơi khác trên cả nước, đó là sự phát triển song hành giữa nhạc hợp xướng tôn giáo và thế tục.

HỌC VIỆN ÂM NHẠC VIỆT NAM 2015

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

NHẠC HỢP XƯỚNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỚC VÀ SAU NĂM 1975

 

CHUYÊN NGÀNH: ÂM NHẠC HỌC - MÃ SỐ: 62.21.02.01.

NCS NGUYỄN BÁCH -HDKH PGS. TS. TRẦN THẾ BẢO

 

 

 

 

1. Lý do chọn đề tài

 

Hợp xướng có lịch sử từ rất lâu đời. Người Hy Lạp Cổ đại đã biết dùng hợp xướng để hát đệm cho những động tác trình diễn trên sân khấu[1]. Đầu thời Trung cổ người Ý dùng những bài hát Bình ca (hay ca khúc Gregorian) Để đệm cho các động tác phục vụ cho nghi thức tôn giáo (nên họ gọi những ca khúc này là thánh ca phụng vụ). Đến thời kỳ Phục hưng, một loại thánh ca phụng vụ khác ra đời gọi là thánh ca đa âm, chiếm lĩnh hầu hết hoạt động sáng tác cho hợp xướng trong thời kỳ này. Sang thời kỳ Baroque (1600 – 1750), có thể nói, những tác phẩm hợp xướng mang đề tài tôn giáo thuộc các thể loại cantata, motet, và passion phát triển mạnh mẽ đã đưa nhạc hợp xướng bước vào thời hoàng kim. Nhưng các nhà soạn nhạc thời

 

Cổ điển (cuối thế kỷ XVIII) Bắt đầu say mê với những khả năng diễn đạt mới của âm nhạc giao hưởng và khí nhạc, nên phần đông đã quay lưng lại với nhạc hợp xướng. Sang thế kỷ XIX, trên các sân khấu thế tục phương Tây xuất hiện nhiều tác phẩm hợp xướng mang đề tài tôn giáo. Những tác phẩm này thường lớn, có kết hợp với dàn nhạc và không thích hợp với việc sử dụng trong các nghi thức tôn giáo như trước đây nữa. Bước vào thế kỷ XX, nhạc hợp xướng tiếp tục thoái trào, đa số các nhà soạn nhạc tiêu biểu đều nghiêng về khí nhạc. Cùng với sự ra đời của nền Tân nhạc Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ này, các hình thức hợp xướng đơn giản như: Tốp ca, đồng ca, hợp ca,… đã có mặt. Tuy nhiên phải đến những thế hệ nhạc sĩ đầu tiên của Việt Nam được đi nước ngoài du học, nhạc hợp xướng mới thực sự được hình thành. Từ đầu thế kỷ XXI, nhạc hợp xướng bắt đầu có dấu hiệu được phục hồi, phù hợp với xu hướng phát triển của lối sống và làm việc theo tinh thần tập thể trong xã hội hiện đại.

 

Trong quá trình phát triển đó, hợp xướng đã tác động mạnh đến xã hội do tính chất tập thể, “làm việc theo đội nhóm” và là một phương tiện hữu hiệu để chuyển tải những thông điệp đạo đức, nhân bản, chính trị hơn bất cứ hình thức âm nhạc nào khác. Cùng với nhạc thính phòng, giao hưởng, nhạc hợp xướng tạo nên nét văn hóa tiêu biểu cho một xã hội văn minh, hiện đại; Vì thế, chúng ta cần nghiên cứu quá trình phát triển (về sáng tác và biểu diễn) Hợp xướng một cách khoa học. Đó là một lý do để chúng tôi chọn đề tài luận án liên quan đến nhạc hợp xướng Việt Nam. Trên thế giới, quá trình phát triển hợp xướng luôn tồn tại song song hai nền nhạc: Tôn giáo và thế tục. Có lúc nền nhạc này phát triển thì nền nhạc kia suy thoái.

 

Với đặc điểm lịch sử riêng, ngay từ buổi đầu của nền Tân nhạc Việt Nam đến trước năm 1975, nhạc hợp xướng ở miền Nam nói chung và ở Sài Gòn nói riêng phát triển nhiều trong lãnh vực nhà thờ. Sau năm 1975, nhạc hợp xướng thế tục phát triển mạnh hơn và mang tính chuyên nghiệp cao hơn. Kể từ sau thời kỳ đổi mới, nhạc hợp xướng nhà thờ phía Nam mới hồi sinh. Và cũng từ đó hai nền âm nhạc hợp xướng này phát triển song song như xu hướng thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm phát triển về kinh tế của miền Nam mà còn về văn hóa, nghệ thuật cũng như âm nhạc. Đó là lý do để chúng tôi tập trung đề tài của luận án vào hoạt động sáng tác và biểu diễn hợp xướng tại Tp. Hồ Chí Minh. Ngoài ra, với kinh nghiệm cá nhân trong nhiều năm chỉ huy hợp xướng và dàn nhạc tại thành phố, chúng tôi quyết định thực hiện luận án với đề tài: “Nhạc hợp xướng tại Tp. Hồ Chí Minh trước và sau năm 1975”.

 

2. Lịch sử đề tài Âm nhạc mới Việt Nam bước đi những bước chập chững từ những thập niên đầu thế kỷ XX. Theo GS NSND Trọng Bằng, “Ca khúc hợp xướng đã xuất hiện trong thời gian kháng chiến chống Pháp ở các tác giả Việt Nam như.. ..” [41, tr. 15].

 

Nhưng cũng có thể cho rằng ca khúc hợp xướng đã có nguồn gốc từ thể loại hành khúc và ca khúc tập thể trước đó [Sđd, tr. 13]. Hoặc nếu xét cả âm nhạc tôn giáo, thì chúng ta có thể coi nhạc hợp xướng Việt Nam có điểm xuất phát vào khoảng năm 3

 

1911 với bản thánh ca hợp xướng Giáng Sinh “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” của Linh mục Đoàn Quang Đạt (tức Phao lô Đạt) [149, tr. 30]. Đã có một số công trình nghiên cứu về tân nhạc Việt Nam từ những buổi đầu nhưng chỉ đề cập nhiều đến ca khúc. Cũng có những nghiên cứu về âm nhạc hợp xướng nhưng đa phần là những bài báo, tập trung nhiều vào việc thông tin về hoạt động hợp xướng hơn là đề cập đến mặt âm nhạc học của công việc sáng tác và biểu diễn. Cho đến nay chúng tôi chỉ ghi nhận được một số khiêm tốn các công trình khoa học, sách và tài liệu nghiên cứu về hợp xướng Việt Nam. Trong đó, khối lượng tài liệu riêng về nhạc hợp xướng (tôn giáo và thế tục) Ở miền Nam nói chung, và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, lại càng ít ỏi. Vì mục đích nghiên cứu của luận án nhằm vào các sáng tác và hoạt động biểu diễn của hợp xướng tại Sài Gòn trước năm 1975 và thành phố Hồ Chí Minh sau này nên chúng tôi chia việc tìm hiểu các công trình, bài viết liên quan thành hai nhóm tương ứng với hai giai đoạn lịch sử có mốc thời điểm là năm 1975: Trước năm 1975, Tiến Dũng (một linh mục nhạc sĩ Công Giáo tại Sài Gòn, tốt nghiệp Tiến sĩ Sáng tác ở Nhạc viện Santa Cecilia[2] và là giảng viên của Nhạc viện thành phố trong 20 năm từ sau 1975) Đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Tôi viết ca khúc tiếng Việt[3]. Trong đó tác giả dành 2 chương (XX, XXI) Để bàn về việc dùng hòa âm, đối âm, và những nhân tố khác để thích ứng bản văn tiếng Việt với bài ca nhiều bè. Tài liệu này được tác giả soạn để giảng dạy tại trường Suối Nhạc và

Đại học Minh Đức ở Sài Gòn từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước.

 

Đề cập gần đến một số vấn đề âm nhạc học trong sáng tác hợp xướng tại thành phố trước năm 1975 có một nghiên cứu mang tên: “Hải Linh and his music” (Hải Linh và âm nhạc của ông) Của tác giả Nguyễn Xuân Thảo được công bố trên mạng internet[4]. Trong tài liệu này tác giả đề cập đến cách dùng phức điệu và chủ trương  dùng hòa âm theo lối “thoáng – mỏng”, cách dùng hợp âm trì tục của nhạc sĩ Hải Linh để tạo một nét riêng cho các tác phẩm hợp xướng Việt Nam của ông. Năm 1974, Tiến Dũng cùng kết hợp với Trần Văn Tín (một nhạc sĩ người Công giáo, nhạc trưởng ngành Quân nhạc của chế độ Việt Nam Cộng Hòa) Cho ra đời cuốn sách “Nghệ thuật chỉ huy” tại Viện đại học Minh Đức (Sài Gòn). Cũng trong năm đó, có phổ biến trong giới hợp xướng Công giáo một tài liệu mang tên “Điều khiển ca đoàn” của tác giả Phạm Hoàng Anh (là bút hiệu của Trần Văn Huyến, một nhạc trưởng Công giáo cũng thuộc ngành Quân nhạc). Tính cho tới thời điểm trước năm 1975 chỉ có hai tài liệu này bàn một cách có hệ thống và chuyên nghiệp về kỹ thuật hợp xướng. Tuy nhiên các tác giả chỉ đề cập chi tiết đến kỹ thuật chỉ huy hơn là kỹ thuật biểu diễn hợp xướng.

 

Những nội dung liên quan đến hiện trạng (về tổ chức, trình độ) Của các ban hợp xướng, ca đoàn nhà thờ tại Sài Gòn chỉ được nhắc tới một cách rời rạc. Chẳng hạn, từ trang 86 đến 90 của cuốn “Nghệ thuật Chỉ huy” (gồm 92 trang) [16], các tác giả đề cập đến những lỗi lầm thường mắc phải của các chỉ huy và ban hợp xướng tại miền Nam lúc đó. Mặc dù hai tài liệu này được trình bày như sách giáo khoa chuyên ngành nhưng có đề cập chút ít đến nhạc hợp xướng Sài Gòn trong giai đoạn này. Mãi cho đến năm 1999, Linh mục Paul Văn Chi (tức Chu Văn Chi) Bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ ngành Nghệ thuật âm nhạc tại đại học California State University (Hoa kỳ) Với đề tài “Catholic Choral Music in Vietnam 1945 - 1975” [ “Thánh nhạc hợp ca Công giáo Việt Nam 1945 - 1975” ]. Luận văn này đã được xuất bản thành sách vào năm 2002 tại Oregon (Úc). Qua đó, tác giả chia quá trình phát triển nhạc hợp xướng Công giáo Việt Nam thành ba giai đoạn: Thành hình (1945 - 1955), phát triển (1955 - 1970) Và trưởng thành (1970 - 1975). Về thể loại và niên biểu và, do giới hạn của luận văn, việc nghiên cứu chỉ đề cập đến ca khúc hợp xướng tôn giáo và không nói đến sự phát triển của loại hợp xướng này sau năm 1975. Về không gian, tác giả không tập trung vào sự phát triển hợp xướng tôn giáo tại Sài Gòn mà là nhìn tổng quát ở miền Nam. Chưa kể một số chi tiết còn mơ hồ, lẫn lộn như: Cho rằng nền thánh nhạc hợp ca Công giáo Việt Nam được hình thành từ sự ra đời của bài thánh ca “Hang Bê Lem” (của Hải Linh) Hay những bài thánh ca của Nguyễn Khắc Xuyên được sáng tác vào năm 1944 [13, tr. 56 – 98], sắp xếp tác giả Phaolô Đạt và bài thánh ca “Nửa đêm mừng Chúa ra đời” vào giai đoạn (1955 - 1970) [Sđd, tr. 102]. Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong nhạc hợp xướng tôn giáo tại miền Nam trước năm 1975 và mang tính biên niên sử nhiều hơn tính âm nhạc học. Tuy rằng, cuối mỗi chương 3,4,5 (dành cho 3 giai đoạn phát triển) Tác giả đều có dành mục “Phân tích yếu tố âm nhạc trong những nhạc phẩm chọn lọc” nhưng các vấn đề được mô tả theo từng ca khúc trích dẫn chứ không được tổng kết thành những đặc điểm âm nhạc học chung; Bên cạnh đó khối lượng phân tích âm nhạc học chỉ chiếm từ 1/3 đến 1/5 độ dài của chương.

 

Trong giới hạn của một luận văn Thạc sĩ chuyên về nhạc hợp xướng Công giáo, tài liệu này được coi như khá đầy đủ về một hoạt động lớn của hợp xướng Sài Gòn từ lúc hình thành nền tân nhạc Việt Nam đến năm 1975. Ngoài những cuốn sách và công trình nghiên cứu trên đây, chúng tôi không ghi nhận được những tài liệu hay bài báo nào khác nói về nhạc hợp xướng của Sài Gòn trước năm 1975. Hơn nữa, do kỹ thuật thu âm ở giai đoạn này chưa được phát triển nhiều và kỹ thuật thu hình thì mới được khai sinh (vào khoảng năm 1965 – 1966) Nên tài liệu âm thanh và phim ảnh về hợp xướng ở Sài Gòn cũng rất ít ỏi. Sự thay đổi về thể chế chính trị sau ngày đất nước thống nhất vào cuối tháng 4 năm 1975 đã cho thành phố Hồ Chí Minh có cơ hội tiếp nhận nhiều thành quả mới về văn hóa nghệ thuật từ miền Bắc, trong đó có nhạc hợp xướng.

 

Đặc biệt, từ khi hình thành nhạc viện vào năm 1981, với sự trở về của một số chỉ huy hợp xướng du học ở nước ngoài, tính chuyên nghiệp của hoạt động hợp xướng ở thành phố được nâng cao hơn. Tuy vậy, ngoài một số rất ít những bài báo mang tính thông tin về các hoạt động hợp xướng ở thành phố, gần như không có những cuốn sách, công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về nhạc hợp xướng của thành phố giai đoạn sau năm 1975 đến nay. Cũng có những cuốn sách và công trình nghiên cứu chung liên quan đến nghệ thuật hợp xướng như: “Chỉ huy và biểu diễn hợp xướng” (Minh Cầm[5], Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, 1982), “Giáo trình Chỉ huy và dàn dựng hợp xướng” (Đoàn Phi, Nxb Đại học Sư phạm, 2007), “Nghệ thuật chỉ huy hợp xướng và dàn nhạc” (Nguyễn Bách, Nxb Trẻ, 2010), “Hệ thống phương pháp dạy và học hát hợp xướng hệ đại học sư phạm âm nhạc” (Lê Vinh Hưng chủ nhiệm, Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, 2011), “Thiết kế nội dung đào tạo môn phối hợp xướng cho đại học sư phạm âm nhạc” (Nguyễn Xuân Chiến chủ nhiệm, Đại học Sài Gòn, 2011). Trong luận án “Nhạc hợp xướng tại thành phố Hồ Chí Minh trước và sau năm 1975” của mình, chúng tôi sẽ tập trung vào việc phân tích và tìm hướng giải quyết cho những vấn đề còn tồn tại trong kỹ thuật biểu diễn và sáng tác hợp xướng tại thành phố.

 

3. Mục đích nghiên cứu

 

Luận án này nhằm tìm ra các nội dung nào của kỹ thuật biểu diễn hợp xướng cần được khai thác hoặc làm cho hoàn thiện, tổng kết về đặc điểm âm nhạc trong sáng tác hợp xướng được lưu hành tại thành phố, tạo tiền đề cho những tiếp biến sau này trong việc sử dụng ngôn ngữ âm nhạc trong tác phẩm hợp xướng cho phù hợp với đà phát triển ắt phải tới của thể loại này trong đời sống âm nhạc ở thành phố, hệ thống hóa những cách thức đã được áp dụng để tạo nên nét riêng cho hợp xướng Việt. Qua việc nghiên cứu một cách có hệ thống về hoạt động sáng tác, biểu diễn hợp xướng tại thành phố trước và sau 1975 chúng tôi còn muốn góp phần vào việc hình thành cơ sở tài liệu tham khảo cho các sinh viên trường nhạc, các nhà nghiên cứu khi cần tìm hiểu về nghệ thuật hợp xướng của miền Nam (với thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm quan trọng) Cũng như đưa ra những giải pháp để phát triển nghệ thuật này hiệu quả hơn ở thành phố cũng như trên cả nước. Mong ước của chúng tôi là giới thiệu nhạc hợp xướng Việt Nam ra với thế giới và thuyết phục các cá nhân, tổ chức nhận ra tầm quan trọng của hợp xướng trong giáo dục con người cho xã hội. Mục tiêu của luận án này là hệ thống hóa các thành tố tạo nên kỹ thuật biểu diễn hợp xướng để làm cơ sở âm nhạc học mà khảo sát về kỹ thuật biểu diễn được dùng trong các ban hợp xướng và ca đoàn tại thành phố trước và sau năm 1975.

 

Ngoài ra, một nhiệm vụ quan trọng khác của luận án là phân tích các tác phẩm hợp xướng (tôn giáo và thế tục) Được sáng tác hoặc biểu diễn ở thành phố Hồ Chí Minh trước và sau năm 1975 để tìm ra và so sánh ngôn ngữ âm nhạc trong những tác phẩm hợp xướng được sáng tác hoặc phối âm để biểu diễn tại thành phố, nơi mang cùng lúc 2 đặc điểm riêng: Sự chuyển đổi về thể chế chính trị và sự phát triển song hành của nhạc tôn giáo và nhạc thế tục. Bên cạnh đó, luận án còn tìm hiểu việc phổ cập hợp xướng ở một số quốc gia để rút ra những việc cần làm, đưa ra những kiến nghị về phát triển giáo dục hợp xướng cũng như đề xuất những giải pháp để phát triển nghệ thuật này một cách xứng hợp cho thành phố Hồ Chí Minh tương lai.

 

4. Đối tượng nghiên cứu và đối tượng khảo sát

 

Trong phạm vi nghiên cứu đã xác định, chúng tôi xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu cho luận án là nhạc hợp xướng tại Sài Gòn (trước 1975) Hay Tp. Hồ Chí Minh (sau 1975). Việc nghiên cứu này tập trung vào sự khảo sát kỹ thuật biểu diễn của các ca đoàn (tôn giáo) Cũng như các ban hợp xướng tại thành phố và giải quyết một số vấn đề về âm nhạc học đối với những sáng tác hợp xướng được chọn thuộc nhiều thể loại khác nhau. Qua đó, không chỉ nhìn thấy được những ưu điểm mà còn tìm ra những tồn đọng về mặt kỹ thuật làm cản trở việc phát triển âm nhạc hợp xướng tại Tp. Hồ Chí Minh để đề nghị những biện pháp giải quyết cần thiết, góp phần vào việc đưa hợp xướng trở thành một phương tiện hiệu quả trong việc giáo dục nhân bản. Trong khoảng 20 năm từ 1954 đến 1975, miền Nam với thủ đô là Sài Gòn sống trong một thể chế chính trị khác với miền Bắc và cũng khác với khoảng thời gian 40 năm kể từ ngày đất nước thống nhất. Bên cạnh đó, do nhiều yếu tố khách quan, tốc độ phát triển về chuyên môn hợp xướng sau năm 1975 cũng nhanh hơn trước. Vì vậy chúng tôi chọn đối tượng khảo sát“các tác phẩm được sáng tác hoặc biểu diễn tại thành phố”; Bên cạnh đó, chúng tôi dự kiến chọn số lượng tác phẩm được sáng tác cho hợp xướng hoặc được phối âm thành hợp xướng vào trước năm 1975 bằng khoảng một nửa số lượng sau năm 1975. Đối với những tác phẩm có nguyên tác trước năm 1975 và được chuyển soạn cho hợp xướng nhưng không rõ về tác giả cũng như thời điểm phối âm, chúng tôi tạm sắp vào loại nhạc hợp xướng trước năm 1975. Ngoài những đặc điểm chung trên đây, chúng tôi chọn tác phẩm để khảo sát dựa trên những tiêu chí cụ thể như: Tác giả của tác phẩm đó có ảnh hưởng đến nhiều tác giả khác đương thời hoặc các thế hệ sau; Tác phẩm được biểu diễn nhiều lần trong những giai đoạn khác nhau; Đối với nhạc hợp xướng sau năm 1975, ưu tiên chọn các tác giả được đào tạo chính quy từ các trường nhạc trong và ngoài nước; Nếu tác giả không được đào tạo chính quy nhưng có nhiều sáng tác hợp xướng và kinh nghiệm về chỉ huy hợp xướng thì cũng có thể chọn tác phẩm tiêu biểu của họ; Và tác phẩm được trao giải của thành phố hoặc quốc gia.

 

5. Phạm vi nghiên cứu

 

Đề tài được giới hạn trong phạm vi không gian là các tác giả (có tác phẩm được chọn) Đã sống và sáng tác hoặc có các tác phẩm đã được công diễn tại thành phố. Về phạm vi thời gian nghiên cứu được chia thành: Trước và sau năm 1975; Khoảng thời gian trước năm 1975 được kể từ lúc xuất hiện những bài hợp xướng tôn giáo đầu tiên ở miền Nam còn khoảng thời gian sau năm 1975 được tính đến thời điểm hiện tại của luận án. Quy mô phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trong 51 tác phẩm hợp xướng được chọn [Danh sách ở Phụ lục 4, tr. 220], trong đó có 2 tác phẩm kinh điển nước ngoài và 49 tác phẩm hợp xướng Việt Nam được chọn theo các tiêu chí về đối tượng khảo sát được nói trong mục trên đây. Việc chọn lựa các tác phẩm còn dựa trên quy mô sao cho bao gồm được nhiều thể loại hợp xướng nhất đã được sáng tác và biểu diễn tại thành phố [mục 2.2, tr. 51], từ thể loại ít được sáng tác như a cappella (2 tác phẩm) Đến thể loại được dùng nhiều như ca khúc hợp xướng (30 tác phẩm). Trong thể loại ca khúc hợp xướng, chúng tôi cũng nghiên cứu đến loại hợp xướng được phóng tác từ một ca khúc hay bài dân ca nào đó. Vì phần nhạc đệm cũng là một ngôn ngữ âm nhạc cần nghiên cứu nên bên cạnh các sáng tác hợp xướng mà tác giả không quy định nhạc đệm, chúng tôi chọn thêm những bản hợp xướng có phần đệm piano hoặc có dàn nhạc. Riêng đối với các tác phẩm hợp xướng được sáng tác sau năm 1975, chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến loại hợp xướng vốn là thành phần của một tác phẩm lớn hơn như: Giao hưởng hợp xướng (3 tác phẩm), hợp xướng trích từ giao hưởng (1 tác phẩm) Và hợp xướng trích từ nhạc kịch (1 tác phẩm). Đối với hợp xướng tôn giáo, chúng tôi chỉ chọn để phân tích 4 tác phẩm Công giáo và 2 tác phẩm Phật giáo, phần còn lại là hợp xướng thế tục.

 

6. Phương pháp nghiên cứu Khi thu thập các thông tin, tài liệu cần thiết cho các mục tiêu của luận án, chúng tôi đã áp dụng phương pháp tiếp cận lịch sử để xem xét các dữ liệu hợp xướng (văn bản, phim, hình ảnh, âm thanh) Có trong hai giai đoạn trước và sau năm 1975 tại thành phố Hồ Chí Minh. Riêng ở chương 2, chúng tôi dùng phương pháp tiếp cận phân tích và tổng hợp [18, tr. 81 – 82] để rút từ kinh nghiệm thực tế biểu diễn của mình mà xác lập những thành tố của kỹ thuật biểu diễn và qua đó có cơ sở đánh giá, so sánh về kỹ thuật biểu diễn của các hợp xướng ở thành phố trước và sau năm 1975 đồng thời đưa ra một số tiêu chuẩn cần được xây dựng để góp phần nâng tầm hoạt động chuyên môn cho các ban hợp xướng của thành phố trong tương lai. Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chúng tôi xử lý các thông tin đã thu thập được bằng các phương pháp: Phân tích và so sánh các loại tài liệu (các công trình, bài viết, tác phẩm nhạc, bản thu âm, thu hình) Về phương diện âm nhạc học nhằm tìm ra những ngôn ngữ âm nhạc đặc trưng của các tác phẩm được sáng tác trong hai giai đoạn thuộc hai thể chế chính trị khác nhau. Quá trình nghiên cứu tài liệu sẽ được đúc kết bằng phương pháp thống kê và tổng hợp các phương tiện diễn tả mà 10 các tác giả thuộc hai thời kỳ đã sử dụng khi sáng tác hợp xướng để đưa ra những đề xuất giải quyết các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ âm nhạc và một số vấn đề còn tồn đọng trong sáng tác hợp xướng tiếng Việt.

 

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận án này góp phần tạo nên một cái nhìn toàn cảnh về nhạc hợp xướng ở thành phố Hồ Chí Minh từ lúc hình thành trước năm 1975 đến nay, đặc biệt trong lĩnh vực biểu diễn và sáng tác, qua đó góp phần khiêm tốn vào những công trình đã và đang được nghiên cứu về lịch sử âm nhạc Việt Nam. Ngoài ra luận án này còn làm nổi bật nét riêng của hoạt động hợp xướng ở thành phố Hồ Chí Minh so với nhiều nơi khác trên cả nước, đó là sự phát triển song hành giữa nhạc hợp xướng tôn giáo và thế tục. Bên cạnh đó, luận án cũng đưa ra những dẫn chứng thuyết phục về nhu cầu cần phải phát triển việc giáo dục và tổ chức hoạt động hợp xướng thành một hệ thống trong đời sống xã hội tại thành phố nói riêng và cả nước nói chung.

 

Với luận án này, lần đầu tiên vấn đề sáng tác và hoạt động biểu diễn hợp xướng được phân tích dưới góc độ âm nhạc học để tìm ra những hướng phát triển loại hình này cho phù hợp với điều kiện của người Việt Nam. Đây là một đóng góp mới mà chưa có công trình nào được thực hiện trước đây.

 

8. Bố cục luận án

 

Luận án này dài 150 trang gồm phần Mở đầu (10 trang), Nội dung (128 trang) Và Kết luận (12 trang). Nội dung được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 – Sự hình thành và phát triển nhạc hợp xướng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 2 – Nội dung đề tài, Thể loại, Hình thức và Phối bè

Chương 3 – Ngôn ngữ âm nhạc

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Phạm Hoàng Anh (1974), Điều khiển ca đoàn, Sài Gòn.

2. Nguyễn Trọng Ánh (2000), Âm nhạc Quan họ, Viện Âm nhạc xuất bản, Hà Nội.

3. Lê Huy Bá (2007) Chủ biên, Phương pháp luận khoa học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4. Nguyễn Bách (1999), Để thành công trong nghệ thuật ca hát, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn Bách (2002), Sổ tay kỹ thuật phòng thu, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

6. Nguyễn Bách (2002), Mixer – Bộ não của phòng thu, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

7. Nguyễn Bách (2003), Hòa âm – từ Cổ điển đến Hiện đại, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

8. Nguyễn Bách (2010), Nghệ thuật chỉ huy dàn nhạc và hợp xướng, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

9. Nguyễn Bách (2011), Thuật ngữ âm nhạc – Việt, Anh, Ý, Pháp, Đức, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh.

10. Thế Bảo (2013), Cảm nhận mỹ học âm nhạc, Nxb Thanh Niên, Thành phố Hồ Chí Minh.

11. Lê Bích (1960), Tài liệu về Hòa âm Hán tộc (dịch từ nguyên tác tiếng Hán của Lê Anh Hải), Thượng Hải âm nhạc học viện, 1958.

12. Minh Cầm (1982), Chỉ huy và biểu diễn hợp xướng, Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa.

13. Paul Văn Chi (2002), Thánh nhạc hợp ca Công giáo Việt Nam 1945 – 1975, Pastoral Press, Oregon – USA.

14. Tiến Dũng (1974), Đối âm I, II, III, Bản in ronéo, Sài Gòn.

15. Tiến Dũng (1974), Viết bản đệm đàn, Bản in ronéo, Sài Gòn.

16. Tiến Dũng & Trần Văn Tín (1974), Nghệ thuật chỉ huy, Đại học Minh Đức, Sài Gòn.

17. Tiến Dũng (2001), Tôi viết ca khúc tiếng Việt, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 153

18. Vũ Cao Đàm (2003), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.

19. Hoàng Đạm (1997), Phức điệu thực hành, Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội.

20. Việt Hà Nguyễn Ngọc Giả (1993), Giáo trình âm học kiến trúc, Trường Đại học Kiến trúc, Thành phố Hồ Chí Minh.

21. Phạm Phương Hoa (2013), Một số thủ pháp sáng tác tiêu biểu trong âm nhạc thế kỷ XX, Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội.

22. Nguyễn Lương Hồng (1961), Sách giáo khoa hòa âm thực hành (dịch từ nguyên tác của Rimsky-Korsakov (Petersburg, 1886); Do Lê Yên hiệu đính), Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội.

23. Phạm Tú Hương (1991), Phức điệu nghiêm khắc, Nhạc viện Hà Nội.

24. Phạm Tú Hương – Vũ Nhật Thăng (1993), Sách giáo khoa hòa thanh, Nhạc viện-Nhà xuất bản Âm nhạc, Hà Nội.

25. Phạm Minh Khang (2000), Hòa thanh, Nhạc viện Hà Nội.

26. Nguyễn Trung Kiên (2001), Phương pháp sư phạm thanh nhạc-Chương trình đại học, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

27. Hoàng Kiều (2001), Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

28. Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.

29. Vũ Tự Lân (1997), Những ảnh hưởng của âm nhạc châu Âu trong ca khúc Việt Nam giai đoạn 1930 – 1950, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội.

30. Nguyễn Thụy Loan (2007), Giáo trình Lịch sử âm nhạc thế giới và Việt Nam, Tập 1, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội.

31. Nguyễn Thụy Loan (2013), Đờn ca tài tử-Đặc trưng và đóng góp, Tuyển tập 2, Nhà xuất bản Văn hóa và Thông tin, Hà Nội.

32. Kim Long, Tìm hiểu và thực tập đối âm, Thành phố Hồ Chí Minh.

33. Nhiều tác giả (2000), Âm nhạc mới Việt Nam – Tiến trình và Thành tựu, Viện Âm nhạc, Hà Nội. 154

34. Nhiều tác giả (2003), Hợp tuyển tài liệu nghiên cứu – lý luận – phê bình Âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX, tập I & VA, VB, Viện Âm nhạc.

35. Nhiều tác giả (2005), Tuyển tập những bản hợp xướng hay, Nxb Mũi Cà Mau.

36. Nhiều tác giả (2005), Những tác phẩm giao hưởng Việt Nam, tập II: Hoàng Việt/ Huy Du, Nxb Văn hóa Dân tộc.

37. Nhiều tác giả (1971), Giáo dục cộng đồng, Trung tâm học liệu, Bộ Giáo dục, Sài Gòn.

38. Nhiều tác giả (1993), Thang âm Điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật tại Tp. Hồ Chí Minh.

39. Nhiều tác giả (2014), Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở tp. Hồ Chí Minh, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.

40. Nhiều tác giả (2010), Bộ Giáo dục và Đào tạo41. Nhiều tác giả (2010), Tổng tập Âm nhạc Việt Nam – Tác giả và tác phẩm, Tập I, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

42. Nguyễn Thị Nhung (2001), Âm nhạc thính phòng – giao hưởng Việt Nam – Sự hình thành và phát triển – Tác phẩm và tác giả, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

43. Nguyễn Thị Nhung (2006), Giáo trình phân tích tác phẩm âm nhạc (quyển 1 và

2), Trung tâm Thư viện Âm nhạc – Nhạc viện Hà Nội.

44. Nguyễn Thị Nhung (2006), Phân tích tác phẩm âm nhạc (quyển 2), Viện Âm nhạc – Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội.

45. Đoàn Phi (2007), Giáo trình Chỉ huy và dàn dựng hợp xướng, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

46. Vũ Nhật Thăng (1998), Thang âm nhạc Cải lương – Tài tử, Viện Âm nhạc – Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

47. Dương Quang Thiện (1995), Sử liệu Lịch sử âm nhạc Việt Nam, Viện Âm nhạc và Múa, Hà Nội.

48. Lê Anh Tuấn (2007), Giáo trình Dàn dựng chương trình âm nhạc tổng hợp, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 155

49. Vũ Văn Tuynh (trước 1975), Đối âm, Sài Gòn.

50. Bùi Tất Tươm, Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm (1997), Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

51. Lê Văn Tý (1972), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục, Sài Gòn.

52. Tô Vũ (1996), Sức sống của nền âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

53. Tô Vũ (2002), Âm nhạc Việt Nam – Truyền thống và Hiện đại, Viện Âm nhạc, Hà Nội.

 

Tiếng Anh, Đức, Nga, Pháp, Ý

54. Claudio Abbado (1995), L’Enciclopedia della musica – Tự điển bách khoa về Âm nhạc, Novara, Ý.

55. Samuel Adler (1989), The study of Orchestration – Nghiên cứu về Phối dàn nhạc, W. W. Norton Inc., New York, USA.

56. Haroald Barlow, Sam Morgenstern (1955), Dizionario dei Temi musicali – Tự điển chủ đề âm nhạc, Nxb Giuseppe Sormani, Milano, Ý.

57. Lawrence A. Buckler (2012), How to harmonize chords to melody – Cách hòa âm một giai điệu, USA.

58. A. Casella, V. Mortari (1950), La tecnica dell’orchestra contemporanea – Kỹ thuật phối dàn nhạc đương đại, Nxb Ricordi, Ý.

59. Marcel Corneloup (1957), Guide pratique du chant choral-Hướng dẫn thực hành hát hợp xướng, Nxb Francis Van de Velde, Paris, Pháp.

60. A. Della Corte, G. M. Gatti (1945), Dizionario di Musica – Tự điển âm nhạc, Nxb Paravia, Ý.

61. Edmond Costère (1962), Mort ou transfigurations de l’Harmonie – Cái chết hay những biến hình của hòa âm, Nxb Các Đại học Pháp, Paris, Pháp.

62. Henry Coward, Choral technique and Interpretation – Kỹ thuật hợp xướng và Diễn đạt. 156

63. Leon Dallin (1974), Techniques of Twentieth Century Composition – Kỹ thuật sáng tác Thế kỷ 20, Đại học tiểu bang California, Long Beach, USA.

64. Walter Ehret (1959), The choral conductor’s book – Sách dành cho chỉ huy hợp xướng, Công ty Edward B. Marks Music, New York, USA.

65. Wolfgang Fiedler (1996), Das Handbuch für die Komponier-und Arrangier-praxis – Sổ tay thực hành sáng tác và phối âm, Nhà xuất bản AMA, Brühl, Deutschland.

66. Cecil Forsyth (1920), Choral Orchestration – Phối dàn nhạc cho hợp xướng, The H & Gray Co., New York, USA.

67. Viktor Fuchs (1967), Die Kunst des Singens – Nghệ thuật ca hát, Nxb Bärenreiter, Deutschland.

68. Johann Joseph Fux (1971), The study of counterpoint – Nghiên cứu đối âm, Norton Company, New York, USA.

69. Maurice Gardner (1948), The orchestrator’s Handbook – Sổ tay người chỉ huy dàn nhạc, Công ty xuất bản The Staff Music, New York, USA.

70. Percy Goetschius (1902), Applied counterpoint – Đối âm ứng dụng, USA.

71. Fred. Goldbeck (1952), Le parfait chef d’orchestre – Người chỉ huy dàn nhạc hoàn hảo, Đại học Pháp, Paris.

72. Benjamin Grosbayne (1956), Techniques of modern orchestral conducting – Kỹ thuật chỉ huy dàn nhạc hiện đại, Đại học Harvard – Massachusetts, USA.

73. John Casper Hack (1768), A complete system of harmony – Một hệ thống đầy đủ về hòa âm, London, England.

74. Paul Hindemith (1944), A concentrated course in Traditional harmony – Giáo trình tập trung về Hòa âm truyền thống (nguyên tác tiếng Đức), Liên hiệp các nhà xuất bản âm nhạc (Associated Music Publishers, Inc.), USA.

75. Paul Hindemith (1949), Harmonieübungen für Fortgeschrittene – Bài tập hòa âm nâng cao (dùng cho sách A concentrated course in Traditional harmony), Nxb B. Schott’s Söhne, Mainz, Deutschland. 157

76. Imogen Holst (1973), Conducting & Choir – Chỉ huy & Hợp xướng, Đại học Oxford, Ely House, London, Anh.

77. М. Ивакн (1980), Хорвая аранжировка – Soạn hợp xướng, Nxb “Музыка” (Âm nhạc), Leningrad, Liên Xô.

78. Pierre Kaelin (1949), Le livre du chef de chœur – Sách cho chỉ huy hợp xướng-Nxb René Kister, Genève, Thụy Sĩ.

79. Charles Kœchlin (1920), Etude sur le choral d’école – Nghiên cứu về trường dạy hợp xướng, Nxb Heugel (Paris), France.

80. Charles Kœchlin, Traité de l’orchestration (Vol. I, II, III, IV) – Luận thuyết về phối dàn nhạc (Tập I, II, III, IV), Nxb Max Eschig (Paris), France.

81. И. Koчнева, A. Якoвлева (1986), Boкальный словарь – Tự điển thanh nhạc, Nxb “Музыка” (Âm nhạc), Leningrad, Liên Xô.

82. Gordon Lamb (2010), Choral techniques – Kỹ thuật hợp xướng, Đại học Rice, Houston, Texas, USA.

83. Joe Liles (1980), Barbershop arranging manual – Sổ tay phối thanh nhạc nhiều bè thể loại barbershop, Wisconsin, USA.

84. Heinrich Lindlar (1997), Wörterbuch der Musik – Tự điển Âm nhạc, Nxb Weltbild Verlag GmbH, Ausburg, Deutschland.

85. Sharon Mabry (2002), Exploring Twentieth-century vocal music – Khảo sát thanh nhạc thế kỷ XX, Nxb Đại học Oxford, New York, USA.

86. Adolf Bernhard Marx (1860), Vollständige Chorschule – Trường dạy hợp xướng toàn tập, Nxb Breitkopf và Härtel, Leipzig, Deutschland.

87. Brock McElheran (1966), Conducting technique for Beginners and Professionals – Kỹ thuật chỉ huy cho người mới bắt đầu và Chuyên nghiệp, Đại học Oxford, Ely House, New York, USA.

88. B. Meyer (1996), Vocal – Der Weg vom Sprechen zum Singen – Con đường từ nói đến hát, Nxb AMA Verlag GmbH, Deutschland.

89. Michael Miller (2007), Arranging and Orchestration – Chuyển soạn và Phối dàn nhạc, Nxb Alpha, USA. 158

90. Nhiều tác giả (1994), The art of conducting/ Great conductors of the past – Nghệ thuật chỉ huy/ Các nhà chỉ huy lớn trong quá khứ, TELDEC Classics International GmbH, Hamburg, Đức.

91. Arthur E. Ostrander, Dana (1986), Contemporary choral arranging – Phối hợp xướng đương đại, Đại học Ithaca, New Jersey, USA.

92. Vincent Persichetti (1961), Twentieth century harmony (Outline), Creative aspects and practice – Hòa âm thế kỷ 20 (Đại cương), phạm vi sáng tạo và thực hành, W. W. Norton Inc., New York, USA.

93. Walter Piston (1947,1970), Counterpoint – Đối âm, Đại học Harvard, USA (bản năm 1947) Và Nxb Victor Gollancz, (London), England (bản năm 1970).

94. Walter Piston (1969), Orchestration – Phối dàn nhạc, Nxb Victor Gollancz, (London), England.

95. Kenneth R. Rumery (1992), Introduction to Musical design, Vol. 1 – Giới thiệu về thiết kế âm nhạc, Tập 1, Nxb Wm. C. Brown, USA.

96. Н. Римский-Koрсакoв (1886, tái bản lần thứ 16 năm 1937), Пpaктиеский yчебник гapмониu – Sách giáo khoa thực hành hòa âm, Nxb “Гoсударственнoе музыкальное издательство”, Mосква.

97. Russell Robinson, Jay Althouse, Das groòe Buch der Chor Warm-Ups – Sách lớn về khởi động hợp xướng, Nxb Alfred Choral, Deutschland.

98. Н. В. Рoманoвский (1980), Хоровой словарь – Tự điển hợp xướng, Nxb “Музыка” (Âm nhạc), Leningrad, Liên Xô.

99. Arnold Schönberg (1922), Harmonielehre – Giáo trình hòa âm, Nxb Universal và Paul Gerin, Wien, ệsterreich.

100. Deke Sharon, Dylan Bell (2012), A cappella arranging – Phối A cappella, Nxb Hal Leonard Books, Wisconsin, USA.

101. П. Шпитальный (1980), Чтение симфнических партитур, выпуск первый – Đọc tổng phổ giao hưởng, Tập 1-Nxb “Музыка”, Liên Xô. 159

102. Albert Stoessel (1928), The technic of the baton – A Handbook for Students of Conducting-Kỹ thuật dùng đũa nhịp – Sổ tay cho sinh viên chỉ huy, Carl Fischer, Inc., New York, USA.

103. Dmitri Tymoczko, Root motion, Function, Scale-degree: A grammar for elementary tonal harmony –Chuyển động của âm nền, Công năng, Bậc thang âm: Một ngữ pháp cho hòa âm điệu tính căn bản, Đại học Princeton, USA.

104. Homer Ulrich (1973), A survey of choral music – Tổng quan về nhạc hợp xướng, Nxb Schirmer, Harcourt Brace, New York, USA.

105. Matteo Unich (2006), La gestualità nella direzione di coro: Tradizione consolidata e contributi ricenti – Thủ điệu trong chỉ huy hợp xướng: Củng cố truyền thống và đóng góp mới, Italia.

106. Percy M. Young (1962), The Choral tradition: An historical and anlytical survey from the sixteenth century to the present day – Truyền thống hợp xướng: Tổng quan phân tích và lịch sử từ thế kỷ XVI đến ngày nay, W. W. Norton, New York, USA.

107. Adone Zecchi (1965), Il direttore di coro – Người chỉ huy hợp xướng, Milano, Italia.

 

Bài báo, luận văn, luận án, công trình nghiên cứu khoa học

 

108. Joshua Alfred Amuah (2013), Contribution of Winneba Youth Choir in the socio-economic development of Ghana – Sự đóng góp của ban hợp xướng Tuổi trẻ Winneba vào sự phát triển kinh tế xã hội Ghana, Đại học Giáo dục Winneba (Ghana).

109. Nguyễn Bách (2006), Âm nhạc trong tiếng rao hàng của người Việt Nam, Thông báo khoa học số 17, tháng 1 2006, tr. 134 – 141, Viện Âm nhạc Việt Nam, Hà Nội.

110. Nguyễn Bách (2012), Hợp xướng có lợi gì? Tạp chí Nghệ thuật biểu diễn số 45, tháng 8/2012.160

111. Nguyễn Bách (2013), Tiến Dũng và Dàn nhạc CTM, Tạp chí Âm nhạc Việt Nam Panorama số 30, tháng 7/2013.

112. Nguyễn Bách (2013), Phát triển một số loại hình hợp xướng mới tại Tp. Hồ Chí Minh, Thông báo khoa học số 40, tháng 9 2013, tr. 114 – 120, Viện Âm nhạc Việt Nam, Hà Nội.

113. Nguyễn Bách (2014), Một số kiểu hòa âm tạo nét riêng cho hợp xướng Việt, Thông báo khoa học số 42, tháng 5 2014, tr. 94 – 104, Viện Âm nhạc Việt Nam, Hà Nội.

114. Michael Barrett (2007), The value of choral singing in a multi-cultural South Africa – Giá trị của hát hợp xướng ở một Nam Phi đa văn hóa, Luận văn Cao học chuyên ngành “Nghệ thuật biểu diễn âm nhạc”, Đại học Pretoria, Nam Phi.

115. Văn Cẩn (1997), Ngữ âm học Việt Nam – Những vấn đề liên quan đến Thanh nhạc, Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc Họa Trung ương, Hà Nội.

116. Nguyễn Xuân Chiến, Lâm Trúc Quyên và Nguyễn Thị Thư Nhường (2011), “Thiết kế nội dung đào tạo  môn phối hợp xướng cho đại học sư phạm âm nhạc”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Khoa Nghệ thuật, Đại học Sài Gòn.

117. Stephen Clift, Grenville Hancox (2010), The significance of choral singing for sustaining psychological wellbeing: Findings from a survey of choristers in England, Australian, and Germany – Tầm quan trọng của hát hợp xướng trong việc duy trì sức khỏe tâm lý, Đại học Âm nhạc Hoàng gia phiá Bắc, Sydney (Úc).

118. John Cook (1960), Technique for choirs – Kỹ thuật cho hợp xướng, Đại học hoàng gia Canada, Toronto (Canada).

119. Hoàng Cương (1991), Về tư duy âm nhạc Việt Nam qua các tác phẩm của bản thân cho các nhạc khí Tây phương, Công trình khoa học, Nhạc viện Tp. Hồ Chí Minh.

120. Mark DeVoto, Some aspects of parallel harmony in Debussy – Vài khiá cạnh của hòa âm song song ở Debussy. 161

121. Pävi-Sisko Eerola (2013), Extended music education enhances the quality of school life – Giáo dục âm nhạc ngoại khóa làm nâng cao chất lượng của đời sống trường học, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục âm nhạc, London.

122. Todd Estabrook, Ann Meier Baker (2009), How children, adults and community benefit from choruses/ The chorus impact study – Trẻ em, người lớn và cộng đồng được lợi gì từ hợp xướng/ Nghiên cứu tác động của hợp xướng, Chorus America.

123. Brian Galante (2009), Vibrato and Choral Acoustics – Hát rung và âm thanh học cho hợp xướng, Choral Journal (Tạp chí Hợp xướng), Bộ 51, số 7.

124. Nguyễn Mỹ Hạnh (2000), Tìm hiểu sự liên kết giữa hòa âm và phức điệu trong một số tác phẩm khí nhạc, Luận văn Cao học chuyên ngành “Lý luận Âm nhạc”, Nhạc viện Tp, HCM.

125. Nguyễn Văn Hòa (2013), Hải Linh và lối viết thoáng mỏng.

126. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010), Thánh nhạc và đời sống đức tin dân Chúa tại Việt Nam 50 năm qua.

127. Hội Nhạc sĩ Việt Nam (2015), Tài liệu đại hội cơ sở Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa IX (Nhiệm kỳ 2015 – 2020), Hà Nội.

128. Lê Vinh Hưng (2010) – chủ nhiệm đề tài, Hệ thống phương pháp dạy và học hát hợp xướng hệ Đại học Sư phạm Âm nhạc, Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

129. Joseph Jordania, Music and Motion: Humming in the beginnings of human history – Âm nhạc và Sự vận động: Hát ngậm miệng trong những buổi đầu của lịch sử loài người.

130. Trần Văn Khê (2009), Âm nhạc trong Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Di sản Văn hóa phi vật thể, số 1 (26), tr. 70 – 74.

131. Carol J. Krueger (2010), Harmony skills (for choir) – Kỹ xảo hòa âm (cho hợp xướng), USA. 162

132. Hoàng Ánh Loan (2006), Vấn đề hòa âm trong tác phẩm hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại Việt Nam, Luận văn Cao học chuyên ngành “Lý thuyết và Lịch sử Âm nhạc”, Nhạc viện Tp, HCM.

133. Nguyễn Thị Tố Mai (2010), Opera trong sự phát triển nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

134. Timonthy F. Maher (1980), A rigorous test of the proposion that musical intervals have different psychological effects – Một thử nghiệm chặt chẽ về ý kiến cho rằng các quãng nhạc có những hiệu quả tâm lý khác nhau, The American journal of psychology (Tạp chí tâm lý học Mỹ), Vol. 93, No. 2, tr. 309 – 327, Nhà xuất bản Đại học Illinois.

135. Phạm Xuân Nam (2010), Tổng quan về xã hội Việt Nam trong quá trình đổi mới để phát triển và hội nhập quốc tế, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

136. Nhiều tác giả (2000), Psychological connotations of harmonic musical intervals – Phân tích tâm lý của các quãng hòa âm, Hiệp hội nghiên cứu tâm lý học âm nhạc và giáo dục âm nhạc, Đại học Bologna, Ý.

137. Nhiều tác giả (1972), Ông Nguyễn Cầu trả lời phỏng vấn về hoạt động của hai trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Huế, Sài Gòn, Tuyển tập “Người dân muốn biết”, tập I, Việt Nam Thông tấn xã, Sài Gòn, tr. 358 – 365.

138. Nhiều tác giả (2006), American masterpieces – Choral music – Các tác phẩm Mỹ-Nhạc hợp xướng, Chorus America, Washington D. C., USA.

139. Nhiều tác giả (2009), The chorus impact study – Nghiên cứu tác động của hợp xướng, Chorus America, Washington D. C., USA.

140. Nguyễn Thuyết Phong, Tìm về bản sắc lễ nhạc Phật giáo Việt Nam.

141. Fergus Sheil (2008), Raising your voice, toward a policy for the development of choral music in Ireland – Nâng cao giọng hát, hướng đến một chính sách phát triển nhạc hợp xướng ở Ireland, Dublin, Ireland.

142. Angela Astri Soemantri, Michael Mulyadi, Monti P. Satiadarma (2012), Choral Music in Indonesia – Âm nhạc hợp xướng ở Indonesia.

143. Philip Tagg (2000), Melody and Accompaniment – Giai điệu và Phần đệm (Bài viết cho “Tự điển Bách khoa về Nhạc phổ thông thế giới”, Nxb Bloomsbury, London).

144. Lương Thị Hồng Thắm (2014), Hợp xướng và Nhạc kịch của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, Luận văn Thạc sĩ Âm nhạc học, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.

145. Vũ Nhật Thăng (1988), Ngẫu hứng từ chủ đề thời gian – không gian âm nhạc, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật số 6 (83), tháng 11 1988, Hà Nội.

146. Vũ Nhật Thăng (2003), Đôi điều về nhạc nước ta, Hà Nội.

147. Trương Ngọc Thắng (2007), Quá trình hình thành và phát triển ca hát chuyên nghiệp Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Nghệ thuật học, Nhạc viện Hà Nội.

148. Mihoko Tsutsumi (2007), A history of Japan Choral Association – Lịch sử Hiệp hội hợp xướng Nhật Bản, Luận án tiến sĩ, Đại học Florida, USA.

149. Trần Nhật Vy (2000), Báo Tuổi Trẻ Xuân Canh Thìn, Tp. HCM.

150. John R. Weiss (2001), Vocal health in choral rehearsal – Sức khỏe giọng hát trong tập dợt hợp xướng, Chuyên đề của luận án tiến sĩ Âm nhạc, Đại học Arizona, USA. Tài liệu âm thanh, phim hình

151. Chương trình tiếng nhạc tâm tình, Đài phát thanh miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

152. Chương trình Tiếng Tơ đồng, Đài phát thanh miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

153. Phạm Đình Chương, Hội Trùng dương, Ban hợp ca Thăng Long, bản thu âm trước năm 1975.

154. Hùng Lân, Mùa hợp tấu, Ban hợp ca Đài phát thanh Sài Gòn (trước 1975).

155. Hùng Lân, Mùa hợp tấu, Ca đoàn Ngàn Khơi (sau 1975).

156. Hải Linh, Ave Maria, Ca đoàn Hồn nước, trích băng nhạc “Một giờ hợp ca I” bản thu âm trước năm 1975.164

157. Hải Linh, Đà Lạt trăng mờ, Ca đoàn Hồn nước, trích băng nhạc “Một giờ hợp ca I” bản thu âm trước năm 1975.

158. Hải Linh, Cóc quân, Ca đoàn Hồn nước, trích băng nhạc “Một giờ hợp ca I” bản thu âm trước năm 1975.

159. Hải Linh, Tiếng Thu, Ca đoàn Hồn nước, trích băng nhạc “Một giờ hợp ca II” bản thu âm trước năm 1975.

160. Ban hợp xướng Nhà hát giao hưởng vũ kịch Tp. Hồ Chí Minh, thu hình năm 2010.

161. Tử Phác, Tiếng hát quay tơ, Ban hợp ca Tiếng Tơ Đồng, bản thu âm trước năm 1975.

162. Lê Cao Phan, Phật giáo Việt Nam, Ban hợp xướng Từ Tân, thu hình năm 2011.

163. Arnold Schönberg (1950), “Thánh vịnh hiện đại dành cho Người đọc, Hợp xướng hỗn hợp và Dàn nhạc” (Moderner Psalm für Sprecher, gemischten Chor und Orchester), bản thu hình.

164. Lê Thương, Hòn vọng phu II – Ai xuôi vạn lý, Ban hợp xướng Trùng Dương, thu hình năm 2009.

 

 

 

 


[1] Thuật ngữ hợp xướng (chorus) ngày nay có nguồn gốc từ chữ “χορός hay khoros” (tiếng Hy Lạp). Trong kịch Cổ đại, người Hy Lạp dùng từ này để chỉ một nhóm diễn viên (thường gồm từ 12 đến 50 người, có khi mang cả mặt nạ) Hát đồng âm hoặc nói phần lời dành cho mình để đệm theo các hành động kịch.

[2] Roma, Ý

[3] Cuốn sách này được nhà xuất bản TRẺ (Tp. Hồ Chí Minh) Tái bản vào năm 2001

[4] http: // hailinhquehuong. Net

[5] PGS TS Nguyễn Minh Cầm, bảo vệ luận án tiến sĩ tại Học viện Quốc gia Bulgarie năm 1985 với đề tài Някои специфилни проблеми при преработването на Виетнамскте едногласни народни и авторски песни за хор а капела (Một số vấn đề đặc biệt khi chuyển dân ca Việt Nam sang hợp xướng không nhạc đệm); Bà là một trong số rất ít nữ chỉ huy hợp xướng và dàn nhạc của Việt Nam. Bà đã giảng dạy nhiều năm tại Nhạc viện Hà Nội trước khi chuyển vào Tp. Hồ Chí Minh từ năm 1990.

 

Keywords:download filetype:pdf,hoc vien am nhac viet nam 2015,de tai luan an tien si, nhac hop xuong tai thanh pho ho chi minh truoc va sau nam 1975,chuyen nganh am nhac hoc ma so 62210201,ncs nguyen bach -hdkh pgs. ts. tran the bao

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 nhac hop xuong tai thanh pho ho chi minh truoc va sau nam 1975.pdf HVANVN NguyenBach 164Tr Download file nhạc hợp xướng tại thành phố hồ chí minh trước và sau năm 1975 2103
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

nhạc hợp xướng tại thành phố hồ chí minh trước và sau năm 1975

nhạc hợp xướng tại thành phố hồ chí minh trước và sau năm 1975

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN