Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo lên facebook!
Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo

15/05/2015 Uploader: Tao Xanh Loại file: pdf

Đề tài nghiên cứu khoa học: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo...Kế toán là một công cụ hữu hiệu không chỉ giúp cho các nhà quản lý nắm được thực trạng tài chính nhằm hạch định kế hoạch phát triển cho tương lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng, Nhà nước… nhằm phục vụ cho những mục đích của mình.

 ĐỀ TÀI  NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
 
  
 
TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ BOGO
 
 NGUYỄN TUẤN HÒA

--------------------------------------

 

 

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

 

1.1 Vai trò và nội dung của kế toán quản trị

 

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính và KTQT

 

1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính [10]

 

Kế toán là một công cụ hữu hiệu không chỉ giúp cho các nhà quản lý nắm được thực trạng tài chính nhằm hạch định kế hoạch phát triển cho tương lai của công ty mà còn là mối quan tâm của các nhà đầu tư tài chính, các ngân hàng, Nhà nước… nhằm phục vụ cho những mục đích của mình. Hạch toán kế toán gắn liền với sản xuất do đó ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ người ta đã sử dụng hạch toán kế toán đẻ ghi chép theo dõi quá trình sản xuất.

 

Các bản ghi kế toán đã xuất hiện từ năm 8500 trước công nguyên ở Trung Á, viết bằng đất sét thể hiện các hàng hoá như bánh mì, dê, quần áo.. . Bản ghi này được gọi là bullae, một dạng hoá đơn ngày nay. Bullae được gửi cùng với hàng hoá nhằm giúp người nhận kiểm tra lại chất lượng và giá cả của số hàng mình nhận được. Lúc này vẫn chưa có hệ số đếm khác nhau cho đến năm 850 trước công nguyên, hệ số đếm Hindus-Arabic ra đời và được sử dụng cho đến ngày nay. Việc giữ các bản ghi vẫn chưa được hình thức hoá cho tới mãi thế thứ 13, xuất phát từ các giao dịch kinh doanh và ngân hàng tại Florence, Venice và Genoa. Tuy nhiên, các tài khoản không thực sự thể hiện được bản chất nghiệp vụ giao dịch và hiếm khi cân đối.

 

Tuy nhiên, phải đến năm 1299 con người mới phát triển hệ thống thông tin tài chính gồm tất cả các yếu tố cấu thành của hệ thống kế toán kép.

 

Vào năm 1494 Luca Pacioli tác giả cuốn Summa hệ thống kế toán kép mới được miêu tả một cách cụ thể và rõ nét.

 

Sau đó 377 năm Josial Wedwood là người đầu tiên hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành. Hệ thống kế toán từ đó đã ngày càng được hoàn chỉnh hơn với việc hoàn thiện hệ thống kế toán giá thành hiện đại của Donaldson Brown- Giám đốc điều hành của General Motor.

 

Hiện nay trên thế giới đã có một tổ chức riêng ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế. Tổ chức thiết lập chuẩn mực kế toán quốc tế gồm Tổ chức ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASCF), Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC), Hội đồng hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế (IFRIC).

 

* IASCF có trách nhiệm giám sát IASB, là tổ chức ban hành chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS). SAC có trách nhiệm tư vấn các vấn đề kỹ thuật và lịch làm việc cho IASB. IFRIC, dưới sự quản lý của IASB, có trách nhiệm ban hành các hướng dẫn báo cáo tài chính quốc tế.

 

* IASCF gồm mười chín (19) ủy thác viên gồm sáu (6) Từ Bắc Mỹ, sáu (6) Từ châu Âu, bốn (4) Từ châu Á - Thái Bình Dương, và ba (3) Từ bất kỳ khu vực nào khác miễn là sự cân bằng về khu vực địa lý được giữ vững.

 

* IASB có 14 thành viên đến từ 9 quốc gia có trách nhiệm thiết lập các chuẩn mực kế toán. Các thành viên của IASB được lựa chọn theo tiêu chuẩn trình độ chuyên môn chứ không phải theo khu vực bầu cử hay quyền lợi khu vực. Các thành viên của IASB có nguồn gốc là các kiểm toán viên thực hành, người lập các báo cáo tài chính, người sử dụng các báo cáo tài chính, và từ hàn lâm. Bảy trong 14 thành viên có trách nhiệm trực tiếp liên hệ với một hay nhiều hơn các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia.

 

Việc công bố một chuẩn mực, dự thảo, hay hướng dẫn cần được sự tán thành của 8 trên 14 thành viên.

 

* Hội đồng cố vấn chuẩn mực (SAC) Bao gồm các nhóm cá nhân có các nguồn gốc chức năng và khu vực địa lý khác nhau nhằm cố vấn cho IASB và đôi khi, cho các ủy thác viên.

 

* Các thành viên của IFRIC đến từ các khu vực địa lý rộng rãi, có trình độ giao dịch cao, đại diện của các kế toán viên trong các ngành nghề và người sử dụng các báo cáo tài chính.

 

* Thêm vào đó, tất cả các thành viên của IASB có trách nhiệm liên hệ với các nhà thiết lập chuẩn mực quốc gia không có thành viên của IASB trong tổ chức lập quy của họ. Ngoài ra, nhiều quốc gia này cũng có mặt trong Hội đồng cố vấn chuẩn mực.

 

* Như vậy, trên thế giới hệ thống tài chính kế toán đã có được sự thống nhất cơ bản để các nước dựa vào đó xây dựng các chuẩn mực tài chính kế toán của mình. Tại Việt Nam hệ thống tài chính kế toán đã phát triển qua ba giai đoạn chính:

 

Trước những năm 1990: Đây là giai đoạn mà nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh và không có các hoạt động thương mại buôn bán tự do trên thị trường. Do đặc điểm này mà hoạt động nghề - 5 - nghiệp của các kế toán viên chủ yếu tuân thủ theo nội quy, quy định của Bộ Tài chính – cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm quản lý tài sản XHCN.

 

Từ năm 1991 đến năm 1994: Đất nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự xuất hiện của nền kinh tế nhiều thành phần đã tác động đến bản chất và đặc thù của nghề kế toán. Nhiều thuật ngữ trong lĩnh vực kế toán ra đời như khái niệm lãi, lỗ, lợi nhuận… mà đối với nhiều kế toán viên chỉ quen làm trong nền kinh tế bao cấp là khá trừu tượng và khó hiểu.

 

Do thực tế khách quan thay đổi nên giai đoạn từ năm 1995 đến nay chính là thời gian mà hệ thống kế toán tài chính nước ta có những bước phát triển cao nhất và hoàn thiện nhất. Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay hệ thống kế toán toán tài chính nước ta đã hình thành và phát triển lĩnh vực kiểm toán. Sự phát triển vượt bậc này được đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng như các chuẩn mực về kế toán tài chính riêng của Việt Nam đã được ban hành.

 

Kế toán tài chính tại Việt Nam không còn phát triển một cách đơn lẻ tự phát nội bộ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới. Đánh dấu bước phát triển quan trọng này là vào năm 1996 - Hội kế toán Việt Nam (VAA) Ra đời và trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Cũng như là thành viên của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA).

 

1.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của KTQT

 

KTQT xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào những năm đầu của thế kỉ XIX. Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản trị phải kiểm soát và đáng giá được hoạt động của chúng. Một trong các DN áp dụng KTQT đầu tiên ở Mỹ là công ty dệt Lyman Mills.

 

Để xác định được hiệu quả sản xuất của các sản phẩm cụ thể và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận, công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hàng ngày. KTQT cũng được áp dụng tại công ty Louisville & Nashville hoạt động trong ngành đường sắt vào năm 1840 khi phạm vi hoạt động của công ty ngày càng mở rộng và công việc xử lý ngày càng phức tạp. Để kiểm soát thu, chi trên địa bàn rộng lớn công ty này đã chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu nhập theo từng khu vực để lập báo cáo cho các nhà quản trị.

Trên cơ sở của hạch toán chi phí Albert Fink – phó chủ  tịch công ty là người đầu tiên tính toán được chi phí cho 1 tấn/km vận chuyển vào cuối thập niên 60 của thế kỉ này. Trong ngành luyện kim, KTQT cũng được áp dụng từ rất sớm. Andrew Carnegie - một doanh nhân lớn của thế kỉ XIX đã áp dụng KTQT để quản lý DN của mình từ năm 1872. Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, ông ta đã chia DN của mình ra thành nhiều bộ phận để theo dõi và hạch toán. Carnegie sử dụng báo cáo hàng tháng về chi phí vật tư và nhân công sử dụng ở rừng bộ phận để kiểm soát và đánh giá hoạt dộng của chúng.

 

Việc kiểm soát chất lượng và cơ cấu vật liệu cũng được thực hiện trong quá trình sản xuất. Bằng cách này Carnegie đã giảm được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, phát huy hết các khả năng sản xuất và đưa ra được giá bán hợp lý.

 

Không chỉ trong ngành đường sắt, luyện kim, KTQT trong giai đoạn này còn được áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hoá chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên, trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ kiểm soát được các chi phí sản xuất trực tiếp.

 

Các phương pháp phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm và các thông tin về sử dụng TSCĐ vẫn bị bỏ qua.

 

KTQT tiếp tục phát triển mạnh vào những năm đầu của thế kỷ XX mà Pierre du Pont, Donaldson Brown và Alfred Sloan là những người đóng góp nhiều cho sự phát triển của KTQT trong giai đoạn này. Công ty Du Pont Power được thành lập vào năm 1903 bằng việc hợp nhất các công ty nhỏ sản xuất các bộ phận sản phẩm với nhau. Để dễ dàng kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận, Du Pont chia công ty thành các bộ phận nhỏ và thay đổi từ mô hình quản trị tập trung sang mô hình quản trị phân quyền.

 

Theo nguyên tắc “phân quyền trách nhiệm để kiểm soát tập trung” Brown và Sloan đã đưa ra nhiều sáng kiến để giải quyết các vấn đề phức tạp trong quản trị công ty. Cùng với việc xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cho quản trị DN công ty đã thực hiện việc phân quyền trách nhiệm. Các bộ phận và các phòng ban trong công ty được giao quyền tự chủ, tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm trong định giá, liên kết sản xuất, tìm kiếm khách hàng, thiết kế sản phẩm, mua vật tư và điều hành quá trình sản xuất. Nhờ áp dụng cơ chế phân quyền công ty tạo diều kiện cho các nhà quản trị phát huy hết năng lực và chủ động sáng tạo của họ trong điều kiện được trực tiếp tiếp cận với thông tin do KTQT cung cấp để ra các quyết định phù hợp và kịp thời.

 

Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1930, ủy ban chứng khoán Mỹ buộc các công ty phải công bố báo cáo tài chính. Do vậy nghiên cứu kế toán trong giai đoạn này đều tập trung vào các báo cáo tài chính nên KTQT bị sao nhãng. Cho dến thập kỉ 80, do sức ép cạnh tranh và sự thành công vượt bậc của các DN ở châu Á, đặc biệt ở Nhật Bản, KTQT ở Mỹ mới lại được tiếp tục nghiên cứu và phát triển. Các phương pháp JIT (Just in time) Và kế toán chi phí,…được áp dụng rộng rãi và lần đầu tiên KTQT cũng được đưa vào giảng dạy tại Đại học Kinh doanh Harvard và Viện Công Nghệ Massachusets. Ở Châu Á, sau chiến tranh thế giới thứ 2, cùng với sự phát triển của các trường phái quản trị theo kiểu Nhật Bản, KTQT cũng được hình thành để phục vụ cho nhu cầu thông tin của các nhà quản trị DN. Các phương pháp KTQT theo kiểu Nhật Bản được nói nhiều đến là Target costing và Kaizen costing.

 

Nghiên cứu sự phát triển của KTQT cho thấy, KTQT hình thành và phát triển xuất phát từ nhu cầu thông tin quản trị DN. Môi trường cạnh tranh buộc các DN phải tìm mọi biện pháp mở rộng và phát triển thị trường, giảm chi phí nâng cao lợi nhuận.

 

KTQT là công cụ hữu hiệu cho phép các nhà quản trị kiểm soát quá trình sản xuất, đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong DN để có các quyết định phù hợp và hiệu quả. Ở việt Nam, KTQT đã được thừa nhận và công bố trong Luật kế toán. Cụ thể, theo Luật kế toán được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17 tháng 06 năm 2003.

 

Ngày nay, KTQT bắt đầu chuyển sang một kỷ nguyên mới, rất gần với quản trị, là công cụ hợp nhất giữa chiến lược kinh doanh với thị trường, hợp nhất giữa kiểm soát và thông tin phản hồi với thông tin định hướng hay KTQT là một bộ phận thiết yếu của quản trị, kế toán chiến lược.

 

1.1.2 Định nghĩa về kế toán tài chính và kế toán quản trị

 

1.1.2.1 Định nghĩa về kế toán tài chính [1]

 

Kế toán tài chính thực hiện việc ghi chép, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phản ánh sự hình thành và vận động của tài sản trong một doanh nghiệp phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo quy định chung nhằm cung cấp cho nhà quản lý doanh nghiệp và những người bên ngoài doanh nghiệp.

 

1.1.2.2 Định nghĩa về kế toán quản trị

 

KTQT là một bộ phận cấu thành của hệ thống thông tin kế toán nói chung trong các tổ chức hoạt động. Việc nghiên cứu KTQT được xem xét từ nhiều khái niệm đứng ở các quan điểm và góc độ khác nhau.

 

- Theo Luật Kế Toán Việt Nam, KTQT “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. [2]

 

Theo thông tư 53/2006/TTƯBTC thì thông tin hoạt động nội bộ mà KTQT cung cấp có thể là: Chi phí của từng bộ phận, từng công việc, từng sản phẩm; Phân tích đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận, lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn, dài hạn, lập dự toán ngân sách nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. [4]

 

- Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa Kỳ thì KTQT “là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giákiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”, trong đó:

 

+ Nhận diện: Là sự ghi nhận và đánh giá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm có hành động kế toán thích hợp.

 

+ Đo lường: Là sự định lượng, gồm cả ước tính các nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra hoặc dự báo các sự kiện kinh tế có thể xảy ra.

 

+ Phân tích: Là sự phân giải để xác định nguyên nhân của các kết quả trên báo cáo và mối quan hệ của các nguyên nhân đó với các sự kiện kinh tế.

 

+ Soạn thảo và diễn giải: Là sự liên kết các số liệu kế toán hay số liệu kế hoạch nhằm trình bày thông tin một cách hợp lý, đồng thời đưa ra các kết luận rút ra từ các số liệu đó.

 

+ Truyền đạt: Là sự báo cáo các thông tin thích hợp cho nhà quản trị và những người khác trong tổ chức.

 

- Theo quan niệm truyền thống, KTQT là một bộ phận kế toán tách ra từ kế toán doanh nghiệp (kế toán tài chính). [4] - 9 -

 

- Theo từ điển kế toán của nhà xuất bản Macmillan: “KTQT là một bộ phận của kế toán liên quan đến việc báo cáo cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp”. [9]

 

- Theo các Giáo sư đại học South Florida: “KTQT là một hệ thống kế toán cung cấp những thông tin định lượng cho các nhà quản trị, mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”. [9]

 

- Theo Ronal W. Hilton: “KTQT là một bộ phận trong hệ thống thông tin quản trị tổ chức”. [9]

 

- Theo các tác giả của Đại học kinh tế quốc dân: “KTQT là một bộ phận của hạch toán kế toán nhằm thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin phục vụ cho việc quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp”  [9] - Như vậy, KTQT được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên tất cả đều thống nhất chung mục đích KTQT là cung cấp thông tin định lượng tình hình kinh tế tài chính về hoạt động doanh nghiệp cho các nhà quản trị ở doanh nghiệp và KTQT là một bộ phận kế toán linh hoạt do doanh nghiệp xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế kỹ thuật, tổ chức quản lý.

 

 

 

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1 Vai trò và nội dung của kế toán quản trị

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính và KTQT

1.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán tài chính

1.1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của KTQT

1.1.2 Định nghĩa về kế toán tài chính và kế toán quản trị

1.1.2.1 Định nghĩa về kế toán tài chính

1.1.2.2 Định nghĩa về kế toán quản trị

1.1.3 So sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

1.1.3.1 Những điểm giống nhau giữa kế toán tài chính và KTQT

1.1.3.2 Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và KTQT

1.1.4 Vai trò của kế toán quản trị

1.1.5 Nội dung của kế toán quản trị

1.1.5.1 Dự toán ngân sách

1.1.5.2 Kế toán trách nhiệm

1.1.5.3 Hệ thống kế toán chi phí

1.1.5.4 Thiết lập thông tin cho việc ra quyết định

1.1.5.5 Nội dung kế toán quản trị theo thông tư 53/2006/ TTƯBTC

1.2 Điều kiện để thực hiện KTQT tại doanh nghiệp

TÓM TẮT CHƯƠNG

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ BOGO

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.2 Qui mô sản xuất kinh doanh của Công ty

2.1.2.1 Qui mô về vốn

2.1.2.2 Qui mô về lao động

2.1.2.3 Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

2.1.3 Chức năng và nhiệm vụ của công ty

2.1.3.1 Chức năng của công ty

2.1.3.2 Nhiệm vụ của công ty

2.1.4 Cơ cấu tổ chức các phòng ban

2.1.4.1 Sơ đồ tổ chức

2.1.4.2 Nhiệm vụ các phòng ban

2.1.5 Một số kết quả hoạt động các năm gần đây của công ty

2.1.5.1 Tình hình hoạt động chung

2.1.5.2 Thuận lợi, khó khăn và chiến lược phát triển công ty

2.2 Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

2.2.1 Chính sách kế toán áp dụng tại Công ty

2.2.2 Hình thức tổ chức sổ sách kế toán tại Công ty

2.2.3 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty

2.3 Thực trạng tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

2.3.1 Những nội dung của kế toán quản trị được thực hiện tại Công ty

2.3.1.1 Lập dự toán ngân sách

2.3.1.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

2.3.1.3 Kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

2.3.2 Một số nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chưa xây dựng công tác kế toán quản trịtại Công ty

TÓM TẮT CHƯƠNG

CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH QUỐC TẾ BOGO

3.1 Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công Ty

3.2 Các quan điểm tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty Bogo

3.2.1 Tính phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam

3.2.2 Phù hợp với mô hình tổ chức quản lý của Công ty

3.2.3 Phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý của Công ty

3.3 Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

3.3.1 Xác định những nội dung của kế toán quản trị nên thực hiện tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

3.3.2 Tổ chức dự toán ngân sách tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

3.3.2.1 Nguyên tắc lập dự toán ngân sách

3.3.2.2 Xây dựng quy trình lập dự toán ngân sách

3.3.2.3 Các báo cáo dự toán ngân sách nên được lập tại Công ty

3.3.3 Tổ chức công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

3.3.3.1 Xây dựng trung tâm trách nhiệm tại Công ty

3.3.3.2 Xây dựng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm

3.3.3.3 Xây dựng các báo cáo đánh giá kết quả của từng trung tâm trách nhiệm tạiCông ty

3.3.3.4 Phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuận

3.3.4 Tổ chức bộ máy kế toán và kế toán quản trị tại Công ty

3.3.4.1 Kế toán trưởng

3.3.4.2 Bộ phận kế toán tài chính

3.3.4.3 Bộ phận kế toán quản trị

3.4 Những giải pháp khác nhằm tổ chức thực hiện nội dung kế toán quản trị tại Công ty TNHH Quốc Tế Bogo

3.4.1 Chuẩn bị nguồn nhân lực cho bộ phận kế toán quản trị

3.4.2 Mối quan hệ kế toán quản trị với các phòng ban khác

3.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào kế toán quản trị

3.4.4 Khảo sát ý kiến về những biện pháp mà tác giả đưa ra về tổ chức công tác kế toánquản trị tại Công ty

TÓM TẮT CHƯƠNG

KẾT LUẬN

 

 

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo AMBN(St) AMBN(St) 92 Download file Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo 452
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo

Tổ chức công tác kế toán quản trị tại công ty tnhh quốc tế bogo

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN