Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001 lên facebook!
Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001

28/06/2016 Uploader: legiang Loại file: pdf

Khoá luận tốt nghiệp dược sỹ:Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001....Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ việc cung ứng thuốc cho nhân dân do nhà nước độc quyền quản lý và phân phối. Thông qua hệ thống dược quốc doanh nhà nước hoàn toàn có khả năng điều phối để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, cũng như trong cung ứng thuốc.


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ

 

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CUNG ÚNG THUỐC Ở 3 TỈNH BẮC GIANG, SƠN LA VÀ NINH THUẬN TỪ NĂM 1999 - 2001

 


Ngườỉ hướng dẫn : Th.s KHỔNG ĐỨC MẠNH-Th.s ĐỖ XUÂN THẮNG

 

Sinh Viên: Nguyễn Đức Thọ

 

 

PHẨN 1 - TỔNG QUAN

 

1.1. Một số nét về tình hình cung ứng thuốc trên thế giới.

 

1.1.1. Nghiên cứu và sản xuất thuốc.

 

Trong vài thập kỷ trở lại đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật (KHKT), nhiều thành tựu khoa học tiên tiến được áp dụng đã tác động tới mọi mặt của nền kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp. Ngành công nghiệp dược cũng không tách rời xu thế phát triển đó, nhiều tiến bộ của KHKT ứng dụng trong việc nghiên cứu, phát minh, phát triển, sản xuất ra nhiều thuốc mới có tác dụng mạnh hoạt tính sinh học cao.

 

Các hãng dược phẩm lớn đều dành tiền cho nghiên cứu và phát triển (R&D) Vói tỉ lệ lớn lên tới 50% lợi nhuận. Nếu như năm 1950 trung bình số tiền chi cho R&D một năm của các hãng dược phẩm chiếm 3,7% doanh số bán (DSB). Tới thập kỉ 60, con số này là 8,2%. Thập kỷ 70 tăng lên 9,7%. Thập niên 90, nhiều hãng đã sát nhập với nhau thành các hãng lớn hơn và chỉ số này đã tăng trên 10%. Năm 2000, Pfizer (Mỹ) Chi cho R&D lên tói 4,5 tỷ USD chiếm 22% DSB của hãng, Glaxo Wellcome (Anh) Chi 3,7 tỷ USD vào công việc tìm thuốc mới. [19]

 

Cho tới nay chỉ tính riêng nguyên liệu hoá dược được dùng để bào chế thuốc trên thế giới có khoảng 2000 loại đã cho ra đời nhiều chế phẩm phong phú đa dạng cả về mẫu mã chủng loại phù hợp với mọi đối tượng, hấp dẫn người dùng, nhiều dạng bào chế mới ra đời đã làm tăng sinh khả dụng của thuốc.

 

1.1.2. Doanh số bán thuốc trên thế giới.

 

Sản lượng thuốc trên thế giới đang tăng với tốc độ 9-10% mỗi năm và cứ sau mỗi thập kỷ giá trị sản lượng thuốc lại tăng gấp 2-2,5 lần. Năm 1976, giá trị sử dụng thuốc trên thế giới là 43 tỷ USD, năm 1985 là 94 tỷ USD, năm 1994 doanh số bán thuốc trên thế giới đạt tới 256 tỷ USD. Năm 2000 là 353,4 tỷ USD so với doanh số bán thuốc trên thế giói năm 1975 tăng gấp 10 lần trong khi dân số thế giới chi tăng hơn 1 lần (giá trị sử dụng thuốc tăng nhanh nhiều hơn mức tăng dân số).

 

Do vậy bình quân tiền thuốc đầu người trên thế giới tăng cao thể hiện 1999 63,0 5,0 Tiền thuốc bình quân đầu người trên thế giới rất cao nhưng người dân ở các quốc gia công nghiệp có chỉ số này cao hơn, còn các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam chỉ số này rất thấp. Tuy nhiên doanh số bán tính trên đầu người cũng khá chếnh lệch giữa các khu vực trên thế giới theo thống kê năm 1998: Doanh số tại Bắc Mỹ 404,1 USD, Tây Âu là 177 USD; Trong khi đó, tại Đông Âu: 17,15 USD (=1/10 Tây Âu), Châu Phi: 7,2USD, Trung Quốc: 4,6 USD (=1,13% Bắc Mỹ).

 

1.1.3. Sự tiêu thụ thuốc giữa các nước không đồng đều.

 

Sự phân bố tiêu dùng rất chênh lệch giữa các nước phát triển và đang phát triển, khoảng cách này không được rút ngắn lại mà ngày càng xa hơn. Năm 1976, các nước phát triển chỉ chiếm 27% dân số thế giới, sử dụng đến 76% sản lượng thuốc trên thế giới, trong khi đó các nước đang phát triển chiếm 73% dân số thế giới mới chỉ hưởng thụ 24% sản lượng thuốc. Mười năm sau, năm 1985, dân số các nước đang phát triển tăng lên 75% dân số thế giới nhưng mức sử dụng thuốc chỉ còn 21%.

 

Theo ước tính chi phí tiền thuốc đầu người ở các nước phát triển là 60USD (10 nước dùng thuốc nhiều nhất trên thế giới hiện nay là: Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Ý, Anh, Tây ban nha, Canada, Hà lan, Bỉ chiếm gần 60% tổng lượng thuốc dùng toàn thế giới), các nước đang phát triển là 6USD/năm. Mức tiêu thụ thuốc đầu người của các nước

 

Châu Âu và Bắc Mỹ là 300USD, trong khi đó một số vùng ở Châu Phi chỉ đạt 1 USD. Qua đó cho thấy sự chênh lệch này tới hàng chục, hàng trăm lần.

 

1.1.4. Sự ra đời danh mục thuốc thiết yếu

 

Với mục đích giúp cho các quốc gia lựa chọn những loại thuốc phù hợp với điều kiện của mình để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu cho chăm sóc sức khoẻ ban đầu. TCYTTG đã đưa ra quan niệm về TTY, danh mục TTY và thành lập các chương trình trọng tâm của CSTQG cho các nước.

 

Theo khuyến cáo của TCYTTG: “do sự khác nhau lớn giữa các nước việc thiết 3lập một danh mục thuốc chung được áp dụng là không thể. Do đó mỗi quốc gia có trách nhiệm trong việc xây dụng một danh mục TTY tuỳ thuộc vào chính sách quốc gia trong lĩnh vực y tế” và dựa trên những hướng dẫn trong báo cáo này làm cơ sở cho các quốc gia xây dựng nên bản danh mục TTY của nước mình. [38]

 

* Mục tiêu của chương trình hành động TTY là:

 

- Cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSK BĐ).

 

- Đảm bảo cung cấp thường xuyên các TTY để điều tri các bệnh thông thường ở tuyến y tế cơ sở.

 

- Thúc đẩy việc hướng đẫn sử dụng thuốc hợp lý an toàn trong đội ngũ nhân viên y tế và việc giáo dục sử dụng thuốc đối với từng cá nhân người bệnh.

 

- Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn trong đó TTY chủ yếu được sử dụng.

 

- Tránh lạm dụng và lãng phí thuốc.

 

Chương trình TTY của TCYTTG được thành lập năm 1972. Tới năm 1975, TCYTTG ban hành danh mục TTY lần thứ nhất, hai năm sau (năm 1977), TCYTTG đã xem xét lại để đưa ra danh mục lần thứ hai gồm 200 loại thuốc. Kể từ đó cứ 2-3 năm một lần, các danh mục mẫu lại được điều chỉnh cho phù hợp với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cập nhật những thuốc mới, loại bỏ những thuốc không thích hợp. Tháng 12 năm 1997, uỷ ban giám định của TCYTTG đã chọn một danh mục mẫu các loại TTY lần thứ 10 bao gồm 250 thuốc và vacxin thiết yếu. Sự thay đổi này, ngoài mục đích cập nhật những thuốc mới còn nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong công tác CSSKND. Tính đến năm 2000, chương trình hành động TTY đã được thực hiện ở 117 nước trên thế giới và đã đạt được những kết quả nhất định.

 

1.2. Tình hình cung ứng thuốc ở Việt Nam.

 

1.2.1. Cung ứng thuốc theo cơ chế cũ.

 

Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ việc cung ứng thuốc cho nhân dân do nhà nước độc quyền quản lý và phân phối. Thông qua hệ thống dược quốc doanh nhà nước hoàn toàn có khả năng điều phối để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khoẻ, cũng như trong cung ứng thuốc.

 

Trong thời kỳ này, thuốc sản xuất theo chỉ tiêu kế hoạch định trước và thành phẩm được chuyển qua hệ thống công ty dược để lưu thông phân phối. Hệ thống cung ứng lưu thông phân phối thuốc được hình thành và phát triển rộng khắp từ trung ương tói địa phưong. Các tỉnh thành đều có Công ty dược phẩm và Xí nghiệp dược phẩm, các huyện thị đều có hiệu thuốc trực thuộc. Công ty dược phẩm tỉnh, mạng lưới bán lẻ rộng khắp, việc cung ứng cho nhân dân thông qua trạm y tế xã 4phường, hệ thống dược bệnh viện và quầy bán lẻ của hiệu thuốc công ty với cơ chế bao cấp và theo hệ thống tập trung từ trung ương tói địa phương. Thuốc được phân phối theo chế độ tem phiếu và một phần theo đơn của thày thuốc. Giá thuốc được cung ứng theo hệ thống chỉ bằng 40-60% giá thuốc thực tế ngoài thị trường. Với hệ thống cung ứng này đã đáp ứng nhu cầu tối thiểu của người dân, giá cả phù hợp với thu nhập. [28]

 

* Hệ thống cung ứng như vậy cố những ưu điểm:

 

- Bảo đảm thuốc tới tay người dùng,- Giá thuốc ổn định phù hợp với nhu cầu nhân dân.

 

- Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân được nhà nước bao cấp hoàn toàn về thuốc.

 

- Các qui chế chuyên môn được thực hiện nghiêm túc, sát sao.

 

- Tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống quản lý nhà nước và quản lý chất lượng thuốc.

 

Mặc dù TTBQĐN chỉ ở mức khoảng 0,5USD/năm nhưng đã đảm bảo được những nhu cầu tối cần trong phòng, chữa bệnh và CSSKND.

 

Tuy nhiên do cơ chế kinh tế tập trung còn nhiều hạn chế làm cho Ngành Dược chậm phát triển tình trạng khan hiếm thuốc kéo dài nhiều năm, nảy sinh nhiều tiêu cực (đầu cơ, buôn lậu, một số nhân viên y tế kết hợp vói tư thương tuồn thuốc ra ngoài để kiếm lòfi), nhiều sự bất cập và bất hợp lý trong cung ứng thuốc:

 

- Thuốc được đưa về tuyến xã hoàn toàn không theo nhu cầu điều trị, giá rẻ, có mặt hàng thì quá nhiều, mặt hàng cần thì không có.

 

- Người bệnh phải qua khá nhiều khâu mới có được thuốc.

 

Khái niệm công bằng trong cung ứng thuốc được hiểu một cách đơn giản công bằng có nghĩa là “cào bằng”  và thực hiện theo chủ nghĩa bình quân.

---------------------------------------------------------------------

MỤC LỤC

 

PHẦN 1 - TỔNG QUAN

1.1. Một số nét về tình hình cung ứng thuốc trên thế giới.

1.2. Tình hình cung ứng thuốc ở Việt Nam.

1.3. Mô hình và các chỉ tiêu màng lưới cung ứng thuốc.

1.4. Khái quát một số nét chung về các tỉnh khảo sát.

PHẦN 2 - ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu.

2.2. Địa điểm nghiên cứu.

2.3. Nội dung nghiên cứu.

2.4. Phương pháp nghiên cứu.

PHẦN 3 - KẾT QUẢ KHẢO SÁT VÀ BÀN LUẬN

3.1. Màng lưới cung ứng thuốc tại các tỉnh.

3.2. Đánh giá các chỉ tiêu màng lưới bán thuốc ở 3 tỉnh.

3.3. Trình độ chuyến môn ngưòi bán thuốc.

3.4. Nguồn thuốc cung ứng cho các loại hình bán thuốc.

3.5. Tỉ lệ thuốc thiết yếu so với danh mục TTY.

3.6. Đánh giá tình hình chất lượng thuốc trên địa bàn 3 tỉnh.

3.7. Phương thức phục vụ trong ngày của các điểm bán thuốc.

3.8. Đánh giá việc thực hiện qui chế chuyên môn.

3.9. So sánh giá bán lẻ một số mặt hàng TTY.

PHẦN 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐỂ XUẤT

4.1. Kết luận.

4.2. Đề xuất.


-------------------------------------------------------

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Tiếng việt

 

 [01]. Bộ y tế (2002), Các văn bản quản lý nhà nước trong lĩnh vực dược, NXB Y Học

 [02]. Bộ y tế (1996), Cung ứng thuốc thiết yếu để chăm sóc sức khoẻ cho đối tượng chính sách, người nghèo, vùng nghèo, NXB Y Học Hà Nội.

 [03]. Bộ y tế (1995), Danh mục thuốc thiết yếu lần III.

 [04]. Bộ y tế (1999), Danh mục thuốc thiết yếu lần IV.

 [05]. Bộ y tế (2000), Dược học và thuốc thiết yếu, NXB Y Học.

 [06]. Bộ y tế-UNICEF (1999), Hướng dẫn hoạt động quĩ quay vòng thuốc thiết yếu tại y tế cơ sở, NXB Y Học.

 [07]. Bộ y tế (1999), 'Xây dựng bộ chỉ báo đánh giá việc thực hiện chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam.

 [08]. Bộ y tế (1999), Y tếViệt Nam trong quá trình đổi mới, NXB Y Học

 [09]. Bộ môn quản lý dược (2001), "Quản lý nhà nước về cung ứng thuốc trong cơ chế thị trường”, Trường Đại Học Y Tế Công Cộng, Tr. 109-113,117-120.

 [10]. Bộ môn quản lý kinh tế dược (2001), Giáo trình “Kinh tế dược”, Trường Đại Học Dược Hà Nội.

 [11]. Bộ môn quản lý kinh tế dược (2002), Giáo trình “Pháp chế hành nghề dược”, Trường Đại Học Dược Hà Nội.

 [12]. Bộ môn quản lý kinh tế dược (2001), Giáo trình “Dược xã hội học”, Trường Đại Học Dược Hà Nội.

 [13]. Bộ môn quản lý kinh tế dược (2001), Giáo trình “Dịch tễ dược học”, Trường Đại Học Dược Hà Nội.

 [14]. Bạc Cẩm Bích (2002), Nghiên cứu khảo sát tình hình cung ứng thuốc từ năm 1999-2001 trên 3 địa bàn: Thị Xã Sơn La-Huyện Bắc Yên-Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa I.

 [15]. Cục quản lý dược Việt Nam (03/2002), Tổng kết công tác dược toàn, quốc năm 2001, triển khai công tác năm 2002.

 [16]. Cục quản lý dược Việt Nam (03/2003), Tổng kết công tác dược toàn quốc năm 2002, triển khai công tác năm 2003).

 [17]. Ngô Phương Chung (2002), Khảo sát và đánh giá thực trạng cung ứng thuốc thiết yếu ở một số tỉnh thành từ năm 1992-2000, Khoá luận tốt nghiệp dược sỹ đai hoc. [18]. Niên giám thống kê y tế-2000,2001.

 [19]. Nguyễn Thị Thái Hằng-Lê Viết Hùng (2003), Nghiên cứu thực trạng, đề xuất một số giải pháp quản lý sẩn xuất và cung ứng thuốc nhằm phục vụ tốt sức khoẻ nhân dân trong cơ chế thị trường hiện nay, Đề cương khoa học cấp bộ, Bộ y tế.

 [20]. Nguyễn Thị Thái Hằng (2001), Khảo sát và đánh giá thực hiện chương trình cung ứng thuốc thiết yếu tại y tế cơ sở, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Trường Đại Học Dược Hà Nội

 [21]. Cà Văn Hoán (2002), Khảo sát đánh giá một số chỉ tiêu trong hoạt động cung ứng của hiệu thuốc huyện Thận Châu (1997-2001), Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa

 [22]. Vũ Thị Hoàn (1999), Điều tra thực trạng quản lý thuốc thiết yếu tuyến cơ sở và kiến thức sử dụng thuốc của người dân 26 xã huyện Ba Bể tỉnh Bắc Cạn, Luận văn thạc sỹ khoa học y dược

 [23]. Lê Viết Hùng-Phan Thị Thanh Tâm (2002), “Những yếu tố đặc trưng của ngành y dược ảnh hưỏng đến thị trường thuốc Việt Nam giai đoạn 1991-2000”, Tạp chí dược học, Bộ y tế, số 8, Tr. 6.

 [24]. Nguyễn Văn Hùng (1999), Nghiên cứu vai trò của thày thuốc-người bệnh-người bán thuốc trong việc sử dụng an toàn hợp lý thuốc ở cộng đồng xã năm, Luận án tiến sỹ y học

 [25]. Phan Đình Hùng (2002), Khảo sát đánh giá tình hình cung ứng thuốc trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm ỉ 999-200ỉ, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa I

 [26]. Trương Văn Khoa (2001), Khảo sát, phân tích đánh giá tình hình cung ứng thuốc của Hiệu thuốc Yên Thế— Bắc Giang 3 năm 1998 — 2000, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa I.

 [27]. Đặng Thế Tháp (1994), “Củng cố công tác dược tại trạm y tế xã một nhu cầu cấp bách”, Tạp chí y học thực hành, số 4-1994.

 [28]. Nông Văn Tiến (2001), Nghiên cứu khảo sát tình hình cung ứng thuốc từ năm 1997 — 1999 trên 3 địa bàn điển hình TX. Cao Bằng, Huyện Trùng Khánh và Huyện Quảng Hoà, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa cấp I.

 [29]. Lê Văn Truyền, Một số vấn đề về thuốc và đảm bảo công bằng trong cung ứng thuốc phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

 [30]. Lê Văn Truyền, Tăng cường vai trò của nhà nước, đảm bảo cung ứng thuốc cho đối tượng chính sách, người nghèo và vùng kinh tế xã hội khó khăn. [31]. Lê Văn Truyền (2002), “Một số vấn đề về công tác dược ở tuyến y tế cơ sở”, Tạp chí dược học, Bộ y tế, số 3, Tr. 2,3,4.

 [32]. Lê Văn Truyền (2002), “Năm năm phấn đấu thực hiện chính sách quốc gia về thuốc, ngành dược Việt Nam tiến bước trên con đường CNH-HĐH”, Tạp chí dược học, Bộ y tế, số 1, Tr. 4,5,6,7.

 [33]. Lê Xuân Tục (2002), Khảo sát phân tích kết quả kinh doanh của hiệu thuốc Quỳnh Lưu-Nghệ An và màng lưới cung ứng thuốc tuyến xã 2 năm 2000-2001, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa I.

 [34]. Đỗ Hưng Vượng (2002), Khảo sát tổ chức mạng lưới cung ứng thuốc tuyến xã, huyện ở Bắc Giang, Luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa I.

 [35]. Nguyễn Văn Yên (2002), “Khảo sát tình hình hoạt động của các cơ sở sản xuất có thuốc đăng ký lưu hành trong các năm 1996-2001”, Tạp chí dược học, Bộ y tế, số 11, Tr. 6. Tiếng anh.

 [37]. How to develop and implement a national drug policy-WHO-Geneva Second edition, updates and replaces guidelines for Developing National Drug Policies, 1988.

 [38]. Scrip Magazine (1999), “Scrip’s review o f1998”, January.

 [36]. The use of essential drugs-WHO-1992 Model use of essential drugs (seventh list): Fifth report of the who expert committeePhụ lục 1: Tăng trưởng doanh số bán thuốc trên thế giới từ 1976-2000 1 Năm Doanh số (tỷ USD) Tỉ lệ tăng so với năm 1976 %

 

 

 

Keyword:download khoa luan tot nghiep duoc sy,danh gia tinh hinh cung ung thuoc,o,3 tinh bac giang,son la va ninh thuan tu nam 1999-2001,nguyen duc tho

 

 

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001 đại học... nguyễn đức thọ 68tr Download file Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001 320
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001

Đánh giá tình hình cung úng thuốc ở 3 tỉnh bắc giang,sơn la và ninh thuận từ năm 1999 - 2001

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN