Tất cả PDF Doc/Text Âm thanh Video
Chia sẻ hội họa việt nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa lên facebook!
hội họa việt nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa

21/09/2017 Uploader: AMBN Loại file: pdf

Trên phương diện văn hóa và lịch sử mỹ thuật Việt Nam, hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 là giai đoạn tiền đề, là sự khởi đầu cho một trang sử mới, một hình thức nghệ thuật hội họa mới, trở thành nền tảng cho hội họa Việt Nam hiện đại. Đây là một giai đoạn hội họa có tính đặc thù, bởi nó bắt đầu hình thành trong thời kỳ nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Có thể nói, điều tất yếu trong lĩnh vực văn hóa dù muốn hay không thì quy luật của nó vẫn là có sự cưỡng bức, giao lưu, đan xen và tiếp biến giữa những nền văn hóa khi nó nằm trong tầm ảnh hưởng và tác động lẫn nhau.

ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI 2016

 

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HỘI HỌA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 – 1945 NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA

 

NCS NGUYỄN VĂN CƯỜNG - HDKH PGSTS. NGUYỄN VĂN CƯƠNG - TS. NGUYỄN LONG TUYỀN

 

 

 

Trên phương diện văn hóa và lịch sử mỹ thuật Việt Nam, hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 là giai đoạn tiền đề, là sự khởi đầu cho một trang sử mới, một hình thức nghệ thuật hội họa mới, trở thành nền tảng cho hội họa Việt Nam hiện đại.

 

Đây là một giai đoạn hội họa có tính đặc thù, bởi nó bắt đầu hình thành trong thời kỳ nước ta còn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp. Có thể nói, điều tất yếu trong lĩnh vực văn hóa dù muốn hay không thì quy luật của nó vẫn là có sự cưỡng bức, giao lưu, đan xen và tiếp biến giữa những nền văn hóa khi nó nằm trong tầm ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Những biến đổi trong đời sống văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống, trong đó có nghệ thuật. Hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 chính là minh chứng và cũng là kết quả của sự giao lưu tiếp biến đó giữa văn hóa Đông - Tây với những thành tựu vô cùng rực rỡ.

 

Nằm trong hai thập kỷ cuối thời Pháp thuộc với những đặc điểm riêng về chính trị, kinh tế và xã hội thuộc địa nửa phong kiến, hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 gắn với một sự kiện mang tính bước ngoặt, đó là sự ra đời của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Từ đây một thể loại nghệ thuật hội họa thường được gọi là mang tính “hàn lâm” châu Âu trong thủ pháp diễn tả, trong ngôn ngữ và chất liệu tạo hình đã được ra đời. Điều này cũng tương đồng với sự ra đời của các thể loại nghệ thuật khác như: Tân nhạc, Kịch nói, Tiểu thuyết, Thơ mới.. . Ở Việt Nam trong cùng thời kỳ.

 

Trong lịch sử mỹ thuật truyền thống, chúng ta đã có một nền mỹ thuật Phật giáo và một nền mỹ nghệ thủ công, tranh, tượng dân gian rất phong phú, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, hàm chứa nhiều yếu tố hội hội họa trong đó. Trước năm 1925 dù chúng ta chưa có một loại hình hội họa chính thống, nhưng những họa sỹ như Lê Văn Miến, Nam Sơn, Trương Văn Thủy, Lương Quang Duyệt, Thang Trần

 

Phềnh.. . Là những người đã đi đầu khi đem về những kiến thức hội họa đã học từ phương Tây về Việt Nam. Tuy chỉ là những cố gắng đơn lẻ nhưng cũng đã có những thành tựu quý giá. Nhưng kể từ năm 1925, chúng ta mới tiếp thu và chịu ảnh hưởng từ 3 hội họa Pháp mạnh mẽ, trực tiếp và đúng nghĩa. Thẩm mỹ truyền thống và thẩm mỹ phương Tây không những không mâu thuẫn mà còn được dung hòa ngoạn mục trong những họa sỹ Việt Nam, điều này cần được nghiên cứu và lý giải.

 

Một lớp họa sỹ giai đoạn 1925 - 1945 được đào tạo bài bản khoa học theo mô hình mỹ thuật phương Tây, đã mở ra một thời kỳ mới với lối nhìn mới, quan niệm mới bởi những kiến thức thẩm mỹ hiện đại. Họ đã làm rạng danh cho nền hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, bởi đã tạo ra nhiều tác phẩm hội họa đỉnh cao mà không làm mất đi truyền thống trên nhiều góc độ từ chủ đề, đề tài đến ngôn ngữ và chất liệu thể hiện trên các tác phẩm. Đó như một di sản văn hóa quý báu của dân tộc.

 

Hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 là tiền đề cho nền hội họa ViệtNam hiện đại, là bước chuyển từ nền mỹ thuật dân gian sang nền mỹ thuật hiện đại có tính bác học, hàn lâm trong đó có hội họa được ghi dấu ấn đậm nét. Với thế hệ các họa sỹ tài năng và số lượng tác phẩm xuất sắc mà họ để lại là một bài học lớn cho sự nghiệp hội họa các giai đoạn tiếp theo ở Việt Nam. Thế hệ các họa sỹ giai đoạn này như: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Đỗ Cung, Lưu Văn Sìn, Trần Văn Cẩn, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Lê Văn Đệ… xứng đáng là những bậc “Thầy” như tấm gương chiếu rọi cho các thế hệ họa sỹ kế tiếp trong những ảnh hưởng mạnh mẽ từ các trào lưu nghệ thuật hội họa thế giới, cho chúng ta những bài học về sáng tạo và về gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

 

Những tác phẩm hội họa trong giai đoạn 1925 - 1945 hàm chứa trong nó những vấn đề về văn hóa và lịch sử mỹ thuật cần được làm sáng tỏ. Việc đánh giá đúng cũng như nêu cao vai trò, những đóng góp của các họa sỹ tiền bối và tác phẩm của họ giai đoạn 1925 - 1945 trong nền hội họa Việt Nam là một điều trân trọng đối với nhân cách nghệ sỹ và đối với sự sáng tạo.

 

Nghiên cứu về hội họa giai đoạn 1925 - 1945 từ góc độ văn hóa học để làm rõ những đóng góp cũng như hạn chế của nó trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại là một điều cần thiết.

 

Với những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn Hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa làm đề tài luận án của mình.

 

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

 

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 -1945

 

Tuy chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện về hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 -1945, nhưng hội họa giai đoạn này đã được đề cập đến trong nhiều tài liệu, giáo trình lịch sử mỹ thuật, bài báo của các nhà nghiên cứu mỹ thuật như: Nguyễn Phi Hoanh, Thái Bá Vân, Nguyễn Đỗ Bảo, Lê Quốc Bảo, Lê Thanh Đức, Nguyễn Hải Yến, Bùi Như Hương, Văn Ngọc, Trịnh Quang Vũ, Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, Trần Thức, Nguyễn Thanh Mai.. . Với những nghiên cứu về nhiều mặt từ tác giả, tác phẩm, chất liệu, sự kiện, thành tựu của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945. Có nhiều cuốn sách, bài báo nghiên cứu, xem xét những giá trị nghệ thuật hội họa của Việt Nam giai đoạn này như một hiện tượng văn hóa trong tính đặc thù dân tộc và lịch sử.

 

Trong cuốn Mỹ thuật Việt Nam [28], Nguyễn Phi Hoanh khẳng định từ năm 1925 nền hội họa nước ta bước vào giai đoạn mới. Ông điểm qua những thành tựu cơ bản, trong đó nhấn mạnh tới thành công của hai chất liệu lụa và sơn mài. Nguyễn Phi Hoanh đánh giá hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 là một giai đoạn rực rỡ, ông chia các “trường phái” hội họa thời này thành ba xu hướng chính là xu hướng hiện thực, xu hướng “lãng mạn xu thời” và xu hướng “tân kỳ”đánh giá từng xu hướng.

 

Nhìn chung những nhận xét của Nguyễn Phi Hoanh về hội họa giai đoạn 1925 - 1945 là tương đối chân xác, khách quan. Riêng về đánh giá xu hướng “tân kỳ” của ông, theo nghiên cứu sinh cần xem xét thêm, bởi nghệ thuật thời nào thì việc thử nghiệm với những điều mới mẻ là hết sức cần thiết.

 

Phan Cẩm Thượng trong cuốn sách Nghệ thuật ngày thường [79], trong cuốn sách này tác giả cũng đã đánh giá một số các họa sỹ tiêu biểu, các tác phẩm xuất sắc, giúp ta thấy nét khái quát về các thành tựu cũng như hạn chế của hội họa Việt nam giai đoạn 1925 - 1945.

 

Trong tham luận Sự phát triển của hội họa Việt Nam thế kỷ 20 [32], Nguyễn Thanh Mai cho rằng hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 đã có những bước phát triển lớn. Nhưng do hạn chế của lịch sử, nên đề tài của các họa sỹ không đề cập đến mâu thuẫn cơ bản của đất nước. Đây là ý kiến rất xác đáng và khách quan, Tuy nhiên nghiên cứu sinh cho rằng tự do cá nhân với tầm nhìn hạn hẹp đặc thù của thời điểm lịch sử giai đoạn này đã không cho phép người họa sỹ phóng tầm mắt của mình ra xa hơn và bộc lộ tự do hơn, nên thật khó có thể đòi hỏi được nhiều hơn thế.

 

Phạm Quang Trung trong cuốn sách Trước hết là giá trị con người [69], cho rằng những họa sỹ thành công tiêu biểu nhất giai đoạn này chính là nhờ kế thừa được thẩm mỹ truyền thống dân tộc kết hợp với kỹ thuật hiện đại, điều đó đã cấu thành nên những tác phẩm mang giá trị thẩm mỹ rất Việt Nam.

 

Nguyễn Quân trong sách Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 [74] nhận định hội họa của ta ảnh hưởng của nghệ thuật Pháp có thể nhìn thấy ngay nhưng không phải vì thế mà các giá trị riêng bị mất. Để lý giải điều này ông cho rằng có ba nguyên nhân. Một là, nó là sản phẩm thực sự của xã hội thuộc địa; Hai là, các họa sỹ vẫn giữ được những mạch ngầm của thẩm mỹ truyền thống nhờ một “tính dân tộc cố hữu”; Ba là, chủ nghĩa yêu nước vẫn sống động trong tâm hồn hầu hết trí thức Tây học chỉ chờ cơ hội là bùng phát một cách mạnh mẽ. Đây có thể nói là một ý kiến hết sức thuyết phục về một giai đoạn hội họa với nhiều thành tựu, mà nguyên nhân của nó cần được lý giải tường tận.

 

Trong tham luận Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20 nhìn từ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật [32], Cao Trọng Thềm cho rằng năm 1925 là điểm mốc để hội họa ViệtNam viết nên trang sử mới. Những họa sỹ xuất hiện ở giai đoạn này đã sản sinh ra nhiều tác phẩm đạt trình độ cao về nghệ thuật, điều đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình diễn biến của nền mỹ thuật Việt Nam sau này. Minh chứng cho điều này là những tác phẩm hội họa 1925 - 1945 vẫn là những tác phẩm có vai trò chủ đạo trong tranh trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

 

Trong tham luận Về bản sắc văn hóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỷ 20 [51] tại Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Nguyễn Đình Đăng nhận thấy sự ưu việt nhất của Trường Mỹ thuật Đông Dương là dạy cho người Việt Nam một quan niệm hoàn toàn mới về mỹ thuật theo quan niệm của mỹ thuật châu Âu.

 

 

 

 

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH HỘI HỌA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 – 1945

1.1. Cơ sở lý luận của đề tài

1.2. Tiền đề hình thành hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945

Tiểu kết

Chương 2: TIẾP THU VÀ BIẾN ĐỔI TRONG THỂ LOẠI, CHẤT LIỆU VÀ NGÔN NGỮ CỦA HỘI HỌA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 - 1945

2.1. Tiếp thu và biến đổi trong thể loại của hội họa Việt Nam giai đoạn1925 – 1945

2.2. Tiếp thu và biến đổi trong ngôn ngữ của hội họa Việt Nam giai đoạn1925 - 1945

2.3. Tiếp thu và biến đổi trong chất liệu của hội họa Việt Nam giai đoạn1925 - 1945

Tiểu kết

Chương 3: SỰ HÌNH THÀNH XU HưỚNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI HỌA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925 - 1945

3.1. Sự hình thành xu hướng của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 -1945

3.2. Đặc điểm của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 – 1945

Tiểu kết

Chương 4: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ CỦA HỘI HỌA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1925-1945 VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO MỸ THUẬT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

4.1. Thành tựu và hạn chế của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945

4.2. Bài học kinh nghiệm cho mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Tiểu kết

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NCKH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

 

 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NCKH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1. Nguyễn Văn Cường (2011), “Tính dân tộc trong hội họa Việt Nam giai đoạn 1925-1945”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật (326), tr. 37.

2. Nguyễn Văn Cường (2016), “Hiện thực – một xu hướng chủ đạo của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 – 1945”, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa (15), tr. 49.

3. Nguyễn Văn Cường (2016), “Lãng mạn và hiện thực – Hai xu hướng chru đạo của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925-1945”, Tạp chí Giáo dục Nghệ thuật (17), tr. 51.

4. Nguyễn Văn Cường (2016), “Sự tiếp biến văn hóa qua hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 – 1945”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (383), tr. 49.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (1992), Việt Nam văn hóa sử cương (tái bản), Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

3. Toan Ánh (1992), Nếp cũ làng xóm Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Nguyễn Lương Tiểu Bạch (2005), Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Viện Mỹ thuật – Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam.

5. Trần Lâm Biền (2000), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa dân tộc, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

6. Phan Kế Bính (2003), Việt Nam phong tục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

7. Bộ Văn hóa Thông tin (1998), Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa cơ sở ở nông thôn hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

8. Trần Duy Cảm (2005), Luận nghệ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

9. Phạm Thị Chỉnh (2005), Giáo trình lịch sử mỹ thuật Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

10. Phạm Thị Chỉnh (2006), Giáo trình mỹ thuật học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

11. Trần Khánh Chương (2012), Mỹ thuật Hà Nội thế kỷ 20, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

12. Nguyễn Văn Cương (2006), Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa – Thông tin.

13. Nguyễn Văn Cương (2010), “Diễn trình mỹ thuật Việt Nam qua một số kiệt tác tiêu biểu”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (số 6), tr50-tr56

14. Cythia Freeland (2009), “Thế mà là nghệ thuật ư?”, Nxb Tri thức, Hà Nội.

15. Lê Đạt (1976), Tư duy thị giác, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

16. David Pier (1997), Lịch sử nghệ thuật, Lê Thanh Lộc dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội. 150

17. David Piper (1997), Thưởng ngoạn hội họa, Lê Thanh Lộc dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

18. Phan Đại Doãn (2000), Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế-xã hội-văn hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

19. Phạm Đức Dương (2002), Từ văn hóa đến văn hóa học, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

20. Triều Dương (2001), Trần Văn Cẩn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

21. Trần Duy (2002), Cảm luận nghệ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

22. Trần Duy (2008), Suy nghĩ về nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

23. Nguyễn Kiên Giang (2007), Trí tuệ và xúc cảm, Nxb Lao động, Hà Nội.

24. Trần Văn Giàu (1963), Lịch sử cận đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

25. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

26. Lê Như Hoa (2003), Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong lối sống hiện đại, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

27. Lê Như Hoa (Chủ biên, 1997), Bản lĩnh văn hóa Việt Nam một hướng tiếp cận, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

28. Nguyễn Phi Hoanh (1984), Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh.

29. Nguyễn Phi Hoanh (1993), Mỹ thuật và nghệ sỹ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

30. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1998), Giáo trình Trung cấp Chính trị, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

31. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2000), Giáo trình Mỹ học Mac – Lenin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

32. Hội Mỹ thuật Việt Nam (2009), Những vấn đề mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

33. Hội mỹ thuật Việt Nam (2011), Hội họa sơn dầu Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội. 151

34. Hội mỹ thuật Việt Nam (2012), Hội họa sơn mài Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

35. Hội mỹ thuật Việt Nam (2014), Nữ nghệ sỹ tạo hình Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

36. Đỗ Xuân Hợp (2008), Các chuẩn nghệ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

37. Tô Duy Hợp (1997), Xã hội học nông thôn – tài liệu tham khảo nước ngoài, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

38. Tô Duy Hợp (2000), Phát triển cộng đồng – lý thuyết và vận dụng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

39. Khương Huân (2008), Họa sỹ Tô Ngọc Vân đường đi đến cái đẹp cho đời, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

40. Nguyễn Văn Huyên (2005), Văn minh Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

41. Nguyễn Thừa Hỷ (Chủ biên, 2012), Tuyển tập tư liệu Phương Tây, Nxb Hà Nội.

42. Jonhn Boardman (1997), Lịch sử mỹ thuật cổ điển, Nxb Đại học Oxford.

43. Trương Cam Khải, Phạm Cao Hoàn (2005), Tổng quan nghệ thuật Phương Đông-nghệ thuật Trung Hoa, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

44. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội.

45. Lê Thành Khôi (1982), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến năm 1958, Nxb Thế giới, Hà Nội.

46. Huyền Kiêu (1962), “Chất liệu lụa độc đáo trong tranh của họa sỹ Nguyễn Phan Chánh”, Tạp chí Văn học (số 8), tr12-tr16.

47. Trần Trọng Kim (Tái bản 2010), Việt Nam sử lược, Nxb Thời đại, Hà Nội

48. Kỷ yếu hội thảo (1988), Bản sắc dân tộc trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

49. Kỷ yếu hội thảo (2009), Những vấn đề mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

50. Kỷ yếu hội thảo (2010), Đại học Mỹ thuật Việt Nam bước vào thế kỷ 21, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 152

51. Kỷ yếu hội thảo (2010), Về bản sắc văn hóa Hà Nội trong văn học nghệ thuật thế kỷ 20, Nxb Tri thức, Hà Nội.

52. Nguyễn Thái Lai (2002), Làng tranh Đông Hồ, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

53. Đinh Xuân Lâm (2004), Tạp chí cộng sản tháng 2 – 2004 (số 13), tr36-tr40.

54. Hoài Lam (1998), Nguyên lý Mỹ học Mác-Lenin, Nxb Sự thật, Hà Nội.

55. Vũ Tự Lập (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

56. Thanh Lê (1999), Văn hóa và lối sống hành trang vào thế kỷ 21, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

57. Phạm Thanh Liêm (2009), Kỷ yếu hội thảo “Nói về chất liệu: Nền lụa vẽ Quang Phố”, Nxb Mỹ thuật, tr184-tr192.

58. Phạm Thanh Liêm (2007), “Tranh lụa một điểm nhấn trong nền mỹ thuật thế kỷ 20”, Tạp chí Mỹ thuật và Nhiếp ảnh (số 6), tr9-tr12.

59. Đặng Bích Ngân (2002), Từ điển thuật ngữ mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

60. Đặng Bích Ngân (2005), Nghệ thuật là gì? Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

61. Nguyễn Quang Ngọc (1998), Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

62. Nguyễn Quang Ngọc (1998), Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

63. Phan Ngọc (2000), Một cách tiếp cận văn hóa, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

64. Văn Ngọc (2004), Đi trong thế giới hội họa, Nxb Trẻ, Hà Nội.

65. Nguyễn Tri Nguyên (2000), Văn hóa tiếp cận từ vấn đề và hiện tượng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

66. Nhiều tác giả (1992), Nghiên cứu mỹ thuật, Viện Mỹ thuật, Hà Nội.

67. Nhiều tác giả (1993), Almanachư Những nền văn minh thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội. 153

68. Nhiều tác giả (1998), Hỏi đáp về văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

69. Nhiều tác giả (2008), Trước hết là giá trị con người, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

70. Đinh Ninh (2004), Lịch sử nghệ thuật Phương Tây, Nxb Đại học Bắc Kinh.

71. Nguyễn Khắc Phê (1997), Nguyễn Khắc Phê-Cuộc đời và sự nghiệp giáo dục , Nxb Giáo dục, Hà Nội.

72. Pierre Gourou (2003), Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (bản dịch), Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Trường Viễn Đông Bắc cổ, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.

73. Nguyễn Quân (1986), Tiếng nói của hình và sắc, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

74. Nguyễn Quân (2010), Mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20, Nxb Tri thức, Hà Nội.

75. Hà Văn Tấn (1967), Vấn đề phân chia các thời kỳ và các giai đoạn lịch sử, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

76. Hoài Thanh, Hoài Chân (1997), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.

77. Trần Ngọc Thêm (1999), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

78. Trần Ngọc Thêm (1999), Trên đường tìm về bản sắc văn hóa dân tộc (tái bản), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

79. Phan Cẩm Thượng (2008), Nghệ thuật ngày thường, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

80. Đỗ Lai Thúy (2006), Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

81. Thùy Trang (2009), Văn hóa làng xã, Nxb Thời đại, Hà Nội.

82. Trịnh Ngọc Quỳnh Trang (luận văn thạc sỹ), Đối thoại giữa hội họa Việt Nam và hội họa Pháp, Đại học Ngoại ngữ-Đại học Quốc gia Hà Nội.

83. Vũ Từ Trang (2007), Nghề cổ đất Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

84. Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội (1985), Một số vấn đề về mỹ thuật, Nxb Văn hóa, Hà Nội. 154

85. Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (2008), Nghệ thuật Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

86. Diệp Đình Tú (1995), “Nghệ thuật đang đặt ra vấn đề gì?”, Tạp chí nghiên cứu nghệ thuật (số 8), tr7-tr11.

87. Nguyệt Tú (1979), Họa sỹ Nguyễn Phan Chánh, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

88. Đặng Bá Tuệ (2003), Giáo trình lịch sử nghệ thuật Phương Đông, Nxb Giáo dục cao đẳng Bắc Kinh.

89. Đặng Bá Tuệ (2005), Lịch sử mỹ thuật Châu Á, Nxb Mỹ thuật Quảng Tây.

90. Nguyễn Văn Tỵ (2008), Tranh lụa và hội họa Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

91. Thái Bá Vân (1990), Tiếp xúc với nghệ thuật, (Tài liệu của Viện nghiên cứu mỹ thuật).

92. Thái Bá Vân (2008), Hai lần thay đổi mô hình thẩm mỹ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

93. Viện Mỹ thuật (2000), Kỷ yếu hội thảo mỹ thuật Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội.

94. Viện sử học (1990), Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

95. Hoàng Vinh chủ biên (1999), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay, Viện Văn hóa và Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

96. Huỳnh Khái Vinh chủ biên (1998), Một số vấn đề về lý luận văn hóa trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

97. Trần Quốc Vượng, Đinh Xuân Lâm chủ biên (1997), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục.

98. Trần Quốc Vượng chủ biên (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia.

99. Trần Quốc Vượng chủ biên (1998), Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

100. Trần Quốc Vượng chủ biên (2000), Văn hóa Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

101. Xavier Baral I Altes (2000), Lịch sử nghệ thuật, Nxb Thế giới, Hà Nội. 155

 

 

Keywords: dai hoc van hoa ha noi,luan an tien si,hoi hoa viet nam giai doan 1925 1945 nhin tu goc do van hoa,nguyen van cuong,pgsts nguyen van cuong,ts nguyen long tuyen

TT Tên file Ấn hành Tác giả Thông số Tải về Dạng File Giá Down
1 hoi hoa viet nam giai doan 1925 – 1945 nhin tu goc do van hoa DHVH HN NguyenVanCuong 191 Trang Download file hội họa việt nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa 1511
Khu vực quy định Bản quyền tài liệu và chất lượng tài liệu Khu vực quy định Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN


Thư Viện Thi Online Hỏi đáp Luật Pháp

hội họa việt nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa

hội họa việt nam giai đoạn 1925 – 1945 nhìn từ góc độ văn hóa

Hướng dẫn download tài liệu trên trang AMBN