Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS

09.63.68.69.68

Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm

09.63.63.63.15

Mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 612
Hôm nay52331
Hôm qua 79001
Trong tháng 303466
Tháng trước4106357
Số lượt truy cập: 184864385
MỤC LIÊN QUAN
Từ ngày: Đến ngày:

Chia sẻ hướng dẫn phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội

hướng dẫn phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội


View:11498 Ngày: Người up:

Nghị luận xã hội là một vấn đề rất được quan tâm ở nhà trường THPT hiện nay. Việc đưakiểu bài nghị luận xã hội trở thành một nội dung trong các bài thi, bài kiểm tra ở các khối lớp là một chủ trương đúng đắn. Bởi trang bị cho các em kiến thức về xã hội là vô cùng cần thiết. Mục tiêu cụ thể của ngành khi đưa kiểu bài này vào gắn với việc đổi mới mục tiêu môn Văn. Học văn, các em không chỉ biết tác phẩm,...


MỘT SỐ ĐỀ VỀ VĂN HỌC NGHỊ LUẬN XÃ HỘI - HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP VÀ DÀN Ý LÀM BÀI

 

  I. MỘT SỐ ĐỀ THI PHẦN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

 Đề 1:  “Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” (Lép Tônxtôi). Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lý tưởng nói chung và trình bày lý tưởng riêng của mình.

 Đề 2: Bàn về đọc sách, nhất là đọc các tác phẩm văn học lớn, người xưa nói: “Tuổi trẻ đọc sách như nhìn trăng qua kẽ lá, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” (Dẫn theo “Lâm Ngữ Đường”, sống đẹp, Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB Sài Gòn, 1965). Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào?

 Đề 3: Hãy viết một bài văn bàn về vấn đề: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông hiện nay.

 Đề 4: Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng nghiện “game” trong giới trẻ hiện nay?

 Đề 5: Nhà tỉ phú B. Gates nói rằng: “Các bạn phải học để trả ơn cho đất nước, cho những gì mà đất nước đã đầu tư cho bạn”. Anh (chị) suy nghĩ gì về ý kiến trên? Bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?

 Đề 6: Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến (1.1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ, tuổi trẻ là mùa xuân của đất nước”. Anh (chị) hãy viết một bài văn ngắn trình bày quan điểm của mình về việc làm thế nào để phát huy tốt nhất thời vàng son của tuổi trẻ hiện nay?

 Đề 7: Suy nghĩ của anh (chị) về tài năng trẻ Việt Nam.

 Đề 8: Có ý kiến cho rằng "Cống hiến hết mình và hưởng thụ tối đa" là phương châm sống tích cực của con người hiện đại, luôn phù hợp với mọi hoàn cảnh. Em có đồng tình với ý kiến trên, hãy bày tỏ quan điểm của mình bằng một bài viết ngắn (600 từ). [Hướng dẫn]

 Đề 9: Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề mà tác giả Thân Nhân Trung đã nêu trong bài kí đề danh tiến sĩ năm 1442: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”.

 Đề 10: Hiện tượng lạnh lùng thiếu quan tâm lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người trong xã hội hiện tại. Hiện tượng đó gọi là “bệnh vô cảm”. [Hướng dẫn]

 Đề 11: Suy nghĩ của anh chị về câu nói của Nguyễn Bá Học: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. [Hướng dẫn ]

 Đề 12: Từ tác phẩm “Số phận con người” của nhà văn Sô-lô-khốp, hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về nghị lực của con người và tuổi trẻ của con người.

 Đề 13: Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không thy đ mày làm nên”. Từ câu tục ngữ này, hãy trình bày suy nghĩ của mình về vai trò của người thầy trong xã hội hiện nay. [Hướng dẫn]

 Đề 14: Từ việc học tác phẩm “Chiếc thuyn ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, hãy bàn về cách nhìn nhận cuộc sống và con người trong xã hội. [Hướng dẫn]

 Đề 15: Bày tỏ quan niệm sống của anh chị sau khi học vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.[Hướng dẫn]

Đề 15b: Hoặc có thể ra:Theo anh (chị) đoạn trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) đã góp phần phê phán những chuyện gì trong xã hội hiện nay.

 Đề 16: Trình bày suy nghĩ của mình về câu nói: “ trên đi, mi chuyn đu không có gì khó khăn nếu ước mơ ca mình đ ln”. [Hướng dẫn] .

 Đề 17: Trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến sau: “Mt người đã đánh mt nim tin vào bn thân thì chc chn s còn đánh mt thêm nhiu thc quý giá khác na. [Hướng dẫn].

 Đề 18: Giữa một vùng đất  khô cằn sỏi đá, cây hoa dại vẫn mọc lên và nở ra những chùm hoa thật rực rỡ. Trình bày suy nghĩ của anh chị về hiện tượng trên.[Hướng dẫn]

 Đề 19: Suy nghĩ của bạn về lời dạy của Đức Phật: “Giọt nước chỉ hòa vào biển cả mới không cạn mà thôi.[Hướng dẫn].

 Đề 20: Trình bày suy nghĩ của anh/ chị về bệnh thành tích – một căn bệnh gây tác hại không nhỏ đối với sự phát triển của xã hội ta hiện nay. [Hướng dẫn].

 Đề 21: Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) Trình bày suy nghĩ của anh chị về vấn đề bạo lực học đường hiện nay? [Hướng dẫn]

 Đề 22: Nhà văn Trung Quốc Lỗ Tấn đã từng viết : “ Ước mơ không phải là cái gì sẵn có, cũng không phải là cái gì không thể có”. Hãy viết một bài văn ngắn bàn luận về vấn đề trên. [Hướng dẫn]

 Đề 23: Phát biểu ý kiến của anh (chị) về nhận định : “Thất bại là mẹ thành công”. [Hướng dẫn].

 Đề 24: Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau, “Hỏi một câu chỉ dốt trong một lát. Không hỏi sẽ dốt suốt cuộc đời [Hướng dẫn].

 Đề 25: Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh, chị  về quan niệm của Domat: “Có ba điều để tạo nên hạnh phúc: đó là một thân thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn và một trái tim trong sạch.” [Hướng dẫn]

 Đề 26: Nêu suy nghĩ cùa anh (chị) về câu ngạn ngữ Hi Lạp: “Học vấn có những chùm rễ đắng cay, nhưng hoa quả lại ngọt ngào”. [Hướng dẫn]

 Đề 27: Nhà  văn Nam Cao có lần đã gửi gắm suy nghĩ của mình về hạnh phúc trong truyện ngắn của ông như sau:“Hạnh phúc là một cái chăn quá hẹp. Người này co thì người kia bị hở”. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan điểm trên của nhà văn Nam Cao. [Hướng dẫn]

 Đề 28: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau của Shakespeare: “Ước mong mà không kèm theo hành động thì dù hy vọng có cánh cũng không bao giờ bay tới mục đích”. [Hướng dẫn]

Đề 29: Nghị luận xã hội đề bài: Anh (chị) nghĩ gì về hiện tượng một số người chọn cách sống chỉ luôn ngồi trông chờ may mắn đến với mình? [Hướng dẫn]

Đề 30: Trình bày suy nghĩ  của anh, chị về hiện tượng nhiều học sinh đã vượt qua những trở lực của hoàn cảnh để có  mặt ở ngôi trường đại học mình yêu thích. [Hướng dẫn]

Đề 31: Từ tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), anh (chị) hãy bàn về  vai trò của gia đình trong đời sống mỗi con người . [Hướng dẫn].

Đề 32: "Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình”( Đời thừa- Nam Cao). Từ quan niệm trên, anh/ chị hãy viết một đoạn văn ngắn( 400 từ) trình bày suy nghĩ của  của mình về kẻ mạnh trong mối quan hệ giữa người với người. [Hướng dẫn]

Đề 33: Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến sau: “Trên mặt đất vốn làm gì có đường. Người ta đi mãi thì thành đường thôi”. (Lỗ Tấn)[Hướng dẫn]

Đề 34: Nhà văn J.W.Goethe viết “Một con người làm sao có thể nhận thức được chính mình? Đó không phải là việc của tư duy mà là của thực tiễn. Hãy ra sức thực hiện bổn phận của mình, lúc đó bạn lập tức hiểu được giá trị của mình”. Anh (chị) hiểu ý kiến trên như thế nào ? [Hướng dẫn]

Đề 35: Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói của A. Moravia: “Thành công là một cuộc hành trình chứ không phải là điểm đến”.[Hướng dẫn]

Đề 36: Anh ( chị) hãy bình luận câu nói sau : “Trong mắt người khác, bạn có thể thất bại vài ba lần; nhưng với bản thân bạn không được phép trở  nên mềm yếu, vì đấy là  sự thất bại thảm hại nhất” (Trích Lời cỏ cây – Bàn về thân phận con người trong cuộc đời, của nhà văn Márai Sádor người Hunggari) [Hướng dẫn]

Đề 37: Có người cho rằng: “Nếu cuộc đời là một bộ phim, tôi muốn là vai phụ xuất sắc nhất”. Anh (chị) có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy trình bày quan điểm của mình.

 

 

 II. PHÂN TÍCH DẠNG ĐỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

 1. Đối với đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:

- Luận điểm 1: Giải thích tư tưởng đạo lí cần bàn luận.

+ Luận cứ: Nghĩa đen (nghĩa tường minh).

                   Nghĩa bóng (nghĩa hàm ẩn)

                   Nghĩa cả câu.

- Luận điểm 2: Bình luận về tư tưởng đạo lí.

+ Luận cứ: Phần bình: Mặt đúng, mặt chưa đúng của tư tưởng đạo lí.

+ Luận cứ: Phần luận: Mở rộng vấn đề. (Thông thường là nêu những hiện tượng đi trái với tư tưởng đạo lí đang bàn luận).

- Luận điểm 3: Rút ra bài học cho bản thân.

 2. Đối với đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống:

- Luận điểm 1: Giới thiệu hiện tượng đời sống cần bàn luận: Nêu thực trạng

- Luận điểm 2: Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng.

- Luận điểm 3: Tìm hiểu hậu quả của hiện tượng.

- Luận điểm 4: Nêu giải pháp.

 3. Dạng bài Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học đã học:

Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống  (thường là một tư tưởng, đạo lí). Dạng đề này thường ít ra, điển hình như trong thời gian thi tốt nghiệp và đại học trong 10 năm qua, gần như ta không gặp. Nhưng điều đó không chứng tỏ rằng đó là một dạng đề không thể xuất hiện.

  4. Những lưu ý về luận điểm – Phương pháp lập luận:

-Lập luận Bác bỏ:

+ Bác bỏ là dùng lý lẽ và dẫn chứng để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc thiếu chính xác, từ đó nêu ý kiến đúng của mình để thuyết phục người nghe, người đọc. Người viết có thể bác bỏ một luận điểm, luận cứ hoặc cách lập luận bằng cách nêu tác hại, chỉ ra nguyên nhân hoặc phân tích những khía cạnh sai lệch, thiếu chính xác,…của luận điểm, luận cứ, lập luận ấy.

+ Thao tác lập luận bác bỏ vô cùng cần thiết. Bởi đáp án của một bài văn nghị luận xã hội thông thường luôn có phần bác bỏ những thói quen, cách sống, cách hiểu sai, những biểu hiện xáu cần phải ngăn chặn, loại bỏ… để giáo dục, khuyên răn con người. Trong quá trình làm bài văn nghị luận xã hội, học sinh thường không chú ý lắm đến phần yêu cầu này, dẫn đến bài văn thiếu ý, không mang tính giáo dục.

+ Khi bác bỏ một vấn đề cần xem xét vấn đề đó ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau, cần đặt bản thân mình vào trường, tình huống đó để có cảm nhận đầy đủ và bác bỏ vấn đề. Để thuyết phục người đọc, khi bác bỏ một vấn đề nào đó, người viết cần đưa ra lí do chính đáng, lí lẽ thuyết phục, dẫn chứng cụ thể, đồng thời phải đưa ra một đề xuất, một cách hiểu mới hợp lí hơn, đúng đắn hơn.

- Bình luận vấn đề:

Kiểu đề bình luận thường yêu cầu bình luận về một đoạn thơ ngắn, châm ngôn..lời thoại. Có thể hình dung, bình luận gồm hai thao tác: Bình và luận. Bình là chỉ ra cái hay, cái độc đáo của thơ, thể hiện những cảm nhận riêng của mình. Luận là bàn bạc, mở rộng vấn đề, nêu ý kiến chủ quan góp phần vào cách hiểu, cách cảm nhận một tác phẩm, đoạn thơ.

- Lập luận so sánh:

Là thao tác yêu cầu phải so sánh hai hay nhiều nội dung đoạn trích (ca dao, tục ngữ, châm ngôn, lời nói, đoạn đối thoại..) hay quan của các tác giả cùng chủ đề, của tác giả sống cùng thời. Thao tác này tương đối khó vì cần phải so sánh, đối chiếu cả về nội dung lẫn hình thức để xác định giá trị của từng tác giả, tác phẩm, điểm giống hay khác nhau giữa những chi tiết, hình ảnh trong câu thơ, ca dao, tục ngữ, câu văn, đoạn trích để qua đó người viết tìm ra điểm hay, hấp dẫn hoặc có cơ sở để giải thích ý nghĩa, giá trị mà đoạn trích, câu trích đó đem lại.

 

 III. PHÂN TÍCH LUẬN CỨ- TÌM DẪN CHỨNG

Bài làm thiếu dẫn chứng cụ thể cũng là một thiếu sót thường xuyên xảy ra trong các bài làm văn nghị luận xã hội của các em học sinh. Để chứng minh một cách thuyết phục cho các luận điểm của một bài văn nghị luận xã hội, người viết phải sử dụng các dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu về những người thật, việc thật. Đây là một công việc vô cùng khó khăn đối với học sinh, bởi vì vốn hiểu biết về thực tế xã hội của các em còn quá ít. Để có thể có những hiểu biết nhất định về thời sự, về các vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng của đất nước, đặc biệt là các vấn đề đang được đưa ra bàn luận, từ đó tích lũy thành những dẫn chứng cụ thể để đưa vào bài làm của mình, học sinh cần tích lũy từ nhiều kênh thông tin khác nhau như báo chí, truyền hình, internet.

các tư liệu về đời sống thực tế phải được các em tích lũy dần dần trong cuộc sống của mình, tuy nhiên trong thời gian luyện thi, các em cần thu thập thông tin bằng cách ghi chép tổng hợp vào sổ tư liệu của mình. Sau đó cần phân loại theo chủ đề, nhóm đề bài để dễ học, dễ nhớ. Vẫn biết là đề tài của nghị luận xã hội vô cùng phong phú, học sinh tuyệt đối không học tủ, học mò, đoán đề, nhưng trong quá trình ôn tập, các em vẫn phải học và nắm được những thông tin tư liệu cơ bản nhất liên quan đến đời sống hiện tại, để các em có thể vận dụng được trong trường hợp đề bài lạ, chưa được giáo viên ôn tập qua. Thông thường là những tư liệu về tấm gương người tốt việc tốt, hay tư liệu về những hiện tượng xấu trong xã hội, liên quan đến những vấn đề nóng bỏng trong đời sống hiện nay. Điều đặc biệt chú ý là học sinh phải nhớ được tên cụ thể của con người hay hiện tượng đưa ra làm dẫn chứng, tránh việc đưa dẫn chứng chung kiểu như: con người, các bạn học sinh, trường em, lớp em..

 

  IV. HƯỚNG DẪN LẬP DÀN Ý CHO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN

 1. Chung nhất về dàn ý bài văn nghị luận xã hội:

Sau khi đã có các luận điểm và dẫn chứng, học sinh cần lập dàn bài để sắp xếp các luận điểm và luận cứ một cách chặt chẽ, hợp lí. Thông thường, khâu lập dàn bài vẫn là một trong những khâu mà học sinh bỏ qua. Rất nhiều em vừa đọc đề đã cắm đầu cắm cổ viết. Viết một thôi một hồi rồi lại tẩy xóa, viết lại. Cuối cùng bài làm văn cứ như đang làm nháp.

Lập dàn bài là cách tổ chức lập luận, lựa chọn, sắp xếp ý thành một hệ thống chặt chẽ và bao quát nội dung cơ bản của đề bài. Do đó, nếu bài làm có sự chuẩn bị dàn bài chắc chắn sẽ mang lại sự chủ động và tránh tẩy xóa cho học sinh. Lập dàn bài còn giúp học sinh tránh tình trạng bỏ sót ý, sắp xếp ý lộn xộn hoặc triển khai ý không cân xứng kiểu “đầu voi đuôi chuột”. Và như thế học sinh sẽ chủ động trong việc sắp xếp thời gian. Có thể nói trong một bài làm văn, khâu tìm luận điểm, lập dàn bài có thể chiếm đến 50% hiệu quả của nó.

Học sinh có thể lập dàn bài theo các bước sau:

  • Xác định các luận điểm: Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm. Đề bài có 1 ý thì các ý nhỏ hơn cụ thể của ý đó được xem là những luận điểm.
  • Tìm luận cứ cho các luận điểm: Mỗi luận điểm cần được cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏ hơn gọi là luận cứ. Số lượng ý nhỏ và cách triển khai tùy thuộc vào ý lớn.

Học sinh phải lập dàn bài gồm 3 phần như sau:

  • Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
  • Thân bài: Triển khai nội dung theo các ý nhỏ và ý lớn đã tìm.
  • Kết bài: Tổng kết nội dung đã trình bày, liên hệ, mở rộng, nâng cao vấn đề.

 2. Chi tiết dàn ý một bài văn nghị luận về tư tưởng – Đạo lí:

a. Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…)

- Giới thiệu về tư tưởng, đạo lí nêu ở đề bài (…)

- Trích dẫn ý kiến, nhận định (nếu có) (…)

b. Thân bài:

* Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (…). Tùy theo yêu cầu đề bài có thể có những cách giải thích khác nhau:

- Giải thích khái niệm, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

- Giải thích nghĩa đen của từ ngữ, rồi suy luận ra nghĩa bóng, trên cơ sở đó giải thích ý nghĩa, nội dung vấn đề.

- Giải thích mệnh đề, hình ảnh trong câu nói, trên cơ sở đó xác định nội dung, ý nghĩa của vấn đề mà câu nói đề cập.

* Phân tích và chứng minh những mặt đúng của tư tưởng , đạo lí cần bàn luận (…) Bản chất của thao tác này là giảng giải nghĩa lí của vấn đề được đặt ra để làm sáng tỏ tới cùng bản chất của vấn đề. Phần này thực chất là trả lời câu hỏi: Tại sao? (Vì sao?) Vấn đề được biểu hiện như thế nào?

* Phê phán, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề đang bàn luận (…)

* Bình luận, đánh giá (bàn bạc, mở rộng, đề xuất ý kiến…):

- Đánh giá vấn đề: Nêu ý nghĩa của vấn đề,  mức độ đúng – sai, đóng góp – hạn chế của vấn đề.

- Từ sự đánh giá trên, rút ra bài học kinh nghiệm trong cuộc sống cũng như trong học tập, trong nhận thức cũng như trong tư tưởng, tình cảm…

- Đề xuất phương châm đúng đắn…

c. Kết bài:

- Khẳng định chung về tư tưởng, đạo lí đã bàn luận ở thân bài (…)

- Lời nhắn gửi đến mọi người (…)

 

 3. Hướng dẫn chi tiết dàn ý bài Nghị luận về một hiện tượng đời sống:

a. Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…) để giới thiệu chung về những vấn đề có tính bức xúc mà xã hội ngày nay cần quan tâm.

- Giới thiệu vấn đề nghị luận đặt ra ở đề bài: hiện tượng đời sống mà đề bài đề cập…

b. Thân bài:

* Giới thiệu hiện tượng đời sống được nêu ở đề bài (…). Có thể nêu thêm hiểu biết của bản thân về hiện tượng đời sống đó (…). Lưu ý: Khi phản ánh thực trạng, cần đưa ra những thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ mới tạo được sức thuyết phục.

- Tình hình, thực trạng trên thế giới (…)

- Tình hình, thực trạng trong nước (…)

- Tình hình, thực trạng ở địa phương (…)

* Phân tích và bình luận những nguyên nhân – tác hại của hiện tượng đời sống đã nêu ở trên:

- Hậu quả, tác hại của hiện tượng đời sống đó:

+ Hậu quả, tác hại đối với cộng đồng, xã hội (…)

+ Hậu quả, tác hại đối với cá nhân mỗi người (…)

- Nguyên nhân:

+ Nguyên nhân khách quan (…)

+ Nguyên nhân chủ quan (…)

* Phê phán, bác bỏ một số quan niệm và nhận thức sai lầm có liên quan đến hiện tượng bàn luận (…).

* Đề xuất những giải pháp: Lưu ý. Cần dựa vào nguyên nhân để tìm ra những giải pháp khắc phục.

- Về phía cơ quan chức năng (…)

- Về phía mỗi cá nhân (…)

c. Kết bài:

- Khẳng định chung về hiện tượng đời sống đã bàn (…)

- Lời nhắn gửi đến tất cả mọi người (…)

 4. Nghị lun v mt vn đ xã hi đt ra t tác phm văn hc đã học:

Lưu ý là Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học là kiểu bài nghị luận xã hội , không phải là kiểu bài nghị luận văn học. Cần tránh tình trạng làm lạc đề sang nghị luận văn học. Vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học có thể là một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đời sống  (thường là một tư tưởng, đạo lí). Dàn ý:

a. Mở bài:

- Dẫn dắt vào đề (…)

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề xã hội mà tác phẩm nêu ở đề bài đặt ra (…)

- Trích dẫn câu thơ, câu văn hoặc đoạn văn, đoạn thơ nếu đề bài có nêu ra (…)

 b. Thân bài:

* Phần phụ: Giải thích và rút ra vấn đề xã hội đã được đặt ra từ tác phẩm (…)

Lưu ý: Phần này chỉ giải thích, phân tích một cách khái quát và cuối cùng phải chốt lại thành một luận đề ngắn gọn.

* Phần trọng tâm: Thực hiện trình tự các thao tác nghị luận tương tự như ở bài văn nghị luận về tư tưởng đạo lí hoặc nghị luận về hiện tượng đời sống như đã nêu ở trên (…)

Lưu ý: Khi từ “phần phụ” chuyển sang “phần trọng tâm” cần phải có những câu văn “chuyển ý” thật ấn tượng và phù hợp để bài làm được logic, mạch lạc, chặt chẽ.

 c. Kết bài:

- Khẳng định chung về ý nghĩa xã hội mà tác phẩm văn học đã nêu ra (…)

- Lời nhắn gửi đến tất cả mọi người (…).

 

--------------------------------------------

1. Giới hạn đề thi môn lịch sử đại học cao đẳng 2014

2. Giới hạn đề thi môn địa lý cao đẳng đại học 2014

3. Giới hạn đề thi môn ngữ văn khối C-D năm  2014

BÌNH LUẬN
LIÊN HỆ
CÙNG ĐỀ MỤC
Viết Lời Bình về hướng dẫn phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội




   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting


Tin Tức Hỏi đáp Thư Viện Luật Pháp

hướng dẫn phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội

hướng dẫn phương pháp làm bài văn nghị luận xã hội

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting