Hõ trợ trực tuyến
Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS Nhất Đại Thánh Sư -Tư Vấn Luận Án TS

09.63.68.69.68

Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm Nhận hồ sơ Tuyển sinh CĐ-ĐH Y Dược-Sư Phạm

09.63.63.63.15

Mục quảng cáo
Thống kê truy cập
Đang Online: 1258
Hôm nay42737
Hôm qua 154144
Trong tháng 1873743
Tháng trước4372452
Số lượt truy cập: 152944350
MỤC LIÊN QUAN
Từ ngày: Đến ngày:

Chia sẻ đặc điểm lâm sàng polyp trực tràng, đại tràng sigma ở trẻ em

đặc điểm lâm sàng polyp trực tràng, đại tràng sigma ở trẻ em


View:1886 Ngày: Người up:

Polyp đường tiêu hoá là một bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em chiếm tỷ lệ từ 1% - 3,7%.Bệnh thường gặp nhất ở lứa tuổi dưới 10,chủ yếu là từ 2 đến 5 tuổi.


ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

POLYP TRỰC TRÀNG, ĐẠI TRÀNG SIGMA Ở TRẺ EM

 

 

BSCKII.Nguyễn Thái Hưng,TS.BS.Trần Kiêm Hảo

 

 

TÓM TẮT

 

Polyp đường tiêu hoá là một bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em chiếm tỷ lệ từ 1% - 3,7%.Bệnh thường gặp nhất ở lứa tuổi dưới 10,chủ yếu là từ 2 đến 5 tuổi.

 Mục tiêu: Mô tả các đặc điểm lâm sàng của polyp trực tràng,đại tràng sigma ở trẻ em.

Đối tượng,phương pháp: Bao gồm 42 bệnh nhân được phát hiện có polyp trên nội soi trực tràng,đại tràng sigma bằng ống soi mềm và mô bệnh học phù hợp polyp.Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang và tiến cứu,xác định các triệu chứng cơ năng và qua thăm khám trực tràng phát hiện polype.

Kết quả: Polyp trực tràng và đại tràng sigma ở trẻ em thường xảy ra 10 năm đầu đời của trẻ,đặc biệt từ lứa tuổi 2 - < 5 tuổi chiếm 61,9%,tỷ lệ nam/nữ = 1,5.Sự khác biệt về giới không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).Triệu chứng quan trọng nhất là đi cầu ra máu gián đoạn chiếm 95,2%,táo bón 28,4%,phân nhầy mũi 14,2%,đau bụng 7,1%,sa polyp hậu môn 4,7%.6,6% polyp có thể sờ được khi thăm khám trực tràng.

 Kết luận: Polyp trực tràng,đại tràng sigma thường có biểu hiện lâm sàng không điển hình.Chỉ định nội soi đại trực tràng tất cả các trường hợp đi cầu ra máu tái diễn giúp chẩn đoán sớm polyp trực tràng,đại tràng ở trẻ em.

Từ khóa: Polyp,đi cầu ra máu

 

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Polyp đường tiêu hoá là một bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em chiếm tỷ lệ từ 1% - 3,7% [2].Bệnh thường gặp nhất ở lứa tuổi dưới 10,chủ yếu là từ 2 đến 5 tuổi [5].

Về mặt phân bố giải phẫu thì polyp ở trực tràng và đại tràng sigma chiếm đa số [4],hay gặp là loại polyp thiếu niên đơn độc 97% [13].

Polyp trực tràng,đại tràng xích ma thường có biểu hiện lâm sàng không điển hình như chỉ đi cầu ra máu [8],hoặc có những rối loạn tiêu hoá từng đợt kéo dài hàng tháng,hàng năm,làm chẩn đoán và điều trị thường chậm,gây hậu quả thiếu máu kéo dài,ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ của trẻ kể cả về thể chất lẫn tinh thần.Về lâu dài,nếu không được điều trị triệt để sẽ có nguy cơ ung thư hoá [10].

Ngày nay với sự ra đời của nội soi ống mềm,việc chẩn đoán polyp đường tiêu hoá ngày càng kịp thời và chính xác hơn [8].Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu: mô tả một số đặc điểm lâm sàng của polyp trực tràng,đại tràng sigma ở trẻ em.

 

2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 

2.1.Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm 42 bệnh nhân trong độ tuổi từ 2 tuổi đến 15 tuổi vào điều trị tại Khoa Nhi Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011.

Tiêu chuẩn chọn bệnh:

Những bệnh nhân được phát hiện có polyp trên nội soi trực tràng,đại tràng sigma bằng ống soi mềm và mô bệnh học phù hợp polyp.

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Có các thương tổn niêm mạc khác ở trực tràng và đại tràng sigma

- Bệnh nhân không hợp tác.

- Có các chống chỉ định nội soi: rối loạn đông máu,suy tim,suy hô hấp.

2.2.Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang và tiến cứu.

Phương pháp thu thập số liệu:

- Đặc điểm chung: Tuổi,giới,địa dư.

- Tiền sử: Có đi cầu ra máu tươi từng đợt hay không? Những bệnh lý đã mắc.Điều trị nội khoa trước khi phát hiện ra polyp.

- Đặc điểm lâm sàng:Toàn trạng,đi cầu ra máu,táo bón,đau bụng,sa polyp hậu môn.

- Khám trực tràng: Sờ thấy polyp

Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê Y học,ứng dụng phần mềm SPSS 19.

 

3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1.Đặc điểm dịch tễ học

Bảng 3.1.Phân bố theo tuổi

 

Tuổi

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

2 - <5

26

61,9

5 - <10

12

28,5

10- 15

4

9,6

Tổng cộng

42

100

 

 

Nhận xét: Lứa tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 2 - <5 tuổi: 61,9%.

 

 

Bảng 3.2.Phân bố theo giới

 

Giới

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Nam

25

59,5

Nữ

17

40,5

Tổng cộng

42

100

 

 

Nhận xét: Nam mắc (59,5%),nữ (40,5%),với tỷ lệ: nam/nữ =1,5.Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

 

Bảng 3.3.Phân bố theo địa dư

 

Địa dư

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Thành thị

20

47,6

Nông thôn

12

28,6

Tỉnh khác

10

23,8

Tổng cộng

42

100

 

 

Nhận xét: 47,6% trẻ ở thành thị,28,5% trẻ ở nông thôn.Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

 

3.2.Đặc điểm lâm sàng

Bảng 3.4.Thời gian phát bệnh đến khi được điều trị

 

Thời gian phát bệnh (Tháng)

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

<2

01

2,3

2- 6

28

66,7

7-12

10

23,7

>12

03

7,3

Tổng Cộng

42

100

 

 

Nhận xét: 66,7% bệnh nhi phát hiện được polyp trong khoảng từ 2 tháng đến 6 tháng.Sớm nhất là 1 tháng,muộn nhất là 16 tháng.

Bảng 3.5.Triệu chứng lâm sàng

 

Triệu chứng

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Đi cầu máu gián đoạn

40

95,2

Phân nhầy mũi

6

14,2

Đau bụng

3

7,1

Táo bón

12

28,4

Sa polyp hậu môn

2

4,7

 

 

Nhận xét: Đi cầu ra máu gián đoạn chiếm 95,2%.Táo bón 28,4%

Bảng 3.6.Thăm khám trực tràng

 

Kết quả khám trực tràng

Số bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Sờ được polyp

7

16,6

Không sờ được polyp

35

83,4

Tổng cộng

42

100

 

 

Nhận xét: 83,4% polyp trực tràng không sờ được,16,6% polyp trực tràng sờ được qua thăm khám trực tràng.

 

4.BÀN LUẬN

 

4.1.Đặc điểm dịch tễ học

Polyp đường tiêu hoá ở trẻ em chiếm khoảng 1% - 3,7% [2],[5],[16].Tỷ lệ mắc polyp đại trực tràng ở trẻ em chưa có công trình nào nghiên cứu điều tra một cách có hệ thống.Một số tác giả cho rằng polyp đại trực tràng ở trẻ em chủ yếu là loại polyp thiếu niên,polyp tuyến ở trẻ em thì tương đối hiếm.Tỷ lệ mắc polyp thiếu niên đại trực tràng trẻ em theo Dajani và Kamal [13] là 1,4% trong đó có 2,8% gặp ở lứa tuổi dưới 10 tuổi.Nghiên cứu của Finlay A.Macral cho thấy khoảng 1% trẻ em trong nhóm tuổi từ 4 đến 14 tuổi mắc polyp thiếu niên bao gồm polyp thiếu niên đơn độc và bệnh polyp thiếu niên.

Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu trên lâm sàng,nhưng chưa thấy một báo cáo nào về tỷ lệ mắc polyp đại trực tràng của trẻ em ở trong cộng đồng.

Đa số trẻ em có polyp ở đại trực tràng thường xảy ra trong mười năm đầu đời sống của trẻ,cũng hiếm gặp ở trẻ dưới 1 tuổi [2].Trong nghiên cứu của KoFy [14] và Nguyễn Ngọc Khánh [3],lứa tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất là 2 đến 10 tuổi,một số tác giả khác như Rouskova B [15],Ukarapol U,Waitayakul S cho thấy tuổi trung bình mắc polyp đại trực tràng là 4,8 tuổi đến 6,5 tuổi,tuổi nhỏ nhất là 6 tháng.

Trong nghiên cứu của chúng tôi không gặp một trường hợp nào dưới 1 tuổi,tuổi mắc bệnh thấp nhất của chúng tôi là 2 tuổi,cao nhất là 15 tuổi.Nhóm tuổi mắc polyp trực đại tràng sigma cao nhất là 2 đến 5 tuổi chiếm tỷ lệ 61,9% (Bảng 3.1) tương đương với các nghiên cứu Ngyễn Ngọc Khánh và Ukarapol U.

Về giới,nhiều tác giả [6] cho rằng,có sự trội hơn không đáng kể về giới giữa nam và nữ,tỷ lệ này thay đổi từ 1,4 (Kofy) [14] đến 3,1.Trong số liệu nghiên cứu của chúng tôi,tỷ lệ nam/nữ là 1,5 (Bảng 3.2) không có khác biệt với nghiên cứu Kofy và Phạm Đức Lễ [4].

Về mặt địa lý,trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.3) có sự chênh lệch rõ rệt giữa trẻ mắc polyp ở thành thị (47,6%) và nông thôn (28,5%),Ở nghiên cứu của Đinh Đức Anh cũng cho thấy có sự chênh lệch với thành thị 72% và nông thôn 28% [1].Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).

Trong cơ chế bệnh sinh,nhiều giả thuyết được đưa ra và cho rằng sự hình thành polyp có liên quan đến yếu tố môi trường,chế độ dinh dưỡng và chính những điều kiện khác biệt đó có lẽ một phần nào giải thích được tỷ lệ chênh lệch nói trên.

 

4.2.Đặc điểm lâm sàng

Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước [4],[14] cho thấy rằng triệu chứng nổi bật của polyp đại trực tràng là đi cầu phân có máu,triệu chứng này có tần suất xuất hiện với 90% các trường hợp có polyp đại trực tràng.Trong báo cáo của Waitayaku -S và Poddar-U có từ 97,7% đến 98,7% trẻ bị polyp đại trực tràng có đi cầu phân máu.Các báo cáo trong nước [6] cũng gặp triệu chứng đi cầu phân có máu ở bệnh nhi có polyp đại trực tràng từ 94,2% đến 97,1%.Đặc điểm của đi cầu phân có máu và gián đoạn cũng được một số tác giả báo cáo,tỷ lệ này trong nghiên cứu của Phạm Đức Lễ (93,6%) [4],của Mandhan P (98%).Trong số liệu nghiên cứu của chúng tôi triệu chứng đi cầu phân máu gián đoạn là 95,2% (Bảng 3.4) tương đương với các nghiên cứu Phạm Đức Lễ [4] và Elkhayat HA,thấp hơn báo cáo của Mandhan-P.

Đi cầu ra máu gián đoạn với phân có máu tươi,giọt,số lượng ít,toàn trạng không bị ảnh hưởng,triệu chứng này có thể tự mất đi trong một thời gian nhất định nào đó.Do đó khi trẻ có triệu chứng đi cầu phân có máu người nhà phải đưa trẻ đi khám và được dùng thuốc điều trị nội khoa,triệu chứng này sẽ mất đi một cách trùng hợp với quá trình điều trị,vì vậy đa số trẻ có tiền sử được điều trị nội khoa có ít nhất một đến vài lần.Nghiên cứu của Lê Quang Liêm [6] cho thấy có ít nhất từ 1 đến 3 lần điều trị nội khoa trước khi trẻ được chẩn đoán có polyp,còn trong nghiên cứu của chúng tôi có đến 88% được điều trị nội khoa trước khi được chẩn đoán có polyp (Bảng 3.4).

Cũng chính việc điều trị bệnh nhiều lần như thế và cũng do tính chất gián đoạn của bệnh làm cho bệnh nhân bị phát hiện muộn hơn.Theo nghiên cứu của Poddar U và Parkash thời gian từ khi trẻ có triệu chứng đi cầu phân máu đầu tiên cho đến khi được chẩn đoán thường là từ 5,6 tháng đến 14 tháng,còn theo các nghiên cứu trong nước,báo cáo của Trần văn Quang [9] cho thấy có khoảng 89,7% trường hợp có polyp đại trực tràng được phát hiện trong khoảng thời gian từ 2 tháng đến 6 tháng,có rất ít,khoảng 3,3% trẻ được phát hiện trước 1 tháng.Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là 66,7% được phát hiện trong thời gian từ 2 tháng đến 6 tháng,23,8% có thời gian bệnh là từ 7 tháng đến 12 tháng,chỉ 2,3% được phát hiện sớm trước 1 tháng (Bảng 3.5).Điều này cho thấy rằng bệnh thường được phát hiện muộn và chỉ khi người thầy thuốc cảm nghĩ đến polyp đại trực tràng khi một đứa trẻ có đi cầu phân máu tươi nhỏ giọt,gián đoạn trước khi cho chẩn đoán khác,nếu được chẩn đoán sớm sẽ giảm đi sự ảnh hưởng về sức khoẻ của trẻ,cũng như đỡ tốn kém về thời gian và tiền bạc cho người bệnh.

Triệu chứng đi cầu phân nhầy mũi trong nghiên cứu của chúng tôi gặp 14,2% (Bảng 3.6) triệu chứng này cũng thường gặp trong các báo cáo như nghiên cứu của Lê Quang Liêm có đến 21,15%,Trần Văn Quang [9] gặp 12,8% và của Nguyễn Ngọc Khánh [3] là triệu chứng thường gặp và cũng là dấu chứng thứ 2 sau đi cầu phân máu.Theo nghiên cứu của Trần Văn Quang cho rằng tính chất đi cầu phân nhầy mũi gặp ở bệnh nhi có polyp ở gần hậu môn nên chúng kích thích và làm cho trẻ có cơn đau bụng,mót rặn trước khi đi cầu phân nhầy mũi.Chính vì những triệu chứng kích thích mót rặn,đau bụng kèm với đi cầu phân nhầy mũi đã làm cho người thầy thuốc chẩn đoán nhầm với hội chứng lỵ.Điều này góp phần một cách có ý nghĩa trong sai lệch về chẩn đoán và do đó bệnh nhi đã phải điều trị kéo dài trước khi có chẩn đoán xác định.

Táo bón ở bệnh nhi có polyp đại trực tràng là triệu chứng thường gặp trong các báo cáo như của Nguyễn Trần Thanh Long [7] tỷ lệ này là 30,8%,trong nghiên cứu của Lê Quang Liêm [6] được tìm thấy triệu chứng táo bón với tỷ lệ 30,76%.Trong số liệu của chúng tôi là 28,4% tương đương với 2 nghiên cứu trên.Tuy nhiên chúng tôi cũng thấy rằng triệu chứng này ít gặp hơn ở các nghiên cứu nước ngoài như trong nghiên cứu của tác giả Ukarapol N chỉ thấy có 6 trường hợp bị táo bón trong 32 bệnh nhi có polyp trực tràng.Phải chăng điều này có liên quan đến địa lý và chủng tộc.

Triệu chứng đau bụng chỉ chiếm 7,1% trong các trường hợp bị polyp đại trực tràng (Bảng 3.6).Triệu chứng này có những khác biệt nhau trong các báo cáo như trong nghiên cứu của Phạm Đức Lễ có đến 12,8%.Ngược lại một số tác giả khác như là Nguyễn Ngọc Khánh và Trần Văn Quang tỷ lệ này thì thấp chỉ chiếm từ 6,6% đến 6,9%.Các tác giả cho rằng cơn đau bụng thường gặp ở bệnh nhi có polyp được định vị ở đoạn đại tràng di động nhiều bên trên đại tràng sigma,nó thường kết hợp với polyp có cuống nhỏ và polyp không cuống.

Tỷ lệ đau bụng ở trong nghiện cứu của chúng tôi thường ít gặp hơn nghiên cứu của tác giả Phạm Đức Lễ.Theo giải thích trên thì tỷ lệ triệu chứng đau bụng trong nghiên cứu của chúng tôi thấp là phù hợp.

Sa polyp hậu môn là một dấu hiệu thường gặp trong các nghiên cứu [4] được diễn tả như một khối nhô ra ở hậu môn ví như một quả dâu tằm “màu đỏ anh đào” hoặc như “một miếng thịt”.Sa polyp hậu môn có tỷ lệ thay đổi từ 7,9% đến 47%.Trong nghiên cứu Phạm Đức Lễ [4] cho thấy tỷ lệ này là 10,6%,tác giả Trần Văn Quang [9] tìm thấy 7,89% còn Waitayaku S là 23,8%.Trong nghiên cứu của chúng tôi ít gặp hơn chiếm 4,7% (Bảng 3.6) điều này có lẽ do vấn đề theo dõi của người nhà không cung cấp đầy đủ những thông tin cho chúng tôi.

Thăm khám trực tràng là dấu hiệu cơ bản và là rất cần thiết trong việc phát hiện polyp ở trực tràng.Trong nghiên cứu của Lê Quang Liêm có 55,77% polyp ở trực tràng đươc sờ thấy qua thăm khám trực tràng.Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ này là 16,6% (Bảng 3.7) số trẻ em có polyp trực tràng được sờ thấy.Tỷ lệ của chúng tôi thấp hơn là do một số trẻ không hợp tác,mặt khác có lẻ chúng tôi chưa thăm khám trực tràng một cách tỷ mỷ hơn.

 

5.KẾT LUẬN

- Polyp trực tràng và đại tràng sigma ở trẻ em thường xảy ra 10 năm đầu đời của trẻ,đặc biệt từ lứa tuổi 2 - <5 tuổi chiếm 61,9%; tỷ lệ nam/nữ = 1,5.Không có khác biệt về giới tính (p>0,05).

- Triệu chứng quan trọng nhất là đi cầu ra máu gián đoạn chiếm 95,2%; táo bón 28,4%; phân nhầy mũi 14,2%; đau bụng 7,1%; sa polyp hậu môn 4,7%.

- 16,6% polyp có thể sờ được khi thăm khám trực tràng.

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.Đinh Đức Anh,Nguyễn Khánh Trạch,Lê Đình Roanh và cộng sự (2000),“Đặc điểm lâm sàng,nội soi,mô bệnh học,của polyp trực tràng,đại tràng xích - ma”,Y học thực hành,(5),tr.30-34.

2.Trần Phương Hạnh (1997),“Polyp ruột trẻ em”,Từ điển Diễn giải bệnh học,trường Đại Học Y Dược thành Hồ Chí Minh,tr.216-219.

3.Nguyễn Ngọc Khánh,Mai Thị Hội,Đỗ Đức Vân,"Điều trị cắt polyp đại trực tràng trẻ em bằng nội soi ống mềm",Y học Việt Nam,số 8/2001.

4.Phạm Đức Lễ,Võ Công Đồng,Nguyễn Đỗ Nguyên (2005),“Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng polyp đại trực tràng ở trẻ em tại Bệnh Viện Nhi Đồng I năm 2005”,Tạp chí Y Dược Học TP Hồ Chí Minh,tập 9,tr.190-195.

 5.Nguyễn Thanh Liêm (2000),“Bệnh đường tiêu hóa”,Phẫu thuật tiêu hóa trẻ em,NXB Y Học,tr.293 - 301.

 6.Lê Quang Liêm,Nguyễn Dung (2002),“Nghiên cứu một sô kết quả cắt polyp đại trực tràng trẻ em qua cắt đốt nội soi tại Bệnh Viện Trung Ương Huế”,Tạp chí Y học thực hành,(3),tr.57 -65.

7.Nguyễn Trần Thanh Long,Nguyễn Dung (2001),“Đánh giá kết quả cắt polyp đại trực tràng ở trẻ em qua cắt đốt nội soi tại Bệnh Viện Trung Ương Huế.” Tạp chí ngoại khoa,tập 4,tr.21- 23.

8.Nguyễn Thị Oanh (1999),“Nhận xét 100 trường hợp polyp đại tràng được nội soi bằng ống mềm”,Báo cáo khoa học,Hội nghị Tiêu hoá Hà Nội,tập 1,tr.200 - 253.

9.Trần Văn Quang,Nguyễn Thị Việt HahHà,Nguyễn Gia Khánh,Phan Thị Hiền (2006),“Đặc điểm lâm sàng và điều trị cắt polyp đại trực tràng ở trẻ em”,Báo cáo hội nghị nhi khoa toàn quốc,tập 14,tr.122-126.

10.Nguyễn Văn Vân (2000),“Bệnh polyp rải rác trực tràng,đại tràng,ung thư đại trực tràng",Phẫu thuật tiêu hóa,NXB Y Học,tr.28 - 36

 11.Cajucom C.C.,Barrios G.G.,Cruz L.,et al.(1992),Prevalence of colorectal polyps in Filipinos.An autopsy study,Dis Colon Rectum,Jul,35(7),pp.676-80.

 12.Coffi C.M.,Delner L.D.(1996),What is juvenile polyp ? An analysis based on 21 patients with solitary and multiple polyps,Arch Pathol Lab Med,Nov,120(11),pp.1032-8.

 13.Dajani Y.F.,Kamal M.F.(1984),Colorectal juvenile polyps: an epidemiological and histopathological study of 144 cases in Jordanian”,Histopathology,Sep,8(5),pp.765-79

 14.Ko F.Y.,Wu T.C.,Hwang B.,et al.(1995),Intestinal polyps in children and adolescents-a review of 103 cases,Zhonghua Min Guo Xiao Er Ke Yi Xue Hui Za Zhi,May,36(3),pp.197-02.

 15.Rouskova B.,Kuklova P.,Skaba R.,et al.(2006),Rates and histological characteristics of rectal polyps in childhood,Rozhl Chir,Oct,85(10),pp.501-3.

 16.Ulshen M.(1996),Tumor of the digestive tract,Text book of pediatric,15th edition,pp.1114 - 15.

 

REMARK ON CLINICAL FEATURES OF GASTROINTESTINAL POLYPS IN CHILDREN

 

ABSTRACT

Gastrointestinal polyps is a common disease in children account for 1% - 3.7%.The disease is most common in ages below 10,mostly from 2 to 5 years.Goal: Describe the clinical characteristics of rectal-sigma colon polyp in children.Object,method: Includes 42 patients with polyps detected on colonoscopy and appropriate histopathological polyp.Research Design: identify symptoms and function over rectal exam to detect polype.Result: the rectum and sigma colon polyps usually occurs in children 10 years old,particularly from ages 2 - < 5 years old accounted for 61,9%,the percentage of male / female = 1,5.The gender differences are not statistically significant (p> 0.05).The most important symptom is intermittent bowel bleeding accounts for 95,2%; constipation 28,4%; 14,2% classified nasal mucus,abdominal pain 7,1%; 4,7% sa anal polyp.6,6% of polyps that can be handled when the rectal exam.Conclusion: rectal-sigma colon polyps usually have clinical manifestations of atypical.Make colorectal scopy all cases may help early diagnosis of recurrence of colon polyps in children.

Keywords: Polyps,stool bleeding.

 

BÌNH LUẬN
LIÊN HỆ
CÙNG ĐỀ MỤC
Viết Lời Bình về đặc điểm lâm sàng polyp trực tràng, đại tràng sigma ở trẻ em




   
Khu vực quy định Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting


Tin Tức Hỏi đáp Thư Viện Luật Pháp

đặc điểm lâm sàng polyp trực tràng, đại tràng sigma ở trẻ em

đặc điểm lâm sàng polyp trực tràng, đại tràng sigma ở trẻ em

Quy định về việc bình luận của bạn- Guide: commenting